Achraf Hakimi
Số áo #2Defender
Morocco
Câu lạc bộ hiện tại
Paris Saint-Germain
Clubhouse
Thông tin chi tiết (Wikipedia)
|
Hakimi trong màu áo đội tuyển Maroc vào năm 2026 | |||||||||||||||||||||||
| Thông tin cá nhân | |||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Achraf Hakimi Mouh | ||||||||||||||||||||||
| Ngày sinh | 4 tháng 11, 1998 | ||||||||||||||||||||||
| Nơi sinh | Madrid, Tây Ban Nha | ||||||||||||||||||||||
| Chiều cao | 1,81 m (5 ft 11 in) | ||||||||||||||||||||||
| Vị trí | Hậu vệ phải | ||||||||||||||||||||||
| Thông tin đội | |||||||||||||||||||||||
Đội hiện nay | Paris Saint-Germain | ||||||||||||||||||||||
| Số áo | 2 | ||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ||||||||||||||||||||||
| 2005–2006 | Ofigevi | ||||||||||||||||||||||
| 2006–2016 | Real Madrid | ||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||||||||
| 2016–2017 | Real Madrid Castilla | 28 | (1) | ||||||||||||||||||||
| 2017–2020 | Real Madrid | 9 | (2) | ||||||||||||||||||||
| 2018–2020 | → Borussia Dortmund (mượn) | 54 | (7) | ||||||||||||||||||||
| 2020–2021 | Inter Milan | 37 | (7) | ||||||||||||||||||||
| 2021– | Paris Saint-Germain | 128 | (19) | ||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia‡ | |||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||||||||
| 2016 | U-20 Maroc | 2 | (0) | ||||||||||||||||||||
| 2016 | U-23 Maroc | 2 | (0) | ||||||||||||||||||||
| 2016– | Maroc | 102 | (12) | ||||||||||||||||||||
Thành tích huy chương
| |||||||||||||||||||||||
|
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến ngày 25 tháng 4 năm 2026 ‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến ngày 9 tháng 7 năm 2026 | |||||||||||||||||||||||
Achraf Hakimi Mouh (tiếng Ả Rập: أشرف حكيمي موح; sinh ngày 4 tháng 11 năm 1998) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Maroc hiện đang thi đấu ở vị trí hậu vệ phải cho câu lạc bộ Ligue 1 Paris Saint-Germain và là đội trưởng của đội tuyển bóng đá quốc gia Maroc. Nổi tiếng nhờ lối chơi giàu sức tấn công, tốc độ, khả năng phòng ngự siêu hạng, và khả năng kiểm soát bóng thần sầu, anh được đánh giá là một trong những hậu vệ phải xuất sắc nhất thế giới trong thế hệ của mình.
Trưởng thành từ lò đào tạo trẻ của Real Madrid, Hakimi bắt đầu chơi cho Real Madrid Castilla vào năm 2016 và được đôn lên đội hình chính vào năm 2017, chơi một vài phút với đội sau. Anh sau đó được gửi đến một hợp đồng cho mượn hai năm cho đội bóng Bundesliga Borussia Dortmund, giành DFL-Supercup vào năm 2019. Sau khi được cho mượn thành công với Dortmund, Hakimi đã ký hợp đồng với đội bóng Serie A Inter Milan với mức phí 40 triệu euro, và giúp đội bóng giành chức vô địch quốc gia, chấm dứt cơn hạn hán chức vô địch kéo dài 11 năm của câu lạc bộ. Năm 2021, anh chuyển sang khoác áo cho Paris Saint-Germain, nơi anh cùng với các đồng đội giành cú ăn ba châu lục gồm Ligue 1, Coupe de France và UEFA Champions League trong mùa giải 2024–25.
