Craig Woodman
Số áo #3Defender
England
Câu lạc bộ hiện tại
Exeter City
Clubhouse
Thông tin chi tiết (Wikipedia)
Mùa giải 2023–24 là mùa giải bóng đá thứ 144 tại Anh.
Đội tuyển quốc gia
Đội tuyển bóng đá nam quốc gia Anh
Kết quả và lịch thi đấu
Giao hữu
| 12 tháng 9 năm 2023 | Scotland | 1-3 | | Glasgow, Scotland |
| 19:45 BST | Report |
|
Stadium: Hampden Park Attendance: 51.000 Referee: Davide Massa (Ý) |
| 13 tháng 10 năm 2023 | Anh | 1-0 | | Luân Đôn, Anh |
| 19:45 BST |
|
Report | Stadium: Sân vận động Wembley Attendance: 81.116 Referee: Stéphanie Frappart (Pháp) |
| 23 tháng 3 năm 2024 | Anh | 0-1 | | Luân Đôn, Anh |
| 19:00 BST | Report |
|
Stadium: Sân vận động Wembley Attendance: 84.595 Referee: Artur Dias (Bồ Đào Nha) |
| 26 tháng 3 năm 2024 | Anh | 2-2 | | Luân Đôn, Anh |
| 19:45 BST |
|
Report |
|
Stadium: Sân vận động Wembley Attendance: 80.733 Referee: Sebastian Gishamer (Áo) |
| 3 tháng 6 năm 2024 | Anh | 3-0 | | Newcastle, Anh |
| 19:45 BST |
|
Report | Stadium: St. James' Park Attendance: 50.061 Referee: Rohit Saggi (Na Uy) |
| 7 tháng 6 năm 2024 | Anh | 0-1 | | Luân Đôn, Anh |
| 19:45 BST | Report |
|
Stadium: Sân vận động Wembley Attendance: 81.410 Referee: Davide Massa (Ý) |
Vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2024
Bảng C
Bản mẫu:UEFA Euro 2024 qualifying group tables
| 9 tháng 9 năm 2023 | Ukraina | 1-1 | | Wrocław, Ba Lan |
| 17:00 BST |
|
Report |
|
Stadium: Stadion Wrocław Attendance: 39.000 Referee: Georgi Kabakov (Bulgaria) |
| 17 tháng 10 năm 2023 | Anh | 3-1 | | London, Anh |
| 19:45 BST | Report |
|
Stadium: Sân vận động Wembley Attendance: 83.194 Referee: Clément Turpin (Pháp) |
| 17 tháng 11 năm 2023 | Anh | 2-0 | | London, Anh |
| 19:45 BST | Report | Stadium: Sân vận động Wembley Attendance: 81.388 Referee: Luis Godinho (Portugal) |
| 20 tháng 11 năm 2023 | Bắc Macedonia | 1-1 | | Skopje, North Macedonia |
| 20:45 CEST (UTC+2) |
|
Report | Stadium: Toše Proeski National Arena Attendance: 27.982 Referee: Filip Glova (Slovakia) |
Giải vô địch bóng đá châu Âu 2024
Bảng C
| 16 tháng 6 năm 2024 | Serbia | 0-1 | | Gelsenkirchen, Đức |
| 21:00 CEST (UTC+2) | Report |
|
Stadium: Arena AufSchalke Attendance: 48.953 Referee: Daniele Orsato (Ý) |
| 20 tháng 6 năm 2024 | Đan Mạch | 1-1 | | Frankfurt, Đức |
| 18:00 CEST (UTC+2) |
|
Report |
|
Stadium: Waldstadion Attendance: 46.177 Referee: Artur Soares Dias (Portugal) |
| 25 tháng 6 năm 2024 | Anh | 0-0 | | Cologne, Đức |
| 21:00 CEST (UTC+2) | Report | Stadium: RheinEnergieStadion Attendance: 41.536 Referee: Clément Turpin (Pháp) |
Vòng đấu loại trực tiếp
| 30 tháng 6 năm 2024 Vòng 16 đội | Anh | 2-1 (a.e.t.) | | Gelsenkirchen, Đức |
| 21:00 CEST (UTC+2) |
|
Report |
|
Stadium: Arena AufSchalke Attendance: 47.244 Referee: Halil Umut Meler (Turkey) |
| 6 tháng 7 năm 2024 Quarter-finals | Anh | 1-1 (a.e.t.) (5-3 p) | | Düsseldorf, Đức |
| 18:00 CEST (UTC+2) |
|
Report |
|
Stadium: Merkur Spiel-Arena Attendance: 46.907 Referee: Daniele Orsato (Ý) |
| Penalties | ||||
| 10 tháng 7 năm 2024 Bán kết | Hà Lan | 1-2 | | Dortmund, Đức |
| 21:00 CEST (UTC+2) |
|
Report | Stadium: Westfalenstadion Attendance: 60.926 Referee: Felix Zwayer (Đức) |
| 14 tháng 7 năm 2024 Chung kết | Tây Ban Nha | 2-1 | | Berlin, Đức |
| 21:00 CEST (UTC+2) | Report |
|
Stadium: Olympiastadion Attendance: 65.600 Referee: François Letexier (Pháp) |
U-17
Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới
Bảng C
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | HS | Đ | Giành quyền tham dự |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 3 | 2 | 0 | 1 | 13 | 3 | +10 | 6 | Vòng đấu loại trực tiếp | |
| 2 | 3 | 2 | 0 | 1 | 13 | 4 | +9 | 6 | ||
| 3 | 3 | 2 | 0 | 1 | 9 | 4 | +5 | 6 | ||
| 4 | 3 | 0 | 0 | 3 | 0 | 24 | −24 | 0 |
| 11 tháng 11 năm 2023 | Nouvelle-Calédonie | 0-10 | | Jakarta, Indonesia |
| Report |
|
Stadium: Sân vận động Quốc tế Jakarta Attendance: 6.684 Referee: Ko Hyung-jin (Hàn Quốc) |
| 14 tháng 11 năm 2023 | Anh | 2-1 | | Jakarta, Indonesia |
|
Report |
|
Stadium: Sân vận động Quốc tế Jakarta Attendance: 7.698 Referee: Gustavo Tejera (Uruguay) |
| 17 tháng 11 năm 2023 | Anh | 1-2 | | Jakarta, Indonesia |
| Report |
|
Stadium: Sân vận động Quốc tế Jakarta Attendance: 15.171 Referee: Bryan López (Guatemala) |
Vòng đấu loại trực tiếp
| 22 tháng 11 năm 2023 Vòng 16 đội | Anh | 1-2 | | Jakarta, Indonesia |
|
Report | Stadium: Sân vận động Quốc tế Jakarta Attendance: 7.014 Referee: Selvin Brown (Honduras) |
Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Anh
Kết quả và lịch thi đấu
Giao hữu
| 1 tháng 7 năm 2023 | Anh | 0-0 | | Milton Keynes, Anh |
| 15:15 | Stadium: Sân vận động MK Attendance: 26.227 Referee: Esther Staubli (Thụy Sĩ) |
| 23 tháng 2 năm 2024 | Anh | 7-2 | | Algeciras, Tây Ban Nha |
| 19:45 |
|
Stadium: Estadio Nuevo Mirador Attendance: 949 Referee: Ainara Andrea Acevedo Dudley (Tây Ban Nha) |
| 27 tháng 2 năm 2024 | Anh | 5-1 | | Algeciras, Tây Ban Nha |
| 19:00 |
|
|
Stadium: Estadio Nuevo Mirador Attendance: 650 Referee: María Eugenia Gil Soriano (Tây Ban Nha) |
Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2023
Bảng D
| 22 tháng 7 năm 2023 | Anh | 1-0 | | Brisbane, Úc |
| 19:30 UTC+10 | Report | Stadium: Lang Park Attendance: 44.369 Referee: Emikar Calderas Barrera (Venezuela) |
| 28 tháng 7 năm 2023 | Anh | 1-0 | | Sydney, Úc |
|
Report | Stadium: Sydney Football Attendance: 40.439 Referee: Tess Olofsson (Thụy Điển) |
| 1 tháng 8 năm 2023 | Trung Quốc | 1-6 | | Adelaide, Úc |
|
Report | Stadium: Sân vận động Hindmarsh Attendance: 13.497 Referee: Casey Reibelt (Úc) |
Vòng đấu loại trực tiếp
| 7 tháng 8 năm 2023 Vòng 16 đội | Anh | 0-0 (a.e.t.) (4-2 p) | | Brisbane, Úc |
| 17:30 UTC+10 | Report | Stadium: Lang Park Attendance: 49.461 Referee: Melissa Borjas (Honduras) | ||
| Penalties | ||||
| 12 tháng 8 năm 2023 TK | Anh | 2-1 | | Sydney, Úc |
| 20:30 UTC+10 | Report |
|
Stadium: Sân vận động Australia Attendance: 75.784 Referee: Ekaterina Koroleva (Hoa Kỳ) |
| 16 tháng 8 năm 2023 BK | Úc | 1-3 | | Sydney, Úc |
| 20:00 UTC+10 |
|
Report | Stadium: Sân vận động Australia Attendance: 75.784 Referee: Tori Penso (Hoa Kỳ) |
| 20 tháng 8 năm 2023 Chung kết | Tây Ban Nha | 1-0 | | Sydney, Úc |
| 20:00 UTC+10 |
|
Report | Stadium: Sân vận động Australia Attendance: 75.784 Referee: Tori Penso (Hoa Kỳ) |
UEFA Women's Nations League 2023–24
Bảng A1
2023–24 UEFA Women's Nations League A
| 22 tháng 9 năm 2023 | Anh | 2-1 | | Sunderland, Anh |
| 19:45 | Report |
|
Stadium: Sân vận động of Light Attendance: 41.947 Referee: Maria Sole Caputi (Ý) |
| 26 tháng 9 năm 2023 | Hà Lan | 2-1 | | Utrecht, Hà Lan |
| 19:00 | Report |
|
Stadium: Stadion Galgenwaard Attendance: 24.000 Referee: Ivana Martinčić (Croatia) |
| 27 tháng 10 năm 2023 | Anh | 1-0 | | Leicester |
| TBC |
|
Report | Stadium: Sân vận động King Power Attendance: 28.321 Referee: Lina Lehtovaara (Phần Lan) |
| 31 tháng 10 năm 2023 | Bỉ | 3-2 | | Leuven |
| 20:30 | Report | Stadium: Den Dreef Attendance: 7.235 Referee: Esther Staubli (Thụy Sĩ) |
| 1 tháng 12 năm 2023 | Anh | 3-2 | | Luân Đôn |
| TBC | Report |
|
Stadium: Sân vận động Wembley Attendance: 71.632 Referee: Tess Olofsson (Thụy Điển) |
| 5 tháng 12 năm 2023 | Scotland | 0-6 | | Glasgow |
| TBC | Report | Stadium: Hampden Park Attendance: 15.320 Referee: Alina Peşu (România) |
Vòng loai Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2025
Bảng A3
Vòng loai Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2025 League A
| 5 tháng 4 năm 2024 | Anh | 1-1 | | Luân Đôn, Anh |
| 20:00 |
|
Report |
|
Stadium: Sân vận động Wembley Attendance: 63.248 Referee: Ivana Projkovska (Bắc Macedonia) |
| 9 tháng 4 năm 2024 | Cộng hòa Ireland | 0-2 | | Dublin, Ireland |
| 19:30 | Report | Stadium: Sân vận động Aviva Attendance: 32.742 Referee: Lina Lehtovaara (Phần Lan) |
| 31 tháng 5 năm 2024 | Anh | 1-2 | | Newcastle, Anh |
| 20:00 |
|
Report |
|
Stadium: St James' Park Attendance: 42.561 Referee: Marta Huerta de Aza (Tây Ban Nha) |
| 4 tháng 6 năm 2024 | Pháp | 1-2 | | Saint-Étienne, Pháp |
| 20:00 | Report | Stadium: Stade Geoffroy-Guichard Attendance: 10.194 Referee: Ivana Martinčić (Croatia) |
Giải đấu FIFA
Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ
Nhánh đấu
| Vòng Một | Vòng Hai | Bán kết | Chung kết | |||||||||||
| 0 | ||||||||||||||
| 1 | 0 | |||||||||||||
| 3 | ||||||||||||||
| 4 | ||||||||||||||
| 0 | ||||||||||||||
| 2 | ||||||||||||||
| 3 | 0 | Trận tranh hạng ba | ||||||||||||
| 3 | 1 | |||||||||||||
| 0 | 2 | |||||||||||||
| 4 | ||||||||||||||
Trận đấu
| 19 tháng 12 năm 2023 SF | Urawa Red Diamonds | 0-3 | | King Abdullah Sports City, Jeddah |
| Report | Attendance: 40.127 Referee: Mohammed Al Hoish (Ả Rập Xê Út) |
| 22 tháng 12 năm 2023 Chung kết | Manchester City | 4-0 | | King Abdullah Sports City, Jeddah |
| 21:00 | Report | Attendance: 52.601 Referee: Szymon Marciniak (Ba Lan) |
Giải đấu UEFA
UEFA Super Cup
| Manchester City | 1–1 | |
|---|---|---|
| Palmer |
Chi tiết | En-Nesyri |
| Loạt sút luân lưu | ||
| 5–4 | ||
UEFA Champions League
Vòng bảng
Bảng A
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | HS | Đ | Giành quyền tham dự | BAY | CPH | GAL | MUN | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 6 | 5 | 1 | 0 | 12 | 6 | +6 | 16 | Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp | — | 0–0 | 2–1 | 4–3 | ||
| 2 | 6 | 2 | 2 | 2 | 8 | 8 | 0 | 8 | 1–2 | — | 1–0 | 4–3 | |||
| 3 | 6 | 1 | 2 | 3 | 10 | 13 | −3 | 5 | Chuyển qua Europa League | 1–3 | 2–2 | — | 3–3 | ||
| 4 | 6 | 1 | 1 | 4 | 12 | 15 | −3 | 4 | 0–1 | 1–0 | 2–3 | — |
Bảng B
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | HS | Đ | Giành quyền tham dự | ARS | PSV | LEN | SEV | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 6 | 4 | 1 | 1 | 16 | 4 | +12 | 13 | Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp | — | 4–0 | 6–0 | 2–0 | ||
| 2 | 6 | 2 | 3 | 1 | 8 | 10 | −2 | 9 | 1–1 | — | 1–0 | 2–2 | |||
| 3 | 6 | 2 | 2 | 2 | 6 | 11 | −5 | 8 | Chuyển qua Europa League | 2–1 | 1–1 | — | 2–1 | ||
| 4 | 6 | 0 | 2 | 4 | 7 | 12 | −5 | 2 | 1–2 | 2–3 | 1–1 | — |
Bảng F
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | HS | Đ | Giành quyền tham dự | DOR | PAR | MIL | NEW | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 6 | 3 | 2 | 1 | 7 | 4 | +3 | 11 | Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp | — | 1–1 | 0–0 | 2–0 | ||
| 2 | 6 | 2 | 2 | 2 | 9 | 8 | +1 | 8 | 2–0 | — | 3–0 | 1–1 | |||
| 3 | 6 | 2 | 2 | 2 | 5 | 8 | −3 | 8 | Chuyển qua Europa League | 1–3 | 2–1 | — | 0–0 | ||
| 4 | 6 | 1 | 2 | 3 | 6 | 7 | −1 | 5 | 0–1 | 4–1 | 1–2 | — |
Ghi chú:
Bảng G
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | HS | Đ | Giành quyền tham dự | MCI | RBL | YB | ZVE | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 6 | 6 | 0 | 0 | 18 | 7 | +11 | 18 | Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp | — | 3–2 | 3–0 | 3–1 | ||
