Arthur Masuaku
Số áo #26Defender
Congo DR
Câu lạc bộ hiện tại
Sunderland
Clubhouse
Thông tin chi tiết (Wikipedia)
|
Masuaku trong màu áo Beşiktaş năm 2023 | |||
| Thông tin cá nhân | |||
|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Fuka-Arthur Masuaku Kawela | ||
| Ngày sinh | 7 tháng 11, 1993 | ||
| Nơi sinh | Lille, Pháp | ||
| Chiều cao | 1,79 m | ||
| Vị trí | Hậu vệ cánh trái, trung vệ | ||
| Thông tin đội | |||
Đội hiện nay |
Lens (cho mượn từ Sunderland) | ||
| Số áo | 27 | ||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||
| Năm | Đội | ||
| 2001–2003 | Lille OM.S. Fives | ||
| 2003–2008 | Lens | ||
| 2008–2013 | Valenciennes | ||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 2013–2014 | Valenciennes | 27 | (1) |
| 2014–2016 | Olympiacos | 51 | (1) |
| 2016–2023 | West Ham United | 105 | (1) |
| 2022–2023 | → Beşiktaş (mượn) | 31 | (2) |
| 2023–2025 | Beşiktaş | 51 | (0) |
| 2025– | Sunderland | 3 | (0) |
| 2026– | → Lens (mượn) | 4 | (0) |
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia‡ | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 2011 | U-18 Pháp | 3 | (0) |
| 2011 | U-19 Pháp | 2 | (0) |
| 2018– | Cộng hòa Dân chủ Congo | 44 | (4) |
|
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 23:30, 17 May 2026 (UTC) ‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 22:31, 31 March 2026 (UTC) | |||
Fuka-Arthur Masuaku Kawela (sinh ngày 7 tháng 11 năm 1993) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp chơi ở vị trí hậu vệ cánh trái hoặc trung vệ cho câu lạc bộ Ligue 1 Lens tại giải vô địch quốc gia Pháp, dưới dạng cho mượn từ câu lạc bộ giải Ngoại hạng Anh Sunderland. Sinh ra tại Pháp, anh thi đấu cho đội tuyển quốc gia Cộng hòa Dân chủ Congo.
Masuaku bắt đầu sự nghiệp chuyên nghiệp của mình với câu lạc bộ Valenciennes, và cũng từng chơi cho các câu lạc bộ Olympiacos, West Ham United và Beşiktaş. Anh từng đại diện cho nước Pháp ở cấp độ trẻ trước khi chuyển sang khoác áo đội tuyển Cộng hòa Dân chủ Congo vào năm 2017.
Đầu đời
Masuaku sinh ra tại Lille, Pháp, có cha mẹ là người Cộng hòa Dân chủ Congo. Anh có quốc tịch Pháp vào ngày 20 tháng 4 năm 2006, thông qua việc hưởng theo quyết định nhập tịch của mẹ anh.
Sự nghiệp câu lạc bộ
Valenciennes
Masuaku trưởng thành từ hệ thống đào tạo trẻ của câu lạc bộ Valenciennes. Anh có trận ra mắt giải đấu Ligue 1 trong trận đấu mở màn của mùa giải 2013–14 vào ngày 10 tháng 8 năm 2013 khi đối đầu với Toulouse. Anh được thay ra ở phút thứ 75 để nhường chỗ cho Tongo Doumbia. Vào ngày 29 tháng 1 năm 2014, Masuaku đã ghi bàn thắng chính thức đầu tiên cho