Sinh ra ở Tây Ban Nha với cha mẹ là người Maroc, Hakimi đã đại diện cho Maroc ở nhiều cấp độ trẻ khác nhau, trước khi ra mắt màu áo đội tuyển quốc gia chuyên nghiệp vào năm 2016 ở tuổi 17. Anh được chọn vào đội tuyển Maroc tham dự hai kỳ FIFA World Cup vào các năm 2018 và 2022, nơi anh và các đồng đội làm nên lịch sử khi tiến tới vòng bán kết và cán đích ở hạng tư chung cuộc ở giải đấu sau cùng, và hai kỳ AFCON vào các năm 2019 và 2021. Ngoài ra, anh còn là một trong ba cầu thủ quá tuổi của đội tuyển tham dự Thế vận hội Mùa hè 2024, nơi anh và các đồng đội giành huy chương đồng sau giải đấu. Với những đóng góp của mình, Hakimi được xếp hạng sáu chung cuộc tại Quả bóng vàng châu Âu 2025, trở thành cầu thủ Maroc đầu tiên trong lịch sử có thứ hạng cao nhất của giải.
Đầu đời
Sinh ra ở Madrid, Tây Ban Nha, có cha mẹ là người Maroc, Hakimi tham gia đội trẻ của Real Madrid vào năm 2006 từ CD Colonia Ofigevi khi mới tám tuổi.
Sự nghiệp câu lạc bộ
Real Madrid

Hakimi ra mắt Real Madrid trong trận đấu đầu tiên của International Champions Cup 2016, thua 1–3 trước Paris Saint-Germain. Sau đó, anh trở lại đội B, ra mắt cấp cao vào ngày 20 tháng 8 năm 2016 bằng trận ra quân trong chiến thắng 3–2 Segunda División B trên sân nhà trước Real Sociedad B.
Hakimi ghi bàn thắng đầu tiên của mình vào ngày 25 tháng 9 năm 2016, ghi bàn gỡ hòa trong trận hòa 1–1 trước Fuenlabrada.
Vào ngày 19 tháng 8 năm 2017, Hakimi được đôn lên đội hình chính để dự phòng cho Dani Carvajal và Nacho, đồng thời được giao chiếc áo số 19. Anh ra mắt đội một – và La Liga – vào ngày 1 tháng 10, bắt đầu trong chiến thắng 2–0 trên sân nhà trước Espanyol. Anh ghi bàn thắng đầu tiên tại La Liga vào ngày 9 tháng 12 năm 2017 trong chiến thắng 5–0 trước Sevilla. Vào ngày 12 tháng 5 năm 2018, anh ghi bàn thắng thứ hai vào lưới Celta Vigo trong chiến thắng 6–0. Tại UEFA Champions League 2017–18, anh đã có hai lần ra sân khi Madrid giành chức vô địch, lần thứ ba liên tiếp và lần thứ 13 chung cuộc. Mặc dù không có tên trong đội hình tham dự trận chung kết của giải đấu, song anh vẫn nhận được huy chương và được ghi nhận là cầu thủ Maroc đầu tiên vô địch Champions League.
Cho mượn tại Dortmund
Vào ngày 11 tháng 7 năm 2018, Hakimi ký hợp đồng với câu lạc bộ Bundesliga Borussia Dortmund theo hợp đồng cho mượn hai năm. Anh ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ trong chiến thắng 7–0 trước 1. FC Nürnberg vào ngày 27 tháng 9 năm 2018. Lần đầu tiên trong sự nghiệp, anh có ba pha kiến tạo trong một trận đấu với Atlético Madrid, trong trận đấu đầu tiên tại Champions League cho Dortmund. Hakimi ghi một cú đúp vào lưới Slavia Praha ở vòng bảng Champions League vào ngày 2 tháng 10 năm 2019, bàn thắng đầu tiên của anh ở giải đấu này. Vào ngày 5 tháng 11 năm 2019, Hakimi ghi thêm một cú đúp nữa trong hiệp hai để biến thất bại 2–0 trước Inter Milan thành chiến thắng 3–2 tại Westfalenstadion.
Vào tháng 2 năm 2020, Hakimi đã lập kỷ lục tốc độ Bundesliga khi đạt tốc độ 36,48 km/h (22,67 dặm/giờ) trong trận đấu với Union Berlin, đánh bại kỷ lục cũ của giải đấu mà anh đã lập trước RB Leipzig ba tháng trước đó là 36,2 km/h (22,5 dặm/giờ). Vào ngày 31 tháng 5 năm 2020, Hakimi ghi bàn trong chiến thắng 6–1 trên sân khách của câu lạc bộ trước SC Paderborn. Sau khi ghi bàn thắng, anh cởi áo để lộ chiếc áo có dòng chữ "Công lý cho George Floyd". Đồng đội của anh, Jadon Sancho, cũng để lộ chiếc áo tương tự sau khi ghi bàn.