| 2 | 6 | 4 | 0 | 2 | 13 | 10 | +3 | 12 | 1–3 | — | 2–1 | 3–1 | |||
| 3 | 6 | 1 | 1 | 4 | 7 | 13 | −6 | 4 | Chuyển qua Europa League | 1–3 | 1–3 | — | 2–0 | ||
| 4 | 6 | 0 | 1 | 5 | 7 | 15 | −8 | 1 | 2–3 | 1–2 | 2–2 | — |
Vòng đấu loại trực tiếp
Vòng 16 đội
| Đội 1 | TTS | Đội 2 | Lượt đi | Lượt về |
|---|---|---|---|---|
| Porto |
1-1 (2-4 p) | 1-0 | 0-1 (s.h.p.) | |
| Copenhagen |
2-6 | 1-3 | 1-3 |
Tứ kết
| Đội 1 | TTS | Đội 2 | Lượt đi | Lượt về |
|---|---|---|---|---|
| Arsenal |
2-3 | 2-2 | 0-1 | |
| Real Madrid |
4-4 (4-3 p) | 3-3 | 1-1 (s.h.p.) |
UEFA Europa League
Vòng bảng
Bảng A
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | HS | Đ | Giành quyền tham dự | WHU | FRE | OLY | TSC | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 6 | 5 | 0 | 1 | 10 | 4 | +6 | 15 | Đi tiếp vào vòng 16 đội | — | 2–0 | 1–0 | 3–1 | ||
| 2 | 6 | 4 | 0 | 2 | 17 | 7 | +10 | 12 | Đi tiếp vào vòng play-off đấu loại trực tiếp | 1–2 | — | 5–0 | 5–0 | ||
| 3 | 6 | 2 | 1 | 3 | 11 | 14 | −3 | 7 | Chuyển qua Europa Conference League | 2–1 | 2–3 | — | 5–2 | ||
| 4 | 6 | 0 | 1 | 5 | 6 | 19 | −13 | 1 | 0–1 | 1–3 | 2–2 | — |
Bảng B
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | HS | Đ | Giành quyền tham dự | BHA | MAR | AJA | AEK | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 6 | 4 | 1 | 1 | 10 | 5 | +5 | 13 | Đi tiếp vào vòng 16 đội | — | 1–0 | 2–0 | 2–3 | ||
| 2 | 6 | 3 | 2 | 1 | 14 | 10 | +4 | 11 | Đi tiếp vào vòng play-off đấu loại trực tiếp | 2–2 | — | 4–3 | 3–1 | ||
| 3 | 6 | 1 | 2 | 3 | 10 | 13 | −3 | 5 | Chuyển qua Europa Conference League | 0–2 | 3–3 | — | 3–1 | ||
| 4 | 6 | 1 | 1 | 4 | 6 | 12 | −6 | 4 | 0–1 | 0–2 | 1–1 | — |
Bảng E
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | HS | Đ | Giành quyền tham dự | LIV | TOU | USG | LAS | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 6 | 4 | 0 | 2 | 17 | 7 | +10 | 12 | Đi tiếp vào vòng 16 đội | — | 5–1 | 2–0 | 4–0 | ||
| 2 | 6 | 3 | 2 | 1 | 8 | 9 | −1 | 11 | Đi tiếp vào vòng play-off đấu loại trực tiếp | 3–2 | — | 0–0 | 1–0 | ||
| 3 | 6 | 2 | 2 | 2 | 5 | 8 | −3 | 8 | Chuyển qua Europa Conference League | 2–1 | 1–1 | — | 2–1 | ||
| 4 | 6 | 1 | 0 | 5 | 6 | 12 | −6 | 3 | 1–3 | 1–2 | 3–0 | — |
Vòng đấu loại trực tiếp
Vòng 16 đội
| Đội 1 | TTS | Đội 2 | Lượt đi | Lượt về |
|---|---|---|---|---|
| Sparta Prague |
2-11 | 1-5 | 1-6 | |
| Roma |
4-1 | 4-0 | 0-1 | |
| SC Freiburg |
1-5 | 1-0 | 0-5 |
Tứ kết
| Đội 1 | TTS | Đội 2 | Lượt đi | Lượt về |
|---|---|---|---|---|
| Liverpool |
1-3 | 0-3 | 1-0 | |
| Bayer Leverkusen |
3-1 | 2-0 | 1-1 |
UEFA Europa Conference League
Vòng play-off
| Đội 1 | TTS | Đội 2 | Lượt đi | Lượt về |
|---|---|---|---|---|
| Hibernian |
0-8 | 0-5 | 0-3 |
Vòng bảng
Bảng E
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | HS | Đ | Giành quyền tham dự | AVL | LEG | AZ | ZRI | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 6 | 4 | 1 | 1 | 12 | 7 | +5 | 13 | Đi tiếp vào vòng 16 đội | — | 2–1 | 2–1 | 1–0 | ||
| 2 | 6 | 4 | 0 | 2 | 10 | 6 | +4 | 12 | Đi tiếp vào vòng play-off đấu loại trực tiếp | 3–2 | — | 2–0 | 2–0 | ||
| 3 | 6 | 2 | 0 | 4 | 7 | 12 | −5 | 6 | 1–4 | 1–0 | — | 1–0 | |||
| 4 | 6 | 1 | 1 | 4 | 6 | 10 | −4 | 4 | 1–1 | 1–2 | 4–3 | — |
Vòng đấu loại trực tiếp
Vòng 16 đội
| Đội 1 | TTS | Đội 2 | Lượt đi | Lượt về |
|---|---|---|---|---|
| Ajax |
0-4 | 0-0 | 0-4 |
Tứ kết
| Đội 1 | TTS | Đội 2 | Lượt đi | Lượt về |
|---|---|---|---|---|
| Aston Villa |
3-3 (4-3 p) | 2-1 | 1-2 (s.h.p.) |
Bán kết
| Đội 1 | TTS | Đội 2 | Lượt đi | Lượt về |
|---|---|---|---|---|
| Aston Villa |
2-6 | 2-4 | 0-2 |
UEFA Women's Champions League
Vòng loại
Vòng 1
- Bán kết
| Đội 1 | Tỉ số | Đội 2 |
|---|---|---|
| Arsenal |
3-0 |
- Chung kết
| Đội 1 | Tỉ số | Đội 2 |
|---|---|---|
| Arsenal |
3-3 (s.h.p.) (2-4 p) |
Vòng 2
| Đội 1 | TTS | Đội 2 | Lượt đi | Lượt về |
|---|---|---|---|---|
| Manchester United |
2-4 | 1-1 | 1-3 |
Vòng bảng
Bảng D
Bản mẫu:UEFA Women’s Champions League 2023–24 group tables
Vòng đấu loại trực tiếp
Tứ kết
| Đội 1 | TTS | Đội 2 | Lượt đi | Lượt về |
|---|---|---|---|---|
| Ajax |
1-4 | 0-3 | 1-1 |
Bán kết
| Đội 1 | TTS | Đội 2 | Lượt đi | Lượt về |
|---|---|---|---|---|
| Barcelona |
2-1 | 0-1 | 2-0 |
UEFA Youth League
UEFA Champions League Path
Vòng bảng
Bảng A
Vòng bảng UEFA Youth League 2023–24
Bảng B
Vòng bảng UEFA Youth League 2023–24
Bảng F
Vòng bảng UEFA Youth League 2023–24
Bảng G
Vòng bảng UEFA Youth League 2023–24
Vòng đấu loại trực tiếp
Vòng 16 đội
| Đội 1 | Tỉ số | Đội 2 |
|---|---|---|
| Mainz 05 |
2-1 |
Bóng đá nam
| Hạng đấu | Thăng hang |
Xuống hạng |
|---|---|---|
| Premier League | ||
| Championship | ||
| League One | ||
| League Two | ||
| National League |
Giải bóng đá Ngoại hạng Anh
Trong một cuộc đua tam mã kéo dài gần như suốt cả mùa giải, Manchester City trở thành đội bóng Anh đầu tiên vô địch bốn mùa giải liên tiếp — đội bóng của Pep Guardiola đã vượt qua giai đoạn sa sút phong độ trước Giáng sinh để một lần nữa ngăn chặn những thách thức từ Arsenal và Liverpool (dù chỉ chiếm ngôi đầu ở tuần áp chót sau khi dẫn đầu bảng gần như suốt giai đoạn đầu mùa tới đợt tập trung đội tuyển quốc gia tháng 11), kết thúc với 91 điểm và có mùa giải bất bại trên sân Etihad đầu tiên sau 12 năm, đồng thời giành luôn Siêu cúp UEFA và FIFA Club World Cup. Arsenal kết thúc ở vị trí thứ Hai mùa thứ Hai liên tiếp, nhưng khác với năm trước, lần này Pháo thủ đã đưa cuộc đua vô địch tới tận vòng cuối cùng (dù dành ít thời gian ở ngôi đầu hơn), được hỗ trợ không nhỏ bởi chuỗi phong độ phi thường trong năm 2024, thậm chí bất bại trước cả City lẫn Liverpool suốt mùa giải; chỉ những cú sảy chân trong giai đoạn Giáng sinh mới khiến đội bóng Bắc London phải trả giá, dù họ cũng đã vào tới tứ kết Champions League lần đầu tiên kể từ năm 2010 và chỉ bị loại bởi thất bại sít sao trước Bayern Munich. Trong mùa giải cuối cùng của Jürgen Klopp, Liverpool nằm trong top ba gần như suốt cả chiến dịch và thậm chí còn dẫn đầu bảng gần như trọn mùa đông trong khi vẫn còn tranh đua cho một cú ăn Bốn chưa từng có, cho tới khi sự sụp đổ về phong độ trong mùa xuân khiến họ bị loại khỏi cả Europa League lẫn Cúp FA, còn chuỗi đánh rơi điểm số ở giải vô địch quốc gia tạo điều kiện cho City và Arsenal vượt lên; dù vậy, họ vẫn cán đích ở vị trí thứ Ba, cải thiện so với mùa giải trước, đồng thời giành League Cup lần thứ Hai trong ba mùa giải. Mùa giải trọn vẹn đầu tiên của Unai Emery tại Aston Villa được xem là thành công khi The Villans giành quyền dự đấu trường cao nhất châu Âu lần đầu tiên kể từ năm 1983, đồng thời vào tới bán kết Conference League — có lẽ nỗi thất vọng duy nhất là việc bị loại sớm ở cả hai cúp quốc nội.
Mùa giải đầu tiên của Tottenham Hotspur sau thời kì của chân sút ngôi sao Harry Kane và dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên trưởng người Úc Ange Postecoglou diễn ra đầy biến động; dù khởi đầu tốt, đứng đầu bảng vào cuối tháng 10 và bất bại sau 10 trận, một cuộc khủng hoảng chấn thương cùng phong độ phập phù trong phần còn lại của mùa giải đã ảnh hưởng nặng nề tới đội bóng Bắc London, dù họ vẫn kết thúc ở vị trí thứ Năm và giành quyền trở lại đấu trường châu Âu. Chelsea lẩn quẩn ở khu vực giữa bảng xếp hạng trong phần lớn mùa giải do phong độ cực kì thất thường, bất chấp việc vào tới chung kết League Cup, nhưng The Blues đã có màn hồi sinh từ giữa tháng 2 để leo mạnh lên bảng xếp hạng, được hỗ trợ bởi hiệu suất ghi bàn dồi dào của tân binh mùa hè Cole Palmer, người kết thúc mùa giải với tư cách chân sút ghi nhiều bàn thứ Hai của giải với 22 bàn, qua đó giành vị trí thứ Sáu và một suất dự cúp châu Âu; dù vậy, mùa giải của họ bị phủ bóng bởi sự ra đi đột ngột của cựu huấn luyện viên Tottenham Mauricio Pochettino chỉ sau một năm dẫn dắt, ngay sau trận cuối cùng. Một cuộc khủng hoảng chấn thương nghiêm trọng khiến mùa giải của Newcastle United sớm hụt hơi, với những lần bị loại sớm ở cả hai giải cúp quốc nội lẫn Champions League — và chỉ nhờ sự hồi sinh khá tốt từ cuối tháng 1 họ mới bảo đảm vị trí thứ Bảy (và vì Manchester United vô địch Cúp FA, vị trí đó cũng không đủ để mang lại suất dự cúp châu Âu liên tiếp lần đầu tiên kể từ năm 2006). Manchester United trải qua một mùa giải cực kì đáng thất vọng khi bị loại sớm ở Champions League và Carabao Cup, cộng thêm phong độ tệ hại tại giải vô địch quốc gia càng bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng chấn thương diện rộng, khiến Quỷ đỏ kết thúc với hiệu số bàn thắng bại âm và có thứ hạng cuối mùa thấp nhất, vị trí thứ Tám, trong 34 năm, qua đó đẩy áp lực lớn lên huấn luyện viên Erik ten Hag; dù vậy, mùa giải vẫn kết thúc theo hướng tích cực khi câu lạc bộ giành Cúp FA thứ 13 bằng chiến thắng trước nhà vô địch quốc gia và đối thủ cùng thành phố Manchester City trong trận chung kết, qua đó giành vé dự cúp châu Âu mùa sau.
Trái ngược với việc bất ngờ giành vé dự Europa League mùa trước, mùa giải của Brighton and Hove Albion sa sút nhanh chóng khi The Seagulls chỉ thắng bảy trận sau tháng 9 và lỡ cả top 10 (đồng thời không giữ sạch lưới trận nào cho tới năm mới); chiến dịch châu Âu đầu tiên trong lịch sử của họ chứng kiến đội vào tới vòng 16 đội Europa League trước khi bị loại bởi thất bại nặng nề ở lượt đi trước Roma, còn huấn luyện viên trưởng Roberto De Zerbi tuyên bố ra đi sau khi mùa giải khép lại. West Ham United là một đội khác có mùa giải hụt hơi; dù bám trụ cuộc đua top bảy lâu hơn, sự sụp đổ về phong độ sau năm mới đã khiến The Hammers bị bật ra khỏi cuộc đua và khép lại một đoạn kết đáng thất vọng trong mùa giải cuối cùng của huấn luyện viên David Moyes tại câu lạc bộ, mùa giải cũng bao gồm hành trình vào tới tứ kết Europa League. Một chuỗi phong độ chỉ có ba chiến thắng từ tháng 10 tới tháng 4 khiến Crystal Palace một lần nữa bị kéo vào cuộc chiến trụ hạng; The Eagles chứng kiến huấn luyện viên Roy Hodgson từ chức giữa tháng 2 sau một vấn đề sức khỏe trong bối cảnh có tin đồn ông có thể bị sa thải, và được thay thế bởi Oliver Glasner; đội bóng London sau đó hồi phục mạnh mẽ với một giai đoạn bứt phá ấn tượng cuối mùa — bao gồm những chiến thắng đậm trước Manchester United và Aston Villa cùng nhiều đội khác — để cân bằng thứ hạng cao nhất của mình tại Premier League là vị trí thứ 10. Quyết định gây sốc trước mùa giải của Bournemouth khi sa thải huấn luyện viên trưởng Gary O'Neil để nhường chỗ cho người Tây Ban Nha Andoni Iraola rốt cuộc đã chứng tỏ là một lựa chọn sáng suốt, chỉ có phong độ tệ hại ở cả đầu và cuối mùa cùng chuỗi không thắng kéo dài sau Giáng sinh mới ngăn The Cherries bước vào cuộc đua giành vé dự cúp châu Âu, với điểm nhấn là chiến thắng sân khách đầu tiên trong lịch sử trước Manchester United.
Chỉ lần thứ Hai trong lịch sử Premier League, và là lần đầu tiên kể từ năm 1998, cả ba đội mới thăng hạng đều lập tức rớt trở lại Championship, trong một cuộc chiến trụ hạng bị tác động bởi các án phạt trừ điểm do vi phạm tài chính; Sheffield United có một trong những tổng điểm thấp nhất của một đội mới thăng hạng, đồng thời phá những kỉ lục không mong muốn mà Swindon Town và Derby County nắm giữ về số bàn thua trong một mùa giải hạng đấu cao nhất (Swindon thủng lưới 100 bàn trong 42 trận và Derby thủng lưới 89 bàn trong 38 trận), trong bối cảnh tình hình càng tệ hơn sau khi huấn luyện viên Paul Heckingbottom bị sa thải đầu tháng 12 và được thay bằng cựu huấn luyện viên Chris Wilder, còn đội kết thúc mùa với 104 bàn thua. Burnley xếp trên họ nhưng cũng trải qua màn trở lại hạng đấu cao nhất đáng thất vọng; The Clarets và huấn luyện viên Vincent Kompany nhận được lời khen vì vẫn theo đuổi lối chơi tấn công, nhưng lại hoàn toàn thất bại trong việc biến điều đó thành kết quả, với hai chiến thắng đậm nhất đều đến trước chính The Blades. Dù sở hữu thành tích ghi bàn đáng chú ý (tốt nhất trong số các đội thắng play-off kể từ Blackpool) và có một số kết quả ấn tượng, bao gồm giành được 4 điểm trước cả Newcastle lẫn Everton, Luton Town vẫn chiếm vị trí xuống hạng cuối cùng trong mùa giải đầu tiên ở hạng đấu cao nhất kể từ năm 1992; việc The Hatters không thể biến số bàn thắng thành kết quả, cộng thêm thành tích phòng ngự tệ hại, đã chống lại họ. Dù bị trừ điểm hai lần với tổng cộng 8 điểm, Everton vẫn trụ hạng thành công từ khá sớm — bất chấp chuỗi không thắng kéo dài từ Giáng sinh tới đầu tháng 4, The Toffees đã có màn nước rút cuối mùa với 17 điểm trong 9 trận cuối để nối dài quãng thời gian 70 năm liên tiếp ở hạng đấu cao nhất. Brentford cũng trải qua một mùa giải khó khăn khi chấn thương của các cầu thủ quan trọng cùng án treo giò dài hạn dành cho tiền đạo ngôi sao Ivan Toney từ tuần áp chót của mùa giải trước đã kéo The Bees vào cuộc chiến trụ hạng, và chỉ một vài chiến thắng muộn mới giúp họ thoát hiểm. Nottingham Forest cũng gần như bị cuốn vào cuộc chiến trụ hạng suốt mùa, với huấn luyện viên Steve Cooper bị sa thải giữa tháng 12 và thay bằng Nuno Espirito Santo, trong khi vị trí của câu lạc bộ còn xấu đi bởi án phạt trừ 4 điểm vào tháng 3, nhưng cuối cùng The Reds vẫn trụ lại hạng đấu cao nhất thêm một mùa nữa, đồng thời kết thúc chiến dịch với 32 điểm, tổng điểm thấp nhất từng giúp một đội trụ hạng thành công ở hạng đấu cao nhất, phá kỉ lục do West Bromwich Albion thiết lập năm 2005.
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | HS | Đ | Giành quyền tham dự hoặc xuống hạng |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Manchester City (C) | 38 | 28 | 7 | 3 | 96 | 34 | +62 | 91 | Lọt vào vòng đấu hạng Champions League |
| 2 | Arsenal | 38 | 28 | 5 | 5 | 91 | 29 | +62 | 89 | |
| 3 | Liverpool | 38 | 24 | 10 | 4 | 86 | 41 | +45 | 82 | |
| 4 | Aston Villa | 38 | 20 | 8 | 10 | 76 | 61 | +15 | 68 | |
| 5 | Tottenham Hotspur | 38 | 20 | 6 | 12 | 74 | 61 | +13 | 66 | Lọt vào vòng đấu hạng Europa League |
| 6 | Chelsea | 38 | 18 | 9 | 11 | 77 | 63 | +14 | 63 | Lọt vào vòng play-off Conference League |
| 7 | Newcastle United | 38 | 18 | 6 | 14 | 85 | 62 | +23 | 60 | |
| 8 | Manchester United | 38 | 18 | 6 | 14 | 57 | 58 | −1 | 60 | Lọt vào vòng đấu hạng Europa League |
| 9 | West Ham United | 38 | 14 | 10 | 14 | 60 | 74 | −14 | 52 | |
| 10 | Brighton & Hove Albion | 38 | 12 | 12 | 14 | 55 | 62 | −7 | 48 | |
| 11 | Bournemouth | 38 | 13 | 9 | 16 | 54 | 67 | −13 | 48 | |
| 12 | Crystal Palace | 38 | 13 | 10 | 15 | 57 | 58 | −1 | 49 | |
| 13 | Wolverhampton Wanderers | 38 | 13 | 7 | 18 | 50 | 65 | −15 | 46 | |
| 14 | Fulham | 38 | 13 | 8 | 17 | 55 | 61 | −6 | 47 | |
| 15 | Everton | 38 | 13 | 9 | 16 | 40 | 51 | −11 | 40 | |
| 16 | Brentford | 38 | 10 | 9 | 19 | 56 | 65 | −9 | 39 | |
| 17 | Nottingham Forest | 38 | 9 | 9 | 20 | 49 | 67 | −18 | 32 | |
| 18 | Luton Town (R) | 38 | 6 | 8 | 24 | 52 | 85 | −33 | 26 | Xuống hạng đến EFL Championship |
| 19 | Burnley (R) | 38 | 5 | 9 | 24 | 41 | 78 | −37 | 24 | |
| 20 | Sheffield United (R) | 38 | 3 | 7 | 28 | 35 | 104 | −69 | 16 |
Quy tắc xếp hạng: 1) Điểm; 2) Hiệu số bàn thắng thua; 3) Số bàn thắng ghi được; 4) Nếu đội vô địch, đội xuống hạng hoặc đội lọt vào các giải đấu UEFA không thể được xác định bằng quy tắc 1 đến 3, quy tắc 4.1 đến 4.3 được áp dụng – 4.1) Điểm giành được ở thành tích đối đầu giữa các đội liên quan; 4.2) Số bàn thắng sân khách ghi được ở thành tích đối đầu giữa các đội liên quan; 4.3) Vòng play-off.
(C) Vô địch; (R) Xuống hạng
Ghi chú:
- ^ Vì đội vô địch Cúp EFL 2023-24, Liverpool, đã đủ điều kiện tham dự Champions League nên suất dành cho đội vô địch Cúp EFL (vòng play-off Conference League) được chuyển cho đội xếp thứ sáu.
- ^ Manchester United giành quyền tham dự vòng đấu hạng Europa League với tư cách là nhà vô địch Cúp FA 2023–24.
- ^ Everton bị trừ 10 điểm do vi phạm Luật Công bằng Tài chính, sau đó Everton kháng cáo thành công, chỉ bị trừ 6 điểm (được cộng lại 4 điểm). Ngày 8/4/2024, Everton nhận thêm án phạt trừ 2 điểm do vi phạm các quy tắc bền vững và lợi nhuận (PSR) của Premier League. Tổng cộng, câu lạc bộ bị trừ 8 điểm.
- ^ Nottingham Forest bị trừ 4 điểm vì vi phạm các quy tắc về lợi nhuận và tính bền vững. Câu lạc bộ đã kháng cáo nhưng không thành công.
Championship
Trong một mùa giải Championship đáng chú ý, với những vị trí quan trọng trên bảng xếp hạng vẫn còn bỏ ngỏ trước vòng cuối cùng, Leicester City đã giành quyền trở lại Premier League ngay lập tức với tư cách nhà vô địch; The Foxes từng có vẻ không thể bị bắt kịp cho tới tháng 2, khi một chuỗi phong độ kém cho phép các đội phía sau thu hẹp khoảng cách — và dù cuộc đua vô địch trở thành cuộc đua tam mã trong phần lớn mùa xuân, đội bóng của Enzo Maresca đã hồi phục ấn tượng trong những tuần cuối để thoải mái vô địch hạng Hai lần thứ Tám, một kỉ lục. Ipswich Town bất ngờ về đích thứ Hai với 96 điểm, thành tích kỉ lục cho một đội xếp Á quân; The Tractor Boys nằm trong top sáu suốt cả mùa giải, bất chấp mọi dự đoán, chiếm giữ vị trí thứ Hai gần như toàn bộ nửa đầu mùa giải và thậm chí còn vượt qua được những giai đoạn sa sút ở hai bên quãng tháng 1 và trong tháng 4 để chấm dứt 22 năm vắng bóng khỏi Premier League theo cách đầy ấn tượng, đồng thời trở thành đội thứ Năm giành hai lần thăng hạng liên tiếp từ hạng Ba lên hạng đấu cao nhất, thành tích mang lại cho huấn luyện viên Kieran McKenna cùng đội bóng của ông sự ca ngợi rộng khắp. Trận chung kết play-off rốt cuộc diễn ra giữa hai đội còn lại vừa xuống hạng là Leeds United và Southampton, với Southampton giành chiến thắng để giúp huấn luyện viên trưởng Russell Martin có suất thăng hạng ngay trong mùa giải đầu tiên tại câu lạc bộ; The Saints đã vượt qua khởi đầu tệ hại để có một chuỗi bất bại kỉ lục của câu lạc bộ và chỉ tụt khỏi top hai vì phong độ phập phù trong những tháng cuối.
Leeds United vượt qua khởi đầu chậm chạp, rồi được một chuỗi phong độ rực rỡ trong năm 2024 đẩy vào cuộc đua thăng hạng trực tiếp, nhưng một lần nữa sự sa sút quen thuộc ở cuối mùa khiến The Whites chỉ về đích thứ Ba dù giành được 90 điểm, số điểm lẽ ra đủ để thăng hạng trực tiếp ở gần như mọi mùa giải khác; thất bại trong trận chung kết play-off tiếp tục chuỗi không thắng một trận chung kết chính thức nào của họ kể từ Chung kết Cúp FA 1972. Cả Middlesbrough lẫn Coventry City đều không thể tái hiện thành công của mùa trước là lọt vào play-off, khi lần lượt kết thúc ở vị trí thứ Tám và thứ Chín; hi vọng vào thêm một mùa giải play-off nữa của Boro bị ảnh hưởng bởi việc không thắng ở bảy trận đầu, còn The Sky Blues chưa bao giờ cho thấy dấu hiệu thực sự thách thức top sáu, lại càng bị kéo xuống bởi đoạn kết mùa giải tệ hại, dù cả hai đội đều phần nào bù đắp bằng các hành trình cúp ấn tượng: Middlesbrough vào bán kết Carabao Cup và thậm chí thắng Chelsea ở lượt đi trước khi thua đậm ở lượt về, còn Coventry vào tới bán kết Cúp FA, kéo Manchester United vào hiệp phụ dù từng bị dẫn 0-3 và chỉ thua trên chấm phạt đền, trong trận đấu mà họ thậm chí còn có một bàn thắng ở phút 120 bị từ chối sít sao vì việt vị. Ở chiều ngược lại, Sunderland có mùa giải còn tệ hơn cả hai đội này dù khởi đầu khá tốt trước khi thuê Michael Beale từ Rangers. Ở thời điểm bổ nhiệm đó, đội bóng có vẻ đang hướng tới một mùa giải thứ Hai liên tiếp trong top sáu, nhưng kết quả bắt đầu sụp đổ và sau đó ông bị sa thải, được thay thế bằng Mike Dodds. Rốt cuộc, Mèo đen đi từ chỗ còn đua play-off trong tháng 3 tới việc chỉ vừa đủ tránh khỏi lần xuống hạng thứ Hai trong 6 năm và kết thúc ở vị trí thứ 16, chỉ trụ lại với cách biệt 6 điểm, một mùa giải thất bại.
Mùa giải đầu tiên của Plymouth Argyle ở cấp độ này sau 13 năm diễn ra đầy khó khăn; câu lạc bộ đứng ở nửa dưới bảng xếp hạng trong suốt chiến dịch nhưng không thật sự sợ xuống hạng cho tới khi phong độ sa sút sau sự ra đi của huấn luyện viên giành quyền thăng hạng Steven Schumacher tới Stoke City, kéo The Pilgrims vào cuộc chiến trụ hạng sau năm mới, trước khi cuối cùng trụ lại nhờ chiến thắng ở vòng cuối. Sheffield Wednesday hoàn tất phiên bản “Great Escape” của riêng mình; câu lạc bộ dành toàn bộ trừ bốn vòng đấu trong nhóm ba đội cuối bảng, khởi đầu mùa giải với chỉ 3 điểm sau 13 trận, cho tới khi việc bổ nhiệm nhà cầm quân người Đức 34 tuổi Danny Röhl — huấn luyện viên trẻ nhất trong Football League — mang lại cú hích về phong độ cho The Owls, với nhiều chuỗi kết quả tốt, bao gồm 14 điểm trong sáu trận cuối, qua đó bảo đảm mùa giải thứ Hai liên tiếp ở hạng Hai. Queens Park Rangers cũng dành phần lớn mùa giải trong tình trạng có vẻ như sẽ xuống hạng, thậm chí có thời điểm còn cách nhóm an toàn vài điểm, nhưng việc bổ nhiệm người Tây Ban Nha Martí Cifuentes đã mang lại cho câu lạc bộ đủ động lực để từ từ thoát khỏi nhóm ba đội cuối bảng, trong khi Blackburn Rovers vượt qua chuỗi phong độ tệ hại khiến đội bóng vùng Lancashire chỉ có năm chiến thắng sau tháng 11 để tránh lần xuống hạng League One thứ Hai trong bảy năm, với chân sút số một Sammie Szmodics kết thúc mùa giải với danh hiệu vua phá lưới Championship và gần như một tay kéo đội bóng của mình vượt qua vạch đích.