Inter Milan
Vào ngày 2 tháng 7 năm 2020, Hakimi ký hợp đồng với câu lạc bộ Serie A Inter Milan theo hợp đồng 5 năm, với mức phí được báo cáo là khoảng 40 triệu euro. Vào ngày 26 tháng 9 năm 2020, Hakimi ra mắt và có một pha kiến tạo trong chiến thắng 4–3 trước Fiorentina ở Serie A. Anh ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ trong trận đấu tiếp theo với Benevento, trận đấu mà Inter thắng 5–2.
Paris Saint-Germain
Hakimi đã ký hợp đồng với câu lạc bộ Ligue 1 Paris Saint-Germain (PSG) vào ngày 6 tháng 7 năm 2021 theo hợp đồng 5 năm. Phí chuyển nhượng mà PSG trả được The Guardian đưa tin là 60 triệu euro ban đầu, có khả năng tăng thêm 11 triệu euro trong các khoản phụ phí. Hakimi có trận ra mắt tại Ligue 1 cho PSG vào ngày 7 tháng 8 năm 2021, chơi trọn vẹn 90 phút và ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ vào lưới Troyes. Anh nhận thẻ đỏ đầu tiên ở bóng đá châu Âu trong trận hòa 0–0 trước Marseille vào ngày 24 tháng 8 năm 2021. Vào ngày 22 tháng 9 năm 2021, Hakimi ghi hai bàn trong chiến thắng 2–1 trước FC Metz để cho phép đội của mình giành chiến thắng và mang về 3 điểm. Trong mùa giải đầu tiên của mình tại PSG, anh cùng với các đồng đội giành được chức vô địch Ligue 1, qua đó đánh dấu đây là chức vô địch giải đấu thứ hai liên tiếp của cá nhân anh.
Vào ngày 14 tháng 2 năm 2023, Hakimi được đề cử cho FIFA FIFPRO World 11 năm 2022. Vào ngày 19 tháng 9 năm 2023, Hakimi đã ghi bàn trong chiến thắng 2–0 trước câu lạc bộ cũ Dortmund tại UEFA Champions League 2023–24, qua đó góp mặt trong Đội hình tiêu biểu của tuần do UEFA bình chọn. Vào tháng 10 năm 2023, cùng với các cầu thủ khác của PSG là Randal Kolo Muani, Ousmane Dembélé và Layvin Kurzawa, Hakimi đã phải nhận án treo giò một trận vì tham gia vào các câu hát lăng mạ sau chiến thắng trước kình địch Marseille. Đến ngày 1 tháng 11 năm 2023, Hakimi được CAF đề cử cho danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất năm của châu Phi 2023. Ngày 24 tháng 10 năm 2024, Hakimi cùng với người đồng đội ở tuyển quốc gia là Soufiane Rahimi tiếp tục được đề cử cho giải thưởng Cầu thủ xuất sắc nhất năm của châu Phi.
Vào ngày 8 tháng 2 năm 2025, Hakimi đã gia hạn hợp đồng với Paris Saint-Germain cho đến năm 2029. Ngày 7 tháng 5 năm 2025, Hakimi ghi bàn thắng thứ hai cho PSG trong chiến thắng 2–1 trước Arsenal ở trận lượt về vòng bán kết Champions League, qua đó giúp đội nhà giành vé vào chơi trận chung kết lần thứ hai trong lịch sử giải đấu. Vào ngày 24 tháng 5, anh lập công trong chiến thắng 3–0 trước Reims tại trận chung kết Cúp bóng đá Pháp. Đến ngày 31 tháng 5, anh là người mở tỷ số trong trận chung kết Champions League, góp công vào chiến thắng hủy diệt 5–0 trước câu lạc bộ cũ Inter Milan và trở thành cầu thủ đầu tiên ghi bàn cho PSG trong một trận chung kết Champions League. Thành tích này giúp anh trở thành cầu thủ người Maroc thứ hai góp mặt trong một trận chung kết Cúp C1 châu Âu/Champions League (sau Hajry Redouane vào năm 1988 cùng Benfica), là người Maroc đầu tiên (và là cầu thủ châu Phi thứ bảy) ghi bàn trong một trận chung kết Cúp C1/Champions League, đồng thời là cầu thủ người Maroc thứ hai trong lịch sử (sau Ayoub El Kaabi tại trận chung kết Europa Conference League 2024) ghi bàn trong một trận chung kết giải đấu cấp câu lạc bộ của UEFA. Những màn trình diễn xuất sắc xuyên suốt mùa giải đã giúp Hakimi trở thành một ứng cử viên sáng giá cho danh hiệu Quả bóng vàng 2025.