Trong một cuộc chiến trụ hạng đầy kịch tính, khi nhiều đội còn mắc kẹt trong đó cho tới những tuần cuối, Rotherham United trở thành đội đầu tiên trong Football League phải xuống hạng, trong một mùa giải mà họ dùng tới bốn huấn luyện viên và không thắng nổi một trận sân khách nào (The Millers chỉ thắng chín trận sân khách trong năm mùa Championship gần nhất), trở lại League One sau hai năm; điểm sáng duy nhất là sự cải thiện về phong độ sau khi cựu huấn luyện viên thành công Steve Evans trở lại vào cuối mùa, điều ít nhất cũng ngăn họ cân bằng kỉ lục thấp kém nhất của chính mình về tổng điểm ở hạng Hai. Hai vị trí xuống hạng còn lại được quyết định ở vòng cuối; Huddersfield Town trở thành đội thứ Hai xuống hạng, khi sự lao dốc đầy mạnh mẽ của The Terriers kể từ sau sự ra đi của huấn luyện viên có ảnh hưởng lớn Carlos Corberán sau thất bại ở trận chung kết play-off hai năm trước cuối cùng đã phát tác, trong một mùa giải đầy biến động khi họ thay huấn luyện viên hai lần và trở lại hạng Ba sau 12 năm vắng bóng, dù mới còn chơi ở Premier League vào năm 2019. Cái tên gây chú ý hơn nữa là Birmingham City, khi The Blues phải chịu lần xuống hạng hạng Ba đầu tiên kể từ năm 1995 — đội bóng vùng Midlands thực ra đã khởi đầu sáng sủa, nhưng việc sa thải gây tranh cãi huấn luyện viên trưởng John Eustace để thay bằng Wayne Rooney rốt cuộc trở thành một quyết định lố bịch, khiến câu lạc bộ rơi xuống sát nhóm nguy hiểm vào đúng ngày đầu năm mới; rốt cuộc thêm bốn huấn luyện viên khác nữa được bổ nhiệm trước cuối tháng 4 (trong đó người thay Rooney là Tony Mowbray chỉ trụ được tám trận trước khi phải nghỉ vì lí do sức khỏe), nhưng ngay cả sự trở lại của cựu huấn luyện viên Gary Rowett cũng không thể ngăn The Blues trượt vào khu vực xuống hạng bất chấp chiến thắng ở vòng cuối.
League One
Trong mùa giải trọn vẹn đầu tiên của John Mousinho trên cương vị huấn luyện viên, Portsmouth đã vô địch League One, đứng đầu bảng gần như suốt cả mùa và chấm dứt 12 năm xa Championship theo cách đầy ấn tượng, chỉ có một chuỗi phong độ hơi kém trong và sau Giáng sinh mới ngăn Pompey chạm mốc 100 điểm — khi câu lạc bộ cuối cùng cũng giành quyền thăng hạng đầu tiên dưới thời ông chủ người Mỹ Michael Eisner. Trong một cuộc đua căng thẳng, Derby County đứng thứ Hai, vượt qua khởi đầu chậm chạp để tăng tốc mạnh sau tháng 11 và trở lại Championship sau hai mùa ở hạng Ba, đồng thời giành lần thăng hạng đầu tiên kể từ năm 2007 và mang về cho huấn luyện viên Paul Warne lần thăng hạng thứ Tư trong bảy năm; họ chỉ vừa đủ vượt qua Bolton Wanderers, đội sau đó tiếp tục lỡ hẹn một cách sít sao ở play-off khi thua Oxford United trong trận chung kết; The U's có một mùa giải đáng chú ý, bám đuổi cuộc đua thăng hạng từ đầu và thậm chí còn vượt qua được cả việc mất huấn luyện viên Liam Manning vào tay Bristol City lẫn một chuỗi phong độ kém sau năm mới để chen trở lại top sáu ở vòng cuối, trước khi thắng tại Wembley và chấm dứt 25 năm vắng bóng ở hạng Hai.
Blackpool không thể tạo nên một cuộc đua play-off thực sự, khi màn tăng tốc muộn màng rốt cuộc là quá ít và quá trễ trong mùa giải đầu tiên Neil Critchley trở lại cầm quân, do phong độ phập phù suốt cả chiến dịch cuối cùng đã phát tác đối với The Seasiders. Hai đội khác xuống hạng từ Championship là Wigan và Reading đều có mùa giải bị phủ bóng bởi khó khăn tài chính và các án phạt trừ điểm; đặc biệt là Reading, đội thậm chí có vẻ như sẽ phải nhận lần xuống hạng thứ Hai liên tiếp trong gần như cả mùa giải, chỉ thật sự thoát khỏi nhóm bốn đội cuối bảng vào mùa xuân trong bối cảnh những cuộc biểu tình của cổ động viên nhắm vào ông chủ Dai Yongge ngày càng gia tăng, đỉnh điểm là một cuộc tràn xuống sân khiến trận gặp Port Vale vào tháng 1 phải bị hủy bỏ. Charlton Athletic, đội còn chơi ở Championship cách đây bốn năm, trải qua một mùa giải đầy biến động khi dùng tới năm huấn luyện viên khác nhau, với một chuỗi không thắng kéo dài giữa mùa giải kéo The Addicks vào cuộc chiến trụ hạng; việc bổ nhiệm cựu huấn luyện viên của Luton và Southampton là Nathan Jones đã mang lại cho câu lạc bộ đủ năng lượng để tránh một cuộc chiến trụ hạng thực sự — khi đội sau đó có một chuỗi bất bại dài — nhưng vị trí thứ 16 vẫn là thứ hạng thấp nhất của câu lạc bộ kể từ giai đoạn trước Chiến tranh thế giới thứ hai. Ba đội thăng hạng trực tiếp đều có những mùa giải khá tốt khi trở lại hạng Ba; Leyton Orient đứng thứ 11, không bao giờ thật sự bị đe dọa xuống hạng và thậm chí còn có vẻ sẽ chen vào play-off trong giai đoạn cuối mùa đông, ngay ở mùa giải đầu tiên trở lại cấp độ này sau tám năm. Stevenage, trong mùa đầu tiên ở League One kể từ năm 2014, giữ vị trí play-off trong phần lớn mùa giải nhưng hụt hơi sau một chuỗi phong độ kém kể từ tháng 2, còn Northampton Town, trở lại sau hai năm ở hạng thấp nhất, dành cả mùa trong khu vực giữa bảng xếp hạng và đứng thứ 14 — thứ hạng cao nhất của họ trong Football League sau 16 năm.
Carlisle United không bao giờ thích nghi lại được với cuộc sống ở League One trong mùa giải đầu tiên ở cấp độ này sau mười năm, và xuống hạng ở vị trí cuối bảng, lập tức trở lại League Two — khi ngay cả một vài chiến thắng muộn cũng đến quá trễ đối với đội bóng vùng Cumbria. Port Vale sụp đổ hoàn toàn về phong độ sau khi từng vươn lên vị trí thứ Hai vào giữa tháng 9, chỉ thắng năm trận kể từ thời điểm đó và phải xuống hạng sau hai năm ở cấp độ này, bất chấp việc bổ nhiệm huấn luyện viên dày dạn kinh nghiệm Darren Moore. Dù thay tới ba huấn luyện viên, Fleetwood Town chưa bao giờ có vẻ sẽ thoát khỏi xuống hạng khi rơi vào top bốn từ dưới lên sau vòng Bốn và không bao giờ rời khỏi đó, trở lại League Two sau mười năm và phải nhận lần xuống hạng đầu tiên trong lịch sử dưới phiên bản hiện tại của câu lạc bộ. Cuộc chiến tránh vị trí xuống hạng cuối cùng diễn ra rất sít sao; rốt cuộc Cheltenham là đội chiếm vị trí ấy, khi không bao giờ hồi phục hoàn toàn sau khởi đầu thảm họa khiến họ không ghi nổi bàn nào trong 11 trận đầu tiên, qua đó khép lại ba năm của The Robins ở hạng đấu này, dù ít nhất cũng tránh được việc kết thúc với thành tích ghi bàn tệ nhất mùa giải. Burton Albion và Cambridge United đều tiến rất gần xuống hạng trong những vòng đấu cuối, nhưng cả hai cuối cùng vẫn vừa đủ kéo mình qua vạch đích để giữ lại suất thi đấu mùa sau.
League Two
Trong một cuộc đua thăng hạng rốt cuộc khá một chiều, khi cả ba đội dẫn đầu đều bảo đảm vị trí của mình trước ba vòng cuối, Stockport County đã sửa sai sau thất bại ở trận chung kết play-off mùa trước và vô địch League Two, vượt qua khởi đầu chậm để trở lại League One sau 14 năm, đồng thời mang về cho huấn luyện viên Dave Challinor lần thăng hạng thứ Hai trong ba năm. Hành trình thăng tiến như vũ bão của Wrexham tiếp tục, khi sự trở lại Football League được chờ đợi từ lâu của câu lạc bộ kết thúc bằng lần thăng hạng trực tiếp thứ Hai liên tiếp và một suất ở hạng Ba lần đầu tiên sau 19 năm; The Red Dragons tự củng cố vị trí trong top bảy từ đầu tháng 10 rồi từ từ tăng tốc trên bảng xếp hạng, có lẽ chỉ lỡ thêm một danh hiệu nữa vì thành tích sân khách kém hơn và khởi đầu chậm. Mansfield Town kết thúc ở vị trí thứ Ba; The Stags nằm trong top bảy gần như suốt cả mùa và thậm chí từng có vẻ sẽ cướp chức vô địch khỏi tay Stockport, nhưng lỡ hẹn vì một vài thất bại trong tháng 3 và tháng 4 — dù vậy mùa giải của họ vẫn là một thành công lớn, khi câu lạc bộ trở lại hạng Ba sau 21 năm xa cách. Hai đội vào chung kết play-off là Crewe Alexandra và Crawley Town, cả hai chỉ giành được vị trí play-off ở vòng cuối nhưng đã vượt qua dự đoán tại bán kết; cuối cùng đội chiến thắng là Crawley Town, khi The Red Devils thắng ngay trong lần đầu tiên tới Wembley để chấm dứt chín năm vắng bóng khỏi League One và khép lại mùa giải trọn vẹn đầu tiên đầy thành công của huấn luyện viên Scott Lindsey, chỉ một mùa sau khi câu lạc bộ còn vừa thoát khỏi xuống hạng khỏi Football League.
Sau khi khởi đầu mùa giải với chỉ hai điểm sau bảy trận và có vẻ sẽ phải đua trụ hạng cả năm, Doncaster Rovers đã kết thúc chiến dịch bằng cú bứt phá ngoạn mục cuối mùa — bao gồm chuỗi mười trận thắng liên tiếp — để giành vị trí thứ Năm trước khi thua Crewe Alexandra trên loạt luân lưu. Barrow có mùa giải tốt nhất kể từ khi trở lại Football League, nằm trong top bảy trong phần lớn thời gian, nhưng chuỗi tệ hại chỉ hai điểm trong bảy trận của tháng 4, cộng với màn tăng tốc vũ bão cuối mùa của Doncaster, đã khiến họ lỡ play-off, mà nguyên nhân trực tiếp là trận hòa ở vòng cuối. Notts County, trong mùa giải đầu tiên trở lại Football League sau bốn năm, khởi đầu rất sáng sủa khi cạnh tranh mạnh mẽ suất play-off; tuy nhiên phong độ của The Magpies lao dốc sau năm mới sau khi huấn luyện viên giúp họ thăng hạng là Luke Williams rời đi để tới Swansea vào đầu tháng 1, và câu lạc bộ kết thúc ở vị trí thứ 14, trong một mùa giải có tới 175 bàn thắng, được chuyển hóa thành thành tích tấn công chỉ kém Stockport và Mansfield, nhưng thành tích phòng ngự lại còn tệ hơn cả hai đội xuống hạng. Harrogate Town có mùa giải tốt nhất lịch sử của mình với vị trí thứ 13, thậm chí còn chiếm một vị trí play-off muộn tới cuối tháng 2 — tuy vậy, chỉ ba chiến thắng kể từ dịp Valentine trở đi đã khiến họ hụt hơi trong giai đoạn nước rút.
Chỉ hai năm sau khi giành quyền lên hạng Ba, Forest Green Rovers đứng cuối bảng và nhận lần xuống hạng thứ Hai liên tiếp, rơi trở lại bóng đá ngoài hệ thống chuyên nghiệp sau bảy năm, trong một mùa giải tệ hại chứng kiến nhiều thay đổi trên băng ghế huấn luyện, bao gồm cả việc sa thải cầu thủ kiêm huấn luyện viên Troy Deeney sau một bài phát biểu bức xúc sau trận đấu về tinh thần của đội hình. Cuộc chiến tránh vị trí xuống hạng cuối cùng kéo dài tới vòng đấu cuối, khi Sutton United rơi trở lại bóng đá ngoài hệ thống chuyên nghiệp sau ba năm trong một mùa giải khó khăn; hi vọng của đội bóng London bị phá hỏng bởi hàng loạt trận hòa ở những trận đáng lẽ có thể thắng, bao gồm trận hòa 4-4 ở vòng cuối cùng của mùa giải. Colchester United nhiều lần flirt với nguy cơ xuống hạng trong suốt mùa giải nhưng cuối cùng vẫn vừa đủ tự kéo mình qua vạch an toàn nhờ sự cải thiện muộn về phong độ, bảo đảm trụ hạng ở vòng đấu cuối.
National League
Trong một cuộc đua vô địch một chiều bậc nhất ở hạng Năm, Chesterfield đã chấm dứt sáu năm vắng bóng khỏi Football League theo cách đầy ấn tượng, mang về cho huấn luyện viên Paul Cook lần thăng hạng thứ Hai cùng câu lạc bộ đúng một thập kỉ sau lần đầu tiên, với có lẽ nỗi thất vọng duy nhất là thành tích phòng ngự kém (thậm chí tệ hơn cả Kidderminster Harriers đã xuống hạng) và chuỗi phong độ sa sút sau khi vô địch khiến họ không thể phá các kỉ lục về số bàn thắng và số điểm do Wrexham và Notts County thiết lập ở mùa trước. Trận chung kết play-off rốt cuộc diễn ra giữa Bromley và Solihull Moors, một thành tích tuyệt vời cho cả hai câu lạc bộ khi chưa đội nào từng chơi ở Football League — và cuối cùng trận chung kết phải giải quyết bằng loạt luân lưu năm thứ Hai liên tiếp, với Bromley là đội chiến thắng, đem về cho huấn luyện viên Andy Woodman lần thăng hạng đầu tiên trong sự nghiệp và bảo đảm thành công thứ Hai trong hai năm tại Wembley cho câu lạc bộ, sau khi đã vô địch FA Trophy năm 2022 trước Wrexham.
Dù kết thúc ở vị trí thứ Sáu trên bảng xếp hạng, một thành tích đáng chú ý nếu xét tới việc huấn luyện viên ra đi chỉ vài tháng sau đầu mùa, Gateshead đã bị loại khỏi play-off vì các vấn đề liên quan tới quyền sở hữu sân, lần đầu tiên có đội bị loại khỏi quy trình thăng hạng của hạng Năm kể từ khi Stevenage bị từ chối suất thăng hạng trực tiếp vì lí do tương tự vào năm 1996. Southend United trải qua một mùa giải đầy biến động cả trong lẫn ngoài sân cỏ, đối mặt với nguy cơ bị thanh lí trong những tháng đầu trước khi cuối cùng có chủ sở hữu mới — còn trên sân, họ đáng ra đã đủ điều kiện dự play-off nếu không bị trừ 10 điểm vì sai phạm tài chính. Hartlepool United và Rochdale, cả hai đều xuống hạng từ Football League ở mùa trước, rốt cuộc đều có mùa giải đáng thất vọng; dù cùng kết thúc ở nửa trên bảng xếp hạng, không đội nào thực sự tiến gần tới việc lập tức trở lại League Two, còn Rochdale ngoài ra còn phải đối mặt với bất ổn tài chính ngoài sân cỏ bên cạnh kết quả kém tại giải.
Mùa giải đầu tiên trong lịch sử của Oxford City ở cấp độ này kết thúc bằng việc xuống hạng ngay lập tức, phần lớn do nửa sau mùa giải quá tệ khiến họ rơi xuống đáy bảng. Dorking Wanderers xuống hạng sau hai mùa, cũng bị kéo xuống bởi phong độ đáng thất vọng sau năm mới khi việc không thắng nổi trận nào trong 11 trận cuối cùng rốt cuộc trở nên chí mạng. Mùa giải đầu tiên của Kidderminster Harriers ở cấp độ này sau tám năm diễn ra đáng thất vọng, khi nửa đầu mùa giải quá tệ rốt cuộc là điều không thể cứu vãn, dù đội vẫn gây ngạc nhiên khi có thành tích phòng ngự tốt hơn cả Chesterfield. Boreham Wood chiếm vị trí xuống hạng cuối cùng, chấm dứt chín năm liên tiếp ở cấp độ này, đồng thời xuống hạng với tổng điểm cao nhất từng có của một đội rớt khỏi hạng Năm, chỉ một mùa sau khi suýt vào tới chung kết play-off. Bản mẫu:National League 2023–24 table
North
Bản mẫu:National League 2023–24 North table
South
Bản mẫu:National League 2023–24 South table
Play-off League
Play-off Football League
EFL Championship
Chung kết
Chung kết play-off EFL Championship 2024
EFL League One
Chung kết
Chung kết play-off EFL League One 2024
EFL League Two
Chung kết
Chung kết play-off EFL League Two 2024
Play-off National League
National League
Chung kết
Chung kết play-off National League 2024
Giải đấu cúp
Cúp FA
Chung kết
EFL Cup
Chung kết
Community Shield
| Arsenal | 1–1 | Manchester City |
|---|---|---|
|
Chi tiết |
|
| Loạt sút luân lưu | ||
| 4–1 | ||
EFL Trophy
Chung kết
FA Trophy
Chung kết
Bóng đá nữ
Women's Super League
Women's Championship
FA Women's National League
Giải đấu cúp
Women's FA Cup
Chung kết
FA Women's League Cup
Chung kết
| Arsenal (1) | 1-0 (s.h.p.) | Chelsea (1) |
|---|---|---|
|
Thay đổi huấn luyện viên
Đây là danh sách những thay đổi huấn luyện viên trong bóng đá thuộc hệ thống giải Anh:
| Đội | Huấn luyện viên ra đi | Hình thức ra đi | Ngày ra đi | Vị trí trên bảng xếp hạng | Huấn luyện viên đến | Ngày bổ nhiệm |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Watford | Hết hạn hợp đồng | 8 tháng 5 năm 2023 | Trước mùa giải | 10 tháng 5 năm 2023 | ||
| Blackpool | Kết thúc giai đoạn tạm quyền | 23 tháng 5 năm 2023 | ||||
| Reading | 26 tháng 6 năm 2023 | |||||
| Swindon Town | 8 tháng 5 năm 2023 | |||||
| Doncaster Rovers | Bị sa thải | 9 tháng 5 năm 2023 | 12 tháng 5 năm 2023 | |||
| Milton Keynes Dons | 27 tháng 5 năm 2023 | |||||
| Cardiff City | Hết hạn hợp đồng | 16 tháng 5 năm 2023 | 3 tháng 6 năm 2023 | |||
| Tottenham Hotspur | Kết thúc giai đoạn tạm quyền | 28 tháng 5 năm 2023 | 6 tháng 6 năm 2023 | |||
| Chelsea | 29 tháng 5 năm 2023 | |||||
| Southampton | Hết hạn hợp đồng | 21 tháng 6 năm 2023 | ||||
| Leicester City | 16 tháng 6 năm 2023 | |||||
| Leeds United | Đồng thuận chấm dứt | 2 tháng 6 năm 2023 | 4 tháng 7 năm 2023 | |||
| Shrewsbury Town | Từ chức | 6 tháng 6 năm 2023 | 26 tháng 6 năm 2023 | |||
| Bournemouth | Bị sa thải | 19 tháng 6 năm 2023 | 19 tháng 6 năm 2023 | |||
| Sheffield Wednesday | Đồng thuận chấm dứt | 4 tháng 7 năm 2023 | ||||
| Swansea City | Được Southampton chiêu mộ | 21 tháng 6 năm 2023 | 22 tháng 6 năm 2023 | |||
| Barnsley | Được Swansea City chiêu mộ | 22 tháng 6 năm 2023 | 6 tháng 7 năm 2023 | |||
| Forest Green Rovers | Bị sa thải | 4 tháng 7 năm 2023 | 18 tháng 7 năm 2023 | |||
| Wolverhampton Wanderers | Đồng thuận chấm dứt | 8 tháng 8 năm 2023 | 9 tháng 8 năm 2023 | |||
| Charlton Athletic | Bị sa thải | 27 tháng 8 năm 2023 | 19th | 8 tháng 9 năm 2023 | ||
| Fleetwood Town | 3 tháng 9 năm 2023 | 23rd | 10 tháng 9 năm 2023 | |||
| Tranmere Rovers | 10 tháng 9 năm 2023 | 22nd | 10 tháng 9 năm 2023 | |||
| Huddersfield Town | Từ chức | 20 tháng 9 năm 2023 | 16th | 21 tháng 9 năm 2023 | ||
| Cheltenham Town | Đồng thuận chấm dứt | 24th | 29 tháng 9 năm 2023 | |||
| Bradford City | Bị sa thải | 4 tháng 10 năm 2023 | 18th | 6 tháng 11 năm 2023 | ||
| Sheffield Wednesday | 24th | 13 tháng 10 năm 2023 | ||||
| Gillingham | 5 tháng 10 năm 2023 | 8th | 1 tháng 11 năm 2023 | |||
| Birmingham City | 9 tháng 10 năm 2023 | 6th | 11 tháng 10 năm 2023 | |||
| Milton Keynes Dons | 16 tháng 10 năm 2023 | 16th | 17 tháng 10 năm 2023 | |||
| Lincoln City | 18 tháng 10 năm 2023 | 16th | 13 tháng 11 năm 2023 | |||
| Millwall | Đồng thuận chấm dứt | 15th | 6 tháng 11 năm 2023 | |||
| Colchester United | Bị sa thải | 21 tháng 10 năm 2023 | 23rd | 21 tháng 10 năm 2023 | ||
| Bristol Rovers | 26 tháng 10 năm 2023 | 16th | 1 tháng 12 năm 2023 | |||
| Grimsby Town | 28 tháng 10 năm 2023 | 21st | 27 tháng 11 năm 2023 | |||
| Queens Park Rangers | 23rd | 30 tháng 10 năm 2023 | ||||
| Bristol City | 29 tháng 10 năm 2023 | 15th | 7 tháng 11 năm 2023 | |||
| Oxford United | Được Bristol City chiêu mộ | 7 tháng 11 năm 2023 | 2nd | 16 tháng 11 năm 2023 | ||
| Rotherham United | Bị sa thải | 13 tháng 11 năm 2023 | 22nd | 11 tháng 12 năm 2023 | ||
| Morecambe | Được Ross County chiêu mộ | 20 tháng 11 năm 2023 | 9th | 27 tháng 11 năm 2023 | ||
| Cambridge United | Bị sa thải | 29 tháng 11 năm 2023 | 18th | 6 tháng 12 năm 2023 | ||
| Swansea City | 4 tháng 12 năm 2023 | 18th | 5 tháng 1 năm 2024 | |||
| Sunderland | 9th | 18 tháng 12 năm 2023 | ||||
| Sheffield United | 5 tháng 12 năm 2023 | 20th | 5 tháng 12 năm 2023 | |||
| Burton Albion | 9 tháng 12 năm 2023 | 19th | 11 tháng 1 năm 2024 | |||
| Stoke City | 10 tháng 12 năm 2023 | 20th | 19 tháng 12 năm 2023 | |||
| Sutton United | 19 tháng 12 năm 2023 | 24th | 6 tháng 1 năm 2024 | |||
| Nottingham Forest | 17th | 20 tháng 12 năm 2023 | ||||
| Plymouth Argyle | Được Stoke City chiêu mộ | 16th | 5 tháng 1 năm 2024 | |||
| Forest Green Rovers F.C. | Đồng thuận chấm dứt | 20 tháng 12 năm 2023 | 23rd | 20 tháng 12 năm 2023 | ||
| Salford City | Bị sa thải | 27 tháng 12 năm 2023 | 21st | 5 tháng 1 năm 2024 | ||
| Fleetwood Town | 30 tháng 12 năm 2023 | 23rd | 31 tháng 12 năm 2023 | |||
| Colchester United | 1 tháng 1 năm 2024 | 22nd | 4 tháng 1 năm 2024 | |||
| Birmingham City | 2 tháng 1 năm 2024 | 20th | 8 tháng 1 năm 2024 | |||
| Notts County | Được Swansea City chiêu mộ | 5 tháng 1 năm 2024 | 5th | 18 tháng 1 năm 2024 | ||
| Swindon Town | Đồng thuận chấm dứt | 15 tháng 1 năm 2024 | 15th | 15 tháng 1 năm 2024 | ||
| Forest Green Rovers | Bị sa thải | 18 tháng 1 năm 2024 | 24th | 25 tháng 1 năm 2024 | ||
| Shrewsbury Town | 21 tháng 1 năm 2024 | 19th | 24 tháng 1 năm 2024 | |||
| Charlton Athletic | 23 tháng 1 năm 2024 | 16th | 4 tháng 2 năm 2024 | |||
| Huddersfield Town | 29 tháng 1 năm 2024 | 21st | 15 tháng 2 năm 2024 | |||
| Port Vale | 5 tháng 2 năm 2024 | 20th | 13 tháng 2 năm 2024 | |||
| Blackburn Rovers | Đồng thuận chấm dứt | 9 tháng 2 năm 2024 | 18th | 9 tháng 2 năm 2024 | ||
| Crystal Palace | Từ chức | 19 tháng 2 năm 2024 | 16th | 19 tháng 2 năm 2024 | ||
| Sunderland | Bị sa thải | 10th | 19 tháng 2 năm 2024 | |||
| Millwall | 21 tháng 2 năm 2024 | 21st | 21 tháng 2 năm 2024 | |||
| Cambridge United | Được Millwall chiêu mộ | 17th | 4 tháng 3 năm 2024 | |||
| Accrington Stanley | Bị sa thải | 3 tháng 3 năm 2024 | 16th | 4 tháng 3 năm 2024 | ||
| Watford | 9 tháng 3 năm 2024 | 13th | 9 tháng 3 năm 2024 | |||
| Birmingham City | Tạm nghỉ vì lí do sức khỏe | 19 tháng 3 năm 2024 | 21st | 19 tháng 3 năm 2024 | ||
| Plymouth Argyle | Bị sa thải | 1 tháng 4 năm 2024 | 21st | (huấn luyện viên trưởng tạm quyền) |
1 tháng 4 năm 2024 | |
| Rotherham United | 17 tháng 4 năm 2024 | 24th | 17 tháng 4 năm 2024 | |||
| Stevenage | Được Rotherham United chiêu mộ | 17 tháng 4 năm 2024 | 9th | 17 tháng 4 năm 2024 | ||
| Barnsley | Bị sa thải | 22 tháng 4 năm 2024 | 5th | 22 tháng 4 năm 2024 |
- ^ Adkins ban đầu được bổ nhiệm làm huấn luyện viên tạm quyền trước khi chính thức được bổ nhiệm lâu dài vào ngày 2 tháng 11 năm 2023
- ^ Etherington ban đầu được giao công việc trên cương vị tạm quyền trước khi chính thức được bổ nhiệm vào ngày 16 tháng 11 năm 2023
- ^ Doolan ban đầu được bổ nhiệm làm huấn luyện viên tạm quyền trước khi chính thức được giao công việc này vào ngày 22 tháng 3 năm 2024
- ^ Cleverley ban đầu được bổ nhiệm làm huấn luyện viên tạm quyền trước khi chính thức được giao công việc này vào ngày 24 tháng 4 năm 2024.
Qua đời
- 3 tháng 6 năm 2023: Josser Watling, 98 tuổi, tiền đạo cánh trái của Bristol Rovers.
- 14 tháng 6 năm 2023: John Hollins MBE, 76 tuổi, hậu vệ/tiền vệ của Anh, Chelsea, Queens Park Rangers và Arsenal, người cũng từng làm huấn luyện viên của Chelsea, Swansea City và Rochdale.
- 15 tháng 6 năm 2023: Gordon McQueen, 70 tuổi, hậu vệ của Scotland, Manchester United và Leeds United.
- 22 tháng 6 năm 2023: Dave Wilkes, 59 tuổi, tiền vệ của Barnsley, Stockport County và Carlisle United.
- 24 tháng 6 năm 2023: Cédric Roussel, 45 tuổi, tiền đạo của Bỉ, Coventry City và Wolverhampton Wanderers.
- 26 tháng 6 năm 2023: Craig Brown CBE, 82 tuổi, huấn luyện viên của Preston North End.
- 27 tháng 6 năm 2023: Max Thompson, 66 tuổi, hậu vệ của Liverpool, Blackpool, Swansea City và AFC Bournemouth.
- 28 tháng 6 năm 2023: Willie Carrick, 70 tuổi, thủ môn của Luton Town.
- 2 tháng 7 năm 2023: Wayne Evans, 51 tuổi, hậu vệ của Walsall và Rochdale.
- 5 tháng 7 năm 2023: Keith Ball, 82 tuổi, thủ môn của Walsall và Port Vale.
- 13 tháng 7 năm 2023: Chris Garland, 74 tuổi, tiền đạo của Bristol City, Chelsea và Leicester City.
- 18 tháng 7 năm 2023: Mike Hellawell, 85 tuổi, tiền đạo cánh phải của Anh, Queens Park Rangers, Birmingham City, Sunderland, Huddersfield Town và Peterborough United.
- 22 tháng 7 năm 2023: Paul Hince, 78 tuổi, cầu thủ chạy cánh của Manchester City, Charlton Athletic, Bury và Crewe Alexandra.