Trong mùa giải 2025–26, Hakimi cùng PSG thâu tóm cả chức vô địch Ligue 1 lẫn UEFA Champions League sau chiến thắng trên chấm luân lưu trước Arsenal ở trận chung kết. Danh hiệu châu Âu này cũng đánh dấu chức vô địch Champions League thứ ba trong sự nghiệp của anh, cân bằng kỷ lục số lần lên ngôi nhiều nhất của một cầu thủ châu Phi do Samuel Eto'o nắm giữ. Đây đồng thời là danh hiệu lớn thứ 19 trong sự nghiệp của anh, chính thức vượt qua thành tích của cả Eto'o và Yaya Touré để trở thành cầu thủ bóng đá châu Phi giàu thành tích nhất trong lịch sử.
Sự nghiệp quốc tế

Sau khi đại diện cho Maroc ở các cấp độ U-17 và U-20, Hakimi ra mắt đội U-23 vào ngày 5 tháng 6 năm 2016, trong chiến thắng giao hữu 1–0 trước U-23 Cameroon. Anh có trận ra mắt quốc tế đầy đủ vào ngày 11 tháng 10 năm 2016, vào sân thay cho Fouad Chafik trong chiến thắng 4–0 trước Canada. Anh ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên vào ngày 1 tháng 9 năm 2017, ghi bàn thứ tư trong chiến thắng 6–0 trên sân nhà trước Mali.

Vào tháng 5 năm 2018, anh có tên trong đội hình sơ bộ của Maroc tham dự FIFA World Cup 2018 và vào ngày 4 tháng 6, anh có tên trong đội hình 23 người chính thức cho giải đấu vào mùa hè.
Hakimi cũng được triệu tập tham dự Cúp bóng đá châu Phi 2021 ở Cameroon. Anh đá chính tất cả các trận ở vòng bảng. Anh ấy đã ghi một quả đá phạt trực tiếp trong trận hòa 2–2 trước Gabon. Anh đá chính ở vòng 16 gặp Malawi, ghi bàn từ một quả phạt trực tiếp ở phút 70 để mang về chiến thắng cho đội của mình.
Vào ngày 10 tháng 11 năm 2022, Hakimi có tên trong đội hình 26 người của Maroc tham dự FIFA World Cup 2022 tại Qatar. Anh đã ghi bàn thắng quyết định trong loạt sút luân lưu vào lưới Tây Ban Nha ở vòng 16 đội, giúp quốc gia của anh ấy có một suất vào tứ kết.
Vào ngày 28 tháng 12 năm 2023, Hakimi có tên trong danh sách 27 cầu thủ được huấn luyện viên Walid Regragui triệu tập vào đội tuyển Maroc tham dự Cúp bóng đá châu Phi 2023 tại Bờ Biển Ngà. Anh đã ghi một bàn thắng trong trận hòa 1–1 trước Cộng hòa Dân chủ Congo tại vòng bảng. Tại vòng 16 đội, anh sút hỏng một quả phạt đền trong trận thua 2–0 trước Nam Phi.
Vào ngày 4 tháng 7 năm 2024, Hakimi được điền tên vào danh sách đội tuyển Olympic Maroc tham dự Thế vận hội Mùa hè 2024 tại Pháp với tư cách là một trong ba cầu thủ quá tuổi và được chọn làm đội trưởng của đội. Anh lần lượt đóng góp một đường kiến tạo và một bàn thắng trong các chiến thắng trước Iraq và Hoa Kỳ. Anh tiếp tục lập công trong chiến thắng hủy diệt 6–0 của Maroc trước Ai Cập ở trận tranh huy chương đồng.