- 24 tháng 7 năm 2023: Chris Bart-Williams, 49 tuổi, tiền vệ của Leyton Orient, Sheffield Wednesday, Nottingham Forest, Charlton Athletic và Ipswich Town.
- 24 tháng 7 năm 2023: Trevor Francis, 69 tuổi, tiền đạo của Anh, Birmingham City, Nottingham Forest, Manchester City, Queens Park Rangers và Sheffield Wednesday, người cũng từng làm huấn luyện viên của Queens Park Rangers, Sheffield Wednesday, Birmingham City và Crystal Palace.
- 24 tháng 7 năm 2023: Tony Priscott, 82 tuổi, cầu thủ chạy cánh của Portsmouth, Aldershot và AFC Bournemouth.
- 1 tháng 8 năm 2023: Tony Brien, 54 tuổi, hậu vệ của Leicester City, Chesterfield, Rotherham United, West Bromwich Albion và Hull City.
- 9 tháng 8 năm 2023: John Coddington, 85 tuổi, hậu vệ của Huddersfield Town, Blackburn Rovers và Stockport County.
- 10 tháng 8 năm 2023: Alec Jackson, 86 tuổi, cầu thủ chạy cánh của West Bromwich Albion, Birmingham City và Walsall.
- 13 tháng 8 năm 2023: Joe Caven, 86 tuổi, tiền đạo của Brighton & Hove Albion.
- 14 tháng 8 năm 2023: Brian Snowdon, 88 tuổi, hậu vệ của Blackpool, Portsmouth, Millwall và Crystal Palace.
- 21 tháng 8 năm 2023: Andy Rankin, 79 tuổi, thủ môn của Everton, Watford và Huddersfield Town.
- 22 tháng 8 năm 2023: Barry Howard, 73 tuổi, tiền đạo của Stockport County.
- 22 tháng 8 năm 2023: Bobby Noble, 77 tuổi, hậu vệ của Manchester United.
- 2 tháng 9 năm 2023: Mark Pearson, 83 tuổi, tiền đạo trong của Manchester United, Sheffield Wednesday, Fulham và Halifax Town.
- 5 tháng 9 năm 2023: Robin Gladwin, 83 tuổi, hậu vệ của Norwich City và Oxford United.
- 6 tháng 9 năm 2023: Ian Hamilton, 55 tuổi, tiền vệ của Cambridge United, Scunthorpe United, West Bromwich Albion, Sheffield United, Notts County và Lincoln City.
- khoảng 9 tháng 9 năm 2023: John Harris, 84 tuổi, hậu vệ của Wolverhampton Wanderers và Walsall.
- 10 tháng 9 năm 2023: Colin Ayre, 67 tuổi, tiền vệ của Torquay United.
- 16 tháng 9 năm 2023: Colin Murphy, 79 tuổi, huấn luyện viên của Derby County, Lincoln City, Stockport County, Southend United và Notts County.
- 17 tháng 9 năm 2023: Arthur Longbottom, 90 tuổi, tiền đạo của Queens Park Rangers, Port Vale, Millwall, Oxford United và Colchester United.
- 25 tháng 9 năm 2023: Harry Poole, 88 tuổi, tiền vệ của Port Vale.
- khoảng 26 tháng 9 năm 2023: David Hughes, 65 tuổi, tiền vệ của Aston Villa, Lincoln City và Scunthorpe United.
- 27 tháng 9 năm 2023: Jim Forrest, 79 tuổi, tiền đạo của Scotland và Preston North End.
- 2 tháng 10 năm 2023: Francis Lee CBE, 79 tuổi, tiền đạo của Anh, Bolton Wanderers, Manchester City và Derby County, người cũng từng là chủ tịch của Manchester City trong bốn năm.
- 2 tháng 10 năm 2023: Gary Simpson, 64 tuổi, tiền đạo của Chesterfield và Chester City.
- 4 tháng 10 năm 2023: Tommy Hoyland, 91 tuổi, tiền vệ của Sheffield United và Bradford City.
- 6 tháng 10 năm 2023: Bill Munro, 89 tuổi, tiền đạo trong của Barrow.
- 10 tháng 10 năm 2023: Wilf Billington, 93 tuổi, thủ môn của Workington.
- 12 tháng 10 năm 2023: Neil Le Bihan, 47 tuổi, tiền vệ của Peterborough United.
- 15 tháng 10 năm 2023: Gerry Ryan, 68 tuổi, tiền đạo của Cộng hòa Ireland, Derby County và Brighton & Hove Albion.
- 17 tháng 10 năm 2023: Gordon Low, 83 tuổi, hậu vệ của Huddersfield Town, Bristol City, Stockport County và Crewe Alexandra.
- 21 tháng 10 năm 2023: Sir Bobby Charlton CBE, 86 tuổi, thành viên đội tuyển Anh vô địch World Cup 1966, người đã ra sân hơn 600 trận cho Manchester United và cũng từng là cầu thủ kiêm huấn luyện viên của Preston North End.
- 23 tháng 10 năm 2023: Bill Gates, 79 tuổi, hậu vệ của Middlesbrough.
- 24 tháng 10 năm 2023: Bill Kenwright, 78 tuổi, chủ tịch của Everton.
- 26 tháng 10 năm 2023: John Wilkie, 76 tuổi, cầu thủ chạy cánh của Halifax Town và Wigan Athletic.
- 28 tháng 10 năm 2023: Domenico Genovese, 62 tuổi, tiền đạo của Peterborough United.
- 29 tháng 10 năm 2023: Charlie Aitken, 81 tuổi, hậu vệ của Aston Villa, người đang giữ kỉ lục số lần ra sân cho câu lạc bộ với 660 trận trong giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1976.
- tháng 10 năm 2023: Ronnie Rees, 79 tuổi, cầu thủ chạy cánh của Wales, Coventry City, West Bromwich Albion, Nottingham Forest và Swansea City.
- 6 tháng 11 năm 2023: John Fahy, 80 tuổi, tiền đạo của Oxford United.
- 10 tháng 11 năm 2023: Miah Dennehy, 73 tuổi, cầu thủ chạy cánh của Cộng hòa Ireland, Nottingham Forest, Walsall và Bristol Rovers.
- 14 tháng 11 năm 2023: Barrie Wright, 78 tuổi, hậu vệ của Leeds United và Brighton & Hove Albion.
- 22 tháng 11 năm 2023: Mike Bickle, 79 tuổi, tiền đạo của Plymouth Argyle và Gillingham.
- 25 tháng 11 năm 2023: Terry Venables, 80 tuổi, tiền vệ của Anh, Chelsea, Tottenham Hotspur, Queens Park Rangers và Crystal Palace, người cũng từng làm huấn luyện viên của đội tuyển Anh, Crystal Palace, Queens Park Rangers, Tottenham Hotspur, Middlesbrough và Leeds United.
- 28 tháng 11 năm 2023: Rod Fletcher, 78 tuổi, tiền đạo của Crewe Alexandra, Lincoln City, Scunthorpe United và Grimsby Town.
- 28 tháng 11 năm 2023: Alex Smith, 85 tuổi, thủ môn của Bolton Wanderers, Halifax Town và Preston North End.
- 29 tháng 11 năm 2023: Frank Corrigan, 71 tuổi, tiền vệ của Walsall và Wigan Athletic.
- khoảng 5 tháng 12 năm 2023: Martin Patching, 65 tuổi, tiền vệ của Wolverhampton Wanderers và Watford.
- 19 tháng 12 năm 2023: Andy Clements, 68 tuổi, hậu vệ của Bolton Wanderers và York City.
- 20 tháng 12 năm 2023: Pat Quartermain, 86 tuổi, hậu vệ của Oxford United.
- 26 tháng 12 năm 2023: Noel Peyton, 88 tuổi, tiền đạo trong của Cộng hòa Ireland, Leeds United và York City.
- 30 tháng 12 năm 2023: Bernie Fagan, 74 tuổi, hậu vệ của Northampton Town.
- 30 tháng 12 năm 2023: Lammie Robertson, 76 tuổi, tiền vệ của Bury, Halifax Town, Brighton & Hove Albion, Exeter City, Leicester City, Peterborough United và Bradford City.
- 3 tháng 1 năm 2024: Bobby Hoy, 73 tuổi, tiền vệ của Huddersfield Town, Blackburn Rovers, Halifax Town, York City và Rochdale.
- 10 tháng 1 năm 2024: Peter Johnson, 84 tuổi, chủ tịch của Everton và Tranmere Rovers.
- 11 tháng 1 năm 2024: Mel Blyth, 79 tuổi, hậu vệ của Scunthorpe United, Crystal Palace, Southampton và Millwall.
- 17 tháng 1 năm 2024: Alex South, 93 tuổi, hậu vệ của Brighton & Hove Albion, Liverpool và Halifax Town.
Giải nghệ
- 5 tháng 6 năm 2023: Zlatan Ibrahimović, 41 tuổi, cựu tiền đạo của Thụy Điển và Manchester United.
- 5 tháng 6 năm 2023: Jacob Mellis, 32 tuổi, cựu tiền vệ của Chelsea, Southampton, Barnsley, Blackpool, Oldham Athletic, Bury, Mansfield Town, Bolton Wanderers, Gillingham và Southend United.
- 14 tháng 6 năm 2023: Rhys Williams, 34 tuổi, cựu hậu vệ của Úc, Middlesbrough, Burnley và Charlton Athletic.
- 21 tháng 6 năm 2023: Asamoah Gyan, 37 tuổi, cựu tiền đạo của Ghana và Sunderland, người giữ kỉ lục ghi nhiều bàn thắng nhất cho đội tuyển quốc gia của mình.
- 26 tháng 6 năm 2023: Maxime Le Marchand, 31 tuổi, cựu hậu vệ của Fulham.
- 27 tháng 6 năm 2023: Phil Bardsley, 37 tuổi, cựu hậu vệ của Scotland, Manchester United, Sunderland, Stoke City, Burnley và Stockport County.
- 30 tháng 6 năm 2023: Aaron Mooy, 32 tuổi, cựu tiền vệ của Úc, Bolton Wanderers, Manchester City, Huddersfield Town và Brighton & Hove Albion.
- 1 tháng 7 năm 2023: Tom Cleverley, 33 tuổi, cựu tiền vệ của Anh, đội tuyển bóng đá Olympic Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Manchester United, Everton và Watford.
- 1 tháng 7 năm 2023: Cesc Fabregas, 36 tuổi, cựu tiền vệ của Tây Ban Nha, Arsenal và Chelsea.
- 5 tháng 7 năm 2023: André Moritz, 36 tuổi, cựu tiền vệ của Crystal Palace và Bolton Wanderers.
- 10 tháng 7 năm 2023: Willy Caballero, 41 tuổi, cựu thủ môn của Argentina, Manchester City, Chelsea và Southampton.
- 27 tháng 7 năm 2023: Eoin Doyle, 35 tuổi, cựu tiền đạo của Chesterfield, Cardiff City, Preston North End, Bradford City, Swindon Town và Bolton Wanderers.
- 27 tháng 7 năm 2023: David Silva, 37 tuổi, cựu tiền vệ của Tây Ban Nha và Manchester City.
- 3 tháng 8 năm 2023: Luke Chambers, 37 tuổi, cựu hậu vệ của Northampton Town, Nottingham Forest, Ipswich Town và Colchester United.
- 7 tháng 8 năm 2023: James McArthur, 35 tuổi, cựu tiền vệ của Scotland, Wigan Athletic và Crystal Palace.
- 16 tháng 8 năm 2023: Eddie Nolan, 35 tuổi, cựu hậu vệ của Cộng hòa Ireland, Blackburn Rovers, Preston North End, Scunthorpe United, York City, Blackpool và Crewe Alexandra.
- 17 tháng 8 năm 2023: Henri Lansbury, 32 tuổi, cựu tiền vệ của Arsenal, Nottingham Forest, Aston Villa, Bristol City và Luton Town.
- 12 tháng 8 năm 2023: Kevin-Prince Boateng, 36 tuổi, cựu tiền vệ và tiền đạo của Ghana và Portsmouth.
- 18 tháng 8 năm 2023: Theo Walcott, 34 tuổi, cựu tiền đạo của Anh, Southampton, Arsenal và Everton.
- 21 tháng 8 năm 2023: Ben Foster, 40 tuổi, cựu thủ môn của Anh, Wrexham, Manchester United, Watford, Birmingham City và West Bromwich Albion.
- 29 tháng 8 năm 2023: Matthew Briggs, 32 tuổi, cựu hậu vệ của Guyana, Fulham, Millwall, Colchester United, Chesterfield và Barnet.
- 1 tháng 9 năm 2023: David Wheater, 36 tuổi, cựu hậu vệ của Middlesbrough, Doncaster Rovers, Wolverhampton Wanderers, Darlington, Bolton Wanderers và Oldham Athletic.
- 4 tháng 9 năm 2023: Tom Clarke, 35 tuổi, cựu hậu vệ của Huddersfield Town, Bradford City, Leyton Orient, Preston North End, Salford City và Fleetwood Town.
- 4 tháng 9 năm 2023: Charlie Mulgrew, 37 tuổi, cựu hậu vệ của Scotland, Wolverhampton Wanderers và Blackburn Rovers.
- 4 tháng 9 năm 2023: Sandro, 34 tuổi, cựu tiền vệ của Brasil, Tottenham Hotspur và Queens Park Rangers.
- 11 tháng 9 năm 2023: Anssi Jaakkola, 36 tuổi, cựu thủ môn của Phần Lan, Reading và Bristol Rovers.
- 13 tháng 9 năm 2023: Chris Hussey, 34 tuổi, cựu hậu vệ của Coventry City, Crewe Alexandra, AFC Wimbledon, Burton Albion, Bury, Sheffield United, Swindon Town, Cheltenham Town, Port Vale, Stockport County và Walsall.
- 14 tháng 9 năm 2023: Sam Baldock, 34 tuổi, cựu tiền đạo của Milton Keynes Dons, West Ham United, Bristol City, Brighton & Hove Albion, Reading, Derby County và Oxford United.
- 20 tháng 9 năm 2023: Danny Rose, 35 tuổi, cựu tiền vệ của Fleetwood Town, Aldershot Town, Oxford United, Northampton Town, Portsmouth, Swindon Town và Grimsby Town.
- 20 tháng 9 năm 2023: Craig Cathcart, 34 tuổi, cựu hậu vệ của Bắc Ireland, Blackpool và Watford.
- 3 tháng 10 năm 2023: Tom Rogic, 30 tuổi, cựu tiền vệ của Úc và West Bromwich Albion.
- 8 tháng 10 năm 2023: Loïc Rémy, 36 tuổi, cựu tiền đạo của Pháp, Queens Park Rangers và Chelsea.
- 10 tháng 10 năm 2023: Eden Hazard, 32 tuổi, cựu cầu thủ chạy cánh của Bỉ và Chelsea.
- 17 tháng 10 năm 2023: Mike Williamson, 39 tuổi, cựu hậu vệ của Torquay United, Wycombe Wanderers, Watford, Newcastle United, Wolverhampton Wanderers và Oxford United.
- 23 tháng 10 năm 2023: Darnell Fisher, 29 tuổi, cựu hậu vệ của Rotherham United, Preston North End và Middlesbrough.
- 30 tháng 10 năm 2023: Danny Drinkwater, 33 tuổi, cựu tiền vệ của Anh, Leicester City và Chelsea.
- 30 tháng 10 năm 2023: Craig Noone, 35 tuổi, cựu tiền vệ của Skelmersdale, Burscough, Southport, Plymouth Argyle, Exeter City, Brighton & Hove Albion, Cardiff City và Bolton Wanderers.
- 1 tháng 11 năm 2023: Kean Bryan, 27 tuổi, cựu hậu vệ của Sheffield United và West Bromwich Albion.
- 14 tháng 11 năm 2023: Alex Song, 36 tuổi, cựu tiền vệ và hậu vệ của Cameroon, Arsenal, Charlton Athletic và West Ham United.
- 17 tháng 11 năm 2023: Royston Drenthe, 36 tuổi, cựu cầu thủ chạy cánh của Hà Lan, Everton, Sheffield Wednesday và Reading.
- 28 tháng 11 năm 2023: Phil Jagielka, 41 tuổi, cựu hậu vệ của Anh, Sheffield United, Everton, Derby County và Stoke City.
- 28 tháng 11 năm 2023: Carl Magnay, 34 tuổi, cựu hậu vệ của Milton Keynes Dons, Northampton Town và Hartlepool United.
- 29 tháng 11 năm 2023: Craig Woodman, 40 tuổi, cựu hậu vệ của Bristol City, Mansfield Town, Torquay United, Wycombe Wanderers, Brentford và Exeter City.
- 6 tháng 12 năm 2023: Sam Winnall, 32 tuổi, cựu tiền đạo của Wolverhampton Wanderers, Scunthorpe United, Barnsley, Sheffield Wednesday, Oxford United và Burton Albion.
- 8 tháng 12 năm 2023: Liam O'Neil, 30 tuổi, cựu tiền vệ của West Bromwich Albion, Chesterfield và Cambridge United.
- 18 tháng 12 năm 2023: Emyr Huws, 30 tuổi, cựu tiền vệ của Wales, Manchester City, Wigan Athletic, Cardiff City, Ipswich Town và Colchester United.
- 6 tháng 1 năm 2024: Luke Joyce, 36 tuổi, cựu tiền vệ của Carlisle United, Accrington Stanley và Port Vale.
- 7 tháng 1 năm 2024: James Hanson, 37 tuổi, cựu tiền đạo của Bradford City, Sheffield United, Bury, AFC Wimbledon và Grimsby Town.
- 16 tháng 1 năm 2024: Robert Snodgrass, 36 tuổi, cựu tiền vệ của Scotland, Leeds United, Norwich City, Hull City, West Ham United, West Bromwich Albion và Luton Town.
- 22 tháng 1 năm 2024: Alex Smithies, 33 tuổi, cựu thủ môn của Huddersfield Town, Queens Park Rangers, Cardiff City và Leicester City.
- 25 tháng 1 năm 2024: Steven Davis MBE, 39 tuổi, cựu tiền vệ của Bắc Ireland, Aston Villa, Fulham và Southampton.
- 31 tháng 1 năm 2024: Ira Jackson Jr, 27 tuổi, cựu tiền đạo của Grimsby Town.
- 3 tháng 2 năm 2024: Marouane Fellaini, 36 tuổi, cựu tiền vệ của Bỉ, Everton và Manchester United.
- 6 tháng 2 năm 2024: Nicolai Brock-Madsen, 31 tuổi, cựu tiền đạo của Birmingham City.
- 6 tháng 2 năm 2024: Jamie Devitt, 33 tuổi, cựu tiền vệ của Hull City, Chesterfield, Morecambe, Carlisle United và Barrow.
- 6 tháng 2 năm 2024: James Weir, 28 tuổi, cựu tiền vệ của Manchester United, Hull City, Wigan Athletic và Bolton Wanderers.
- 28 tháng 2 năm 2024: George Friend, 36 tuổi, cựu hậu vệ của Exeter City, Wolverhampton Wanderers, Millwall, Southend United, Scunthorpe United, Doncaster Rovers, Middlesbrough, Birmingham City và Bristol Rovers.
- 16 tháng 3 năm 2024: Liam Fontaine, 38 tuổi, cựu hậu vệ của Fulham và Bristol City.
- 16 tháng 3 năm 2024: Jeffrey Monakana, 30 tuổi, cựu tiền vệ của Preston North End, Colchester United, Crawley Town, Mansfield Town, Carlisle United và Bristol Rovers.
- 10 tháng 4 năm 2024: Stuart Dallas, 32 tuổi, cựu tiền vệ/hậu vệ của Bắc Ireland, Brentford và Leeds United.
- 20 tháng 4 năm 2024: Alan Julian, 41 tuổi, cựu thủ môn của Brentford, Gillingham và Stevenage.
- 26 tháng 4 năm 2024: Bradley Johnson, 36 tuổi, cựu tiền vệ của Cambridge United, Northampton Town, Leeds United, Norwich City, Derby County, Blackburn Rovers và Milton Keynes Dons.
- 27 tháng 4 năm 2024: Louis Dodds, 37 tuổi, cựu tiền vệ/tiền đạo của Port Vale, Shrewsbury Town và Chesterfield.
- 29 tháng 4 năm 2024: David Norris, 43 tuổi, cựu tiền vệ của Bolton Wanderers, Plymouth Argyle, Ipswich Town, Portsmouth, Leeds United, Peterborough United, Yeovil Town và Blackpool.
- 29 tháng 4 năm 2024: Chris Solly, 33 tuổi, cựu hậu vệ của Charlton Athletic.
- 3 tháng 5 năm 2024: Richard Keogh, 37 tuổi, cựu hậu vệ của Cộng hòa Ireland, Bristol City, Carlisle United, Coventry City, Derby County, Milton Keynes Dons, Huddersfield Town, Blackpool, Ipswich Town, Wycombe Wanderers và Forest Green Rovers.
- 4 tháng 5 năm 2024: Andy King, 35 tuổi, cựu tiền vệ của Wales, Leicester City và Bristol City.
- 6 tháng 5 năm 2024: Sone Aluko, 35 tuổi, cựu tiền đạo của Nigeria, Birmingham City, Hull City, Fulham, Reading và Ipswich Town.
- 16 tháng 5 năm 2024: Nathan Blissett, 33 tuổi, cựu tiền đạo của Bristol Rovers, Plymouth Argyle và Macclesfield Town.
- 16 tháng 5 năm 2024: John White, 37 tuổi, cựu hậu vệ của Colchester United và Southend United.
- 18 tháng 5 năm 2024: Antony Kay, 41 tuổi, cựu hậu vệ của Barnsley, Tranmere Rovers, Huddersfield Town, Milton Keynes Dons, Bury và Port Vale.
- 23 tháng 5 năm 2024: Dan Gosling, 34 tuổi, cựu tiền vệ của Plymouth Argyle, Everton, Newcastle United, Blackpool, AFC Bournemouth, Watford và Notts County.
- 25 tháng 5 năm 2024: Joe Hart, 37 tuổi, cựu thủ môn của Anh, Shrewsbury Town, Manchester City, Burnley và Tottenham Hotspur.
- 25 tháng 5 năm 2024: Sokratis Papastathopoulos, 35 tuổi, cựu hậu vệ của Hi Lạp và Arsenal.
- 27 tháng 5 năm 2024: Yaser Kasim, 33 tuổi, cựu tiền vệ của Iraq, Brighton & Hove Albion, Swindon Town và Northampton Town.
Nhật ký mùa giải
- 31 tháng 8 năm 2023: Tháng đầu tiên của mùa giải mới khép lại với đương kim vô địch Manchester City đứng đầu Premier League, là đội duy nhất giành chiến thắng trong cả ba trận đầu tiên. West Ham United, Tottenham Hotspur, Liverpool và Arsenal cũng bất bại ở giai đoạn đầu mùa với cùng bảy điểm, trong khi Brighton & Hove Albion, Aston Villa và Manchester United đều có sáu điểm. Everton khép lại tháng Tám ở đáy bảng với không điểm nào và cũng chưa ghi được bàn thắng nào, cùng nằm trong nhóm xuống hạng với tân binh Luton Town (thứ 19) và Burnley, khi trận đấu giữa hai đội tại Kenilworth Road bị hoãn do sân vận động đang được cải tạo. Đội bóng thăng hạng thứ ba là Sheffield United cũng chưa giành được điểm nào trong mùa giải này, nhưng vẫn đứng ngoài nhóm xuống hạng nhờ hiệu số bàn thắng bại. Tại Championship, Leicester City đang tạo đà cho mục tiêu sớm trở lại giải đấu cao nhất và là đội duy nhất toàn thắng cả bốn trận đầu tiên. Norwich City, Birmingham City, Southampton và Preston North End đều có mười điểm, còn Ipswich Town giữ vị trí thứ sáu. Đội bóng thứ ba rớt hạng từ Premier League mùa trước là Leeds United đang đứng ở giữa bảng xếp hạng. Sheffield Wednesday là đội duy nhất tại Championship chưa có điểm nào, cùng nằm trong nhóm xuống hạng với hai đội bóng đồng hương vùng Yorkshire là Huddersfield Town và Middlesbrough. Một đội bóng khác của Yorkshire là Rotherham United đứng ngoài nhóm xuống hạng nhờ hiệu số bàn thắng bại.
- 30 tháng 9 năm 2023: Manchester City vẫn đứng đầu Premier League vào cuối tháng Chín bất chấp việc chuỗi toàn thắng của họ tại giải đấu đã chấm dứt, nhiều hơn Spurs và Arsenal một điểm. Liverpool, Villa, Brighton và West Ham United hoàn tất tốp bảy. Sheffield United rơi xuống cuối bảng do hiệu số bàn thắng bại, sau thất bại 0-8 trên sân nhà trước Newcastle United, một trận thua lập kỉ lục. Burnley và Bournemouth hoàn tất nhóm ba đội cuối bảng. Tân binh Ipswich Town dẫn đầu Championship vào cuối tháng Chín, với Leicester và Preston cũng cạnh tranh suất thăng hạng trực tiếp. Sunderland, Hull City và Cardiff City nằm trong nhóm dự vòng play-off, còn Norwich City chỉ kém do hiệu số bàn thắng bại. Sheffield Wednesday vẫn đứng cuối bảng, Rotherham đã rơi vào nhóm ba đội cuối bảng, còn Middlesbrough vươn lên thoát khỏi nhóm xuống hạng nhờ ghi nhiều bàn thắng hơn Queens Park Rangers.
- 31 tháng 10 năm 2023: Tháng Mười khép lại với Spurs đứng đầu Premier League, nhiều hơn Arsenal và Manchester City hai điểm. Liverpool và Villa là hai đội còn lại trong cuộc đua dự Champions League, còn Newcastle và Brighton kém Villa năm điểm. Sheffield United, đội duy nhất trong bốn hạng đấu cao nhất chưa thắng trận nào tại giải vô địch quốc gia, đứng cuối Premier League. Bournemouth đã leo ra khỏi nhóm xuống hạng, đẩy Luton Town vào thay thế, nhưng Burnley vẫn ở trong khu vực nguy hiểm. Leicester hiện dẫn đầu Championship, nhiều hơn Ipswich năm điểm; về phần mình, Ipswich hơn Leeds đứng thứ ba chín điểm và còn một trận chưa đấu, qua đó có vị thế rất thuận lợi cho suất thăng hạng thứ hai liên tiếp. Cardiff là đội duy nhất còn giữ được vị trí trong nhóm play-off từ tháng Chín, nay được Southampton và West Bromwich Albion gia nhập. Rotherham, QPR và Sheffield Wednesday vẫn nằm trong nhóm xuống hạng.
- 30 tháng 11 năm 2023: Arsenal vươn lên dẫn đầu bảng xếp hạng Premier League vào cuối tháng Mười Một, nhiều hơn Manchester City một điểm. Phong độ sa sút khiến Spurs rơi xuống sau Liverpool và Villa, từ nhóm dự Champions League xuống vị trí thứ năm, còn Manchester United và Newcastle khép lại tốp bảy. Việc bị trừ mười điểm do vi phạm các quy định về lợi nhuận và tính bền vững khiến Everton rơi vào nhóm xuống hạng, chỉ đứng trên Burnley nhờ hiệu số bàn thắng bại. Sheffield United cuối cùng cũng đã thắng một trận và đứng thứ 18, nhưng vẫn kém Luton ở vị trí thứ 17 tới bốn điểm. Leicester và Ipswich tiếp tục dẫn đầu cuộc đua tại Championship, dù khoảng cách giữa Leicester và Leeds đứng thứ ba đã thu hẹp còn tám điểm. Southampton và West Brom vẫn ở trong tốp sáu, với Hull thay chỗ Cardiff. Ở cuối bảng, tình hình ngày càng trở nên đáng lo với QPR và Rotherham, khi hai đội lần lượt kém Huddersfield ở vị trí thứ 21 là sáu và bảy điểm. Sheffield Wednesday thậm chí còn tệ hơn khi kém vị trí an toàn tới 12 điểm.
- 31 tháng 12 năm 2023: Năm mới đến với Liverpool đứng đầu Premier League, xếp trên Aston Villa nhờ hiệu số bàn thắng bại và còn một trận chưa đấu. Arsenal và Manchester City kém hai điểm. Tottenham vẫn còn trong cuộc đua vô địch khi họ chỉ kém Liverpool ba điểm. West Ham và Manchester United dẫn đầu cuộc đua vào tốp bảy, nhưng khi mùa giải mới trôi qua một nửa thì chỉ có ba điểm ngăn cách Manchester United ở vị trí thứ bảy với Wolverhampton Wanderers ở vị trí thứ 11. Everton đã thoát khỏi nhóm xuống hạng và đẩy Luton xuống thay, dù Luton còn một trận chưa đấu và chỉ kém một điểm. Burnley và Sheffield United có nguy cơ bị bỏ lại, khi lần lượt kém nhóm an toàn năm và bảy điểm. Leicester tiếp tục dẫn đầu Championship và có vẻ là ứng viên sáng giá cho suất trở lại Premier League ngay lập tức, dù nỗ lực giành vé thăng hạng trực tiếp của Ipswich đang bị Southampton đứng thứ ba đe dọa, khi đội này chỉ kém ba điểm. Leeds, West Brom và Hull vẫn ở trong nhóm play-off, cũng như Sheffield Wednesday, QPR và Rotherham vẫn nằm trong nhóm xuống hạng, dù Huddersfield cũng còn gặp nguy hiểm khi chỉ hơn đội cuối bảng Rotherham tám điểm.