Vào tháng 5 năm 2025, Achraf Hakimi là ứng cử viên sáng giá cho giải thưởng "Marc-Vivien Foé" của RFI và anh đã chính thức giành được danh hiệu này.

Vào tháng 10 năm 2025, đội tuyển Maroc của Hakimi đã phá kỷ lục thế giới về chuỗi trận thắng liên tiếp dài nhất ở cấp độ quốc tế, vượt qua cột mốc 15 chiến thắng liên tiếp trước đó của Tây Ban Nha. Với chiến thắng 1–0 trước Congo tại Rabat, họ đã kéo dài mạch toàn thắng lên con số 16 trên mọi đấu trường, bao gồm cả các trận vòng loại World Cup và giao hữu.
Dù đang dính chấn thương, anh vẫn có tên trong đội hình Maroc tham dự Cúp bóng đá châu Phi 2025 được tổ chức trên sân nhà. Vào ngày 4 tháng 1 năm 2026, anh đã kiến tạo bàn thắng duy nhất trong chiến thắng 1–0 trước Tanzania ở vòng 16 đội. Hakimi trở thành tâm điểm của truyền thông quốc tế vào ngày 18 tháng 1 năm 2026 khi bị phạt treo giò hai trận vì hành vi phi thể thao trong trận chung kết. Hakimi và người đồng đội Ismael Saibari đã ngăn cản việc đưa khăn lau găng tay cho thủ môn Édouard Mendy của Senegal, đồng thời tiếp tay cho các cậu bé nhặt bóng lấy trộm khăn phía sau khung thành dưới trời mưa trong trận chung kết AFCON gặp Senegal. Maroc sau đó đã để thua Senegal trong trận chung kết, nhưng danh hiệu vô địch cuối cùng đã được trao lại cho Maroc hai tháng sau tiếng còi mãn cuộc do những tranh cãi hậu trận đấu.
Vào ngày 26 tháng 5 năm 2026, Hakimi được chọn vào danh sách 26 cầu thủ tham dự FIFA World Cup 2026. Anh có trận đấu thứ 11 tại World Cup trong trận hòa mở màn 1–1 trước Brasil, qua đó trở thành cầu thủ Maroc ra sân nhiều nhất tại giải đấu này và phá vỡ thế cân bằng trước đó với Hakim Ziyech. Sau đó, anh có lần ra sân thứ 12 trong chiến thắng 1–0 trước Scotland, chính thức trở thành cầu thủ châu Phi thi đấu nhiều trận nhất trong lịch sử World Cup, vượt qua kỷ lục cũ do François Omam-Biyik và Asamoah Gyan nắm giữ.
Phong cách thi đấu
Khi ký hợp đồng với Borussia Dortmund, Hakimi được mô tả là một hậu vệ cánh có khả năng tấn công nhanh, năng động và mạnh mẽ, người giỏi về chiến thuật và kỹ thuật cũng như khả năng thực hiện những đường chuyền dài chính xác từ hàng thủ. Được huấn luyện ở vị trí tiền vệ cánh, anh cũng có thể chơi ở vị trí hậu vệ nhờ thể chất của mình.
Đời tư
Hakimi đã kết hôn với nữ diễn viên người Tây Ban Nha Hiba Abouk; cô là người gốc Libya và Tunisia. Cặp đôi có 2 con trai, sinh vào các năm 2020 và 2022. Vào ngày 27 tháng 3 năm 2023, Abouk đưa ra một tuyên bố trên tài khoản Instagram của mình xác nhận rằng cặp đôi đã ly thân trước đó và họ đang chờ tố tụng ly hôn.
Hakimi là một người theo đạo Hồi.
Vào ngày 3 tháng 3 năm 2023, Hakimi bị thẩm phán điều tra ở Paris truy tố về cáo buộc hiếp dâm và bị đặt dưới sự giám sát tư pháp. Anh bị cấm liên lạc với nạn nhân được cho là của mình nhưng được phép rời khỏi lãnh thổ Pháp.