- 31 tháng 1 năm 2024: Liverpool đã nới rộng khoảng cách ở ngôi đầu bảng lên năm điểm so với hai đội đồng đứng thứ hai là Manchester City và Arsenal vào cuối tháng Một, dù Manchester City còn một trận chưa đấu. Spurs đứng trên Villa ở vị trí thứ tư đáng mơ ước nhờ ghi nhiều bàn hơn, còn West Ham và Newcastle hoàn tất tốp bảy. Luton lại vượt lên trên Everton để khép lại tháng Một ngoài nhóm xuống hạng, đồng thời còn một trận chưa đấu so với đội bóng vùng Merseyside. Burnley và Sheffield United vẫn ở trong nhóm xuống hạng. Tại Championship, Leicester đã gia tăng cách biệt ở ngôi đầu lên mười điểm và ngày càng có cảm giác rằng vấn đề không còn là liệu họ có thể trở lại Premier League ngay lập tức hay không, mà là khi nào. Ipswich, Southampton và Leeds có vẻ sẽ cạnh tranh cho vị trí thứ hai. West Brom và Coventry City hoàn tất tốp sáu, dù khi mùa giải còn hơn một phần ba chặng đường thì vị trí thứ sáu và thứ 13 chỉ cách nhau sáu điểm. Nhóm xuống hạng của Championship không thay đổi, nhưng Huddersfield vẫn phải ngoái nhìn phía sau khi QPR chỉ còn kém ba điểm.
- 29 tháng 2 năm 2024: Liverpool vẫn đứng đầu vào cuối tháng Hai, nhưng khi chỉ có hai điểm ngăn cách họ với Arsenal và Manchester City, cuộc đua vô địch có vẻ sẽ kéo dài đến tận những vòng cuối cùng. Aston Villa hơn Spurs bốn điểm ở vị trí thứ tư, dù Spurs còn một trận chưa đấu. Manchester United và Brighton hoàn tất tốp bảy, còn West Ham, Wolves, Newcastle và Chelsea cũng vẫn còn cơ hội cạnh tranh. Burnley và Sheffield United vẫn lún sâu trong cuộc chiến trụ hạng, nhưng Everton đã vươn lên bỏ xa Luton sau khi án trừ điểm của họ được kháng cáo giảm còn sáu điểm, đồng thời kéo Nottingham Forest và Brentford vào cuộc chiến trụ hạng. Khoảng cách dẫn đầu của Leicester tại Championship đã giảm còn sáu điểm sau những thất bại liên tiếp, với Leeds và Ipswich cùng chia sẻ vị trí thứ hai; Southampton cũng chững lại trong tháng Hai và kém năm điểm ở vị trí thứ tư. West Brom vẫn ở trong tốp sáu, và Hull đã trở lại nhóm này. Cấu trúc của nhóm xuống hạng Championship thay đổi lần đầu tiên kể từ tháng Mười, khi QPR vượt lên trên Stoke City nhờ hiệu số bàn thắng bại. Sheffield Wednesday kém ba điểm, còn Millwall, Huddersfield và Birmingham cũng đối mặt nguy cơ xuống hạng. Đội thất bại trong cuộc chiến đó gần như chắc chắn sẽ có Rotherham đồng hành, khi họ kém vị trí an toàn tới 16 điểm.
- 31 tháng 3 năm 2024: Liverpool dẫn đầu bảng xếp hạng vào cuối tháng Ba, nhưng cuộc đua vô địch vẫn hoàn toàn rộng mở khi Arsenal và Manchester City lần lượt kém hai và ba điểm. Aston Villa hơn Tottenham ba điểm ở vị trí thứ tư đáng mơ ước, dù Spurs vẫn còn một trận chưa đấu. Manchester United và West Ham hoàn tất tốp bảy, nhưng từ vị trí thứ bảy đến thứ 13 chỉ cách nhau sáu điểm. Sheffield United đứng cuối bảng và có vẻ khó tránh khỏi xuống hạng, trong khi chuỗi phong độ tốt đã giúp Burnley thu hẹp cách biệt với nhóm an toàn xuống còn bốn điểm; Luton Town đứng thứ 18, bằng điểm với Nottingham Forest, đội đã bị trừ bốn điểm, còn Everton – đội đang đối mặt nguy cơ bị trừ thêm điểm – và Brentford vẫn ở trong cuộc chiến trụ hạng. Tại Championship, cuộc đua vô địch cũng như suất thăng hạng trực tiếp đã trở thành cuộc đua tam mã, khi chỉ một điểm ngăn cách Ipswich đứng đầu và Leeds đứng thứ hai, trong khi thêm một điểm nữa ngăn cách Leeds với Leicester đứng thứ ba – đội đã đánh mất ngôi đầu lần đầu tiên kể từ tháng Chín sau sự sa sút đáng báo động về phong độ, dù họ còn một trận chưa đấu so với hai đội xếp trên. Southampton kém nhóm thăng hạng trực tiếp chín điểm nhưng còn hai trận chưa đấu – một trong số đó là trước Leicester – trong khi West Brom và Norwich hoàn tất tốp sáu. Rotherham sẽ xuống hạng nếu không thắng vào Thứ Hai Phục sinh, trong khi Sheffield Wednesday và Huddersfield cùng họ nằm trong nhóm ba đội cuối bảng. Birmingham đứng ngoài nhóm xuống hạng nhờ hiệu số bàn thắng bại, nhưng khi vị trí thứ 16 đến thứ 23 chỉ cách nhau năm điểm, cuộc chiến trụ hạng mùa này hoàn toàn chưa ngã ngũ.
- 5 tháng 4 năm 2024: Rotherham United trở thành đội đầu tiên tại Football League phải xuống hạng sau thất bại 0-1 trên sân nhà trước Plymouth Argyle, khép lại hai năm góp mặt tại Championship.
- 6 tháng 4 năm 2024: Thất bại 0-2 trước Northampton Town khiến Carlisle United xuống League Two trở lại sau một mùa giải tại League One.
- 8 tháng 4 năm 2024: Everton bị trừ thêm hai điểm, nâng tổng số điểm bị trừ trong mùa giải này lên tám điểm, qua đó trở thành đội đầu tiên trong lịch sử hạng đấu cao nhất nước Anh chịu hai án trừ điểm trong cùng một mùa giải.
- 13 tháng 4 năm 2024: Stockport County và Wrexham trở thành những đội đầu tiên tại Football League mùa này giành quyền thăng hạng, từ League Two lên League One, đồng nghĩa với việc họ sẽ thi đấu tại League One sau lần lượt 14 và 19 năm – Wrexham cũng giành suất thăng hạng thứ hai liên tiếp.
- 14 tháng 4 năm 2024: Manchester City nắm quyền kiểm soát cuộc đua vô địch sau khi Liverpool và Arsenal lần lượt để thua trên sân nhà trước Crystal Palace và Aston Villa.
- 16 tháng 4 năm 2024: Portsmouth giành quyền thăng hạng đồng thời vô địch League One sau chiến thắng kịch tính 3-2 trước Barnsley, qua đó trở lại Championship sau 12 năm. Tại League Two, Stockport County đánh bại Notts County 5-2 để giành chức vô địch khi mùa giải còn hai trận, Mansfield Town giành suất thăng hạng trực tiếp cuối cùng lên League One, trở lại sau 21 mùa giải vắng bóng, còn Forest Green Rovers chịu suất xuống hạng thứ hai liên tiếp, trở lại National League sau bảy mùa giải tại Football League.
- 20 tháng 4 năm 2024: Tổ hợp kết quả ở các sân đấu khiến Port Vale và Fleetwood Town cùng phải xuống League Two sau lần lượt hai và mười năm chơi tại League One.
- 24 tháng 4 năm 2024: Everton giành chiến thắng đầu tiên trong trận derby Merseyside tại Goodison Park kể từ năm 2010 sau khi đánh bại Liverpool 2-0. Kết quả này khiến cơ hội vô địch của Liverpool gần như tan biến, khi họ kém đội đầu bảng Arsenal ba điểm và chỉ còn bốn trận để thi đấu.
- 26 tháng 4 năm 2024: Leicester City trở thành đội đầu tiên của Championship mùa này giành quyền thăng hạng sau khi Leeds thua đậm 0-4 trên sân của Queens Park Rangers, qua đó bảo đảm trở lại Premier League ngay lập tức – đồng thời chiến thắng này cũng giúp đội bóng London chắc chắn được chơi tại Championship ở mùa giải sau. Kết quả đó cũng đồng nghĩa với việc Ipswich nắm quyền tự quyết trong cuộc đua thăng hạng, khi họ chỉ kém Leeds một điểm nhưng còn hai trận chưa đấu so với đội bóng áo trắng.
- 27 tháng 4 năm 2024: Sheffield United trở thành đội đầu tiên rớt hạng khỏi Premier League sau thất bại 1-5 trước Newcastle United, khiến họ kém nhóm an toàn mười điểm khi chỉ còn ba trận – đây là lần thứ tư đội bóng này di chuyển qua lại giữa Premier League và Championship trong sáu mùa giải. Mùa giải chính thức của League One khép lại với chiến thắng 2-0 của Derby County trước Carlisle United, qua đó bảo đảm vị trí thứ hai và suất thăng hạng trực tiếp lên Championship sau hai năm ở League One, trong khi thất bại 1-2 của Cheltenham Town trước Stevenage khiến họ xuống League Two sau ba mùa giải tại League One. Mùa giải chính thức của League Two cũng kết thúc, với Sutton United xuống National League sau ba năm ở Football League, do trận hòa 4-4 với Milton Keynes Dons.
- 30 tháng 4 năm 2024: Tháng Tư khép lại với Arsenal đứng đầu bảng, hơn Manchester City một điểm – dù Manchester City còn một trận chưa đấu. Liverpool đã bị Arsenal bỏ xa năm điểm sau chuỗi phong độ rất tệ trong tháng Tư, trong khi Aston Villa đã tạo ra khoảng cách bảy điểm với Tottenham đứng thứ năm – dù Spurs hiện còn hai trận chưa đấu nhiều hơn đội bóng vùng Midlands. Manchester United và Newcastle khép lại tốp bảy. Việc Sheffield United xuống hạng đã được xác nhận, còn Burnley, Luton và Nottingham Forest tiếp tục chiến đấu để tránh hai suất xuống hạng còn lại, khi ba đội lần lượt có 24, 25 và 26 điểm. Tại Championship, trước vòng đấu cuối cùng, Leicester City đã được xác nhận là nhà vô địch, trong khi Ipswich chỉ cần thêm một điểm để bảo đảm suất trở lại giải đấu cao nhất sau nhiều năm chờ đợi. Leeds nhiều khả năng sẽ phải chấp nhận chơi tại vòng play-off, cùng với Southampton, đội đã chắc chắn kết thúc ở vị trí thứ tư, trong khi Norwich và West Brom hoàn tất nhóm play-off, với chỉ còn Hull có thể chen chân vào tốp sáu. Việc Rotherham xuống hạng cũng đã được xác nhận, Huddersfield gần như chắc chắn sẽ theo chân họ, trừ khi có chênh lệch 15 bàn nghiêng hẳn về phía đội này, trong khi Birmingham và Plymouth sẽ cạnh tranh để tránh suất cuối cùng, còn Blackburn và Sheffield Wednesday vẫn chưa chính thức trụ hạng về mặt toán học.
- 4 tháng 5 năm 2024: Mùa giải chính thức của Championship khép lại với Ipswich Town xác nhận vị trí thứ hai và suất thăng hạng trực tiếp lên Premier League, cùng với đội vô địch Leicester City – Leeds United, Southampton, West Bromwich Albion và Norwich City sẽ cạnh tranh suất thăng hạng thứ ba. Ở cuối bảng, bảy trong số tám đội cuối bảng đều giành chiến thắng ở vòng cuối, qua đó xác nhận Birmingham City, Huddersfield Town và Rotherham United phải xuống League One. Boston United đánh bại Brackley Town 2-1 để giành quyền thăng hạng lên National League, hạng đấu mà họ từng bỏ lỡ sau khi rơi vào tình trạng quản trị đặc biệt năm 2007 và bị giáng xuống hai hạng từ League Two.
- 5 tháng 5 năm 2024: Đội bóng thuộc National League là Bromley, được thành lập năm 1892, đánh bại Solihull Moors trên chấm luân lưu với tỉ số 4-3 để lần đầu tiên giành quyền lên chơi tại Football League.
- 6 tháng 5 năm 2024: Chiến thắng 4-3 sau hiệp phụ của Braintree Town trước Worthing giúp họ trở lại National League sau năm mùa giải.
- 11 tháng 5 năm 2024: Việc Burnley xuống hạng khỏi Premier League được xác nhận sau thất bại trước Spurs. Họ trở thành đội thứ hai rớt xuống Championship, khép lại một năm góp mặt tại hạng đấu cao nhất. Luton, trừ khi xảy ra một cú đảo ngược hiệu số bàn thắng bại không tưởng, cũng sẽ cùng Burnley và Sheffield United xuống chơi tại Championship sau thất bại 1-3 trên sân West Ham United, trong trận đấu mà họ đã dẫn trước từ phút thứ 6 cho đến khi đội chủ nhà gỡ hòa mười phút sau đầu hiệp hai.
- 12 tháng 5 năm 2024: Chiến thắng 1-0 của Arsenal trên sân Manchester United đồng nghĩa cuộc đua vô địch sẽ chỉ được định đoạt ở vòng cuối, đồng thời cũng chính thức chấm dứt hi vọng giành chức vô địch đầu tiên kể từ năm 2020 của Liverpool.
- 19 tháng 5 năm 2024: Ở vòng đấu cuối cùng của Premier League, Manchester City lại xác nhận ngôi vô địch sau khi đánh bại West Ham United 3-1, đồng nghĩa chiến thắng 2-1 của Arsenal trước Everton không còn nhiều ý nghĩa, dù Everton đã suýt gây sốc cho Arsenal tại Emirates khi đội chủ nhà chỉ vượt lên dẫn trước ở giai đoạn cuối trận. Kỉ nguyên Jürgen Klopp khép lại sau chín năm rực rỡ, sau chiến thắng 2-0 của Liverpool trước Wolves tại Anfield. Klopp cũng gần như xác nhận Arne Slot, huấn luyện viên của Feyenoord, sẽ là người kế nhiệm mình. Chelsea bảo đảm một suất dự cúp châu Âu, còn Manchester United kết thúc mùa giải ở vị trí thấp nhất kể từ khi Premier League ra đời năm 1992 – vị trí thứ tám. Tuy nhiên, Manchester United vẫn có thể giành vé dự cúp châu Âu từ Newcastle United đứng thứ bảy nếu họ đánh bại Manchester City trong trận chung kết Cúp FA. Cuộc chiến trụ hạng của Luton chính thức khép lại về mặt toán học sau thất bại 2-4 trên sân nhà trước Fulham.
- 25 tháng 5 năm 2024: Manchester United giành chức vô địch Cúp FA sau khi đánh bại đối thủ cùng thành phố là Manchester City với tỉ số 2-1 tại Wembley, qua đó lấy suất dự cúp châu Âu từ tay Newcastle.
- 26 tháng 5 năm 2024: Southampton trở lại Premier League sau khi đánh bại Leeds United tại Wembley trong trận chung kết play-off Championship, qua đó trở lại hạng đấu cao nhất sau một năm gián đoạn.
Tham khảo
Bản mẫu:Bóng đá nam Anh 2023–24 Bản mẫu:Bóng đá nữ Anh 2023–24
Bản mẫu:Bóng đá nữ châu Âu (UEFA) 2023–24 Bản mẫu:Bóng đá năm 2024