Hakimi và vợ, Hiba Abouk ly hôn vào năm 2023, trong quá trình làm thủ tục ly hôn, có thông tin cho rằng Hiba đã yêu cầu hơn một nửa tài sản và gia tài của Hakimi. Các báo cáo chưa được xác nhận suy đoán rằng Hiba đã bị "sốc" khi biết rằng tài sản của Hakimi được giữ dưới tên của mẹ anh.
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
- Tính đến ngày 30 tháng 5 năm 2026
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải đấu | Cúp quốc gia | Châu Âu | Khác | Tổng cộng | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | ||
| Real Madrid Castilla | 2016–17 | Segunda División B | 28 | 1 | — | — | — | 28 | 1 | |||
| Real Madrid | 2017–18 | La Liga | 9 | 2 | 5 | 0 | 2 | 0 | 1 | 0 | 17 | 2 |
| Borussia Dortmund (mượn) | 2018–19 | Bundesliga | 21 | 2 | 2 | 1 | 5 | 0 | — | 28 | 3 | |
| 2019–20 | 33 | 5 | 3 | 0 | 8 | 4 | 1 | 0 | 45 | 9 | ||
| Tổng cộng | 54 | 7 | 5 | 1 | 13 | 4 | 1 | 0 | 73 | 12 | ||
| Inter Milan | 2020–21 | Serie A | 37 | 7 | 3 | 0 | 5 | 0 | — | 45 | 7 | |
| Paris Saint-Germain | 2021–22 | Ligue 1 | 32 | 4 | 0 | 0 | 8 | 0 | 1 | 0 | 41 | 4 |
| 2022–23 | 28 | 5 | 2 | 0 | 8 | 0 | 1 | 0 | 39 | 5 | ||
| 2023–24 | 25 | 4 | 3 | 0 | 11 | 1 | 1 | 0 | 40 | 5 | ||
| 2024–25 | 25 | 4 | 5 | 1 | 17 | 4 | 8 | 2 | 55 | 11 | ||
| 2025–26 | 18 | 2 | 0 | 0 | 13 | 1 | 1 | 0 | 32 | 3 | ||
| Tổng cộng | 128 | 19 | 10 | 1 | 57 | 6 | 12 | 2 | 207 | 28 | ||
| Tổng cộng sự nghiệp | 256 | 36 | 23 | 2 | 77 | 10 | 14 | 2 | 370 | 50 | ||
- ^ Bao gồm Copa del Rey, DFB-Pokal, Coppa Italia, Coupe de France
- ^ a b c d e f g h i Số lần ra sân tại UEFA Champions League
- ^ Số lần ra sân tại FIFA Club World Cup
- ^ Ra sân tại DFL-Supercup
- ^ a b c Ra sân tại Trophée des Champions
- ^ Một lần ra sân tại Trophée des Champions, bảy lần ra sân và hai bàn thắng tại FIFA Club World Cup
- ^ Ra sân tại UEFA Super Cup
Đội tuyển quốc gia
- Tính đến ngày 9 tháng 7 năm 2026
| Đội tuyển bóng đá | Năm | Trận | Bàn |
|---|---|---|---|
| Maroc | 2016 | 1 | 0 |
| 2017 | 5 | 1 | |
| 2018 | 12 | 0 | |
| 2019 | 10 | 1 | |
| 2020 | 4 | 1 | |
| 2021 | 9 | 2 | |
| 2022 | 20 | 3 | |
| 2023 | 7 | 0 | |
| 2024 | 14 | 2 | |
| 2025 | 7 | 1 | |
| 2026 | 13 | 1 | |
| Tổng cộng | 102 | 12 | |
- Kể từ trận đấu diễn ra vào ngày 6 tháng 6 năm 2025. Tỷ số của Maroc được liệt kê đầu tiên, cột tỷ số cho biết tỷ số sau mỗi bàn thắng của Hakimi.
| # | Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Bàn thắng | Kết quả | Giải đấu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 1 tháng 9 năm 2017 | Sân vận động Hoàng tử Moulay Abdellah, Rabat, Maroc | 4–0 | 6–0 | Vòng loại FIFA World Cup 2018 | ||
| 2 | 19 tháng 11 năm 2019 | Sân vận động Hoàng tử Louis Rwagasore, Bujumbura, Burundi | 3–0 | 3–0 | Vòng loại CAN 2021 | ||
| 3 | 13 tháng 11 năm 2020 | Sân vận động Mohammed V, Casablanca, Maroc | 1–0 | 4–1 | Vòng loại CAN 2021 | ||
| 4 | 12 tháng 6 năm 2021 | Sân vận động Hoàng tử Moulay Abdellah, Rabat, Maroc | 4–0 | 6–0 | Giao hữu | ||
| 5 | 6 tháng 10 năm 2021 | Sân vận động Hoàng tử Moulay Abdellah, Rabat, Maroc | 1–0 | 5–0 | Vòng loại FIFA World Cup 2022 | ||
| 6 | 18 tháng 1 năm 2022 | Sân vận động Ahmadou Ahidjo, Yaoundé, Cameroon | 2–2 | 2–2 | CAN 2021 | ||
| 7 | 25 tháng 1 năm 2022 | Sân vận động Ahmadou Ahidjo, Yaoundé, Cameroon | 2–1 | 2–1 | CAN 2021 | ||
| 8 | 29 tháng 3 năm 2022 | Sân vận động Hoàng tử Moulay Abdellah, Rabat, Maroc | 4–0 | 4–1 | Vòng loại FIFA World Cup 2022 | ||
| 9 | 21 tháng 1 năm 2024 | Sân vận động Laurent Pokou, San-Pédro, Bờ Biển Ngà | 1–0 | 1–1 | CAN 2023 | ||
| 10 | 12 tháng 10 năm 2024 | Sân vận động Honor, Oujda, Maroc | 3–0 | 5–0 | Vòng loại Cúp bóng đá châu Phi 2025 | ||
| 11 | 6 tháng 6 năm 2025 | Sân vận động Fez, Fez, Maroc | 1–0 | 2–0 | Giao hữu | ||
| 12 | 24 tháng 6 năm 2026 | Sân vận động Mercedes-Benz, Atlanta, Hoa Kỳ | 1–1 | 4–2 | FIFA World Cup 2026 |
Danh hiệu
Real Madrid Castilla
Real Madrid
- Supercopa de España: 2017
- UEFA Champions League: 2017–18
- UEFA Super Cup: 2017
- FIFA Club World Cup: 2017
Borussia Dortmund
Inter Milan
Paris Saint Germain
- Ligue 1: 2021–22, 2022–23, 2023–24, 2024–25, 2025–26
- Coupe de France: 2023–24, 2024–25
- Trophée des Champions: 2022, 2023, 2024
- UEFA Champions League: 2024–25, 2025–26
- UEFA Super Cup: 2025
- FIFA Club World Cup á quân: 2025
Maroc
Cá nhân
- Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của CAF: 2018, 2019
- Tân binh của tháng Bundesliga: Tháng 9 năm 2018, Tháng 11 năm 2018, Tháng 12 năm 2019
- Đội hình Bundesliga của năm: 2019–20
- Cầu thủ xuất sắc nhất châu Phi của Lion d'Or: 2019
- Đội hình đột phá của UEFA Champions League: 2019
- Globe Soccer Awards Cầu thủ trẻ Ả Rập xuất sắc nhất năm: 2019
- Joy Awards Arab Sportsman of the Year: 2022
- Đội hình tiêu biểu châu Phi của năm: 2018, 2019
- Đội tuyển bóng đá châu Phi của năm của Pháp: 2018, 2019, 2020, 2021
- Đội CAF của năm: 2019
- Đội ESM của năm: 2021
- Đội hình nam Maroc trong mơ mọi thời đại của IFFHS
- Đội hình châu Phi của năm của IFFHS: 2020, 2021, 2022
- IFFHS Men's World Team: 2021, 2022
- Đội hình tiêu biểu Cúp bóng đá châu Phi: 2021
- Đội hình Serie A của năm: 2020–21
- FIFA FIFPRO World 11: 2022
- Cầu thủ Maroc xuất sắc nhất ở nước ngoài: 2020–21, 2021–22
Tước hiệu
- Order of the Throne: 2022
Tham khảo
Liên kết ngoài
- Achraf Hakimi trên trang web của Paris Saint-Germain F.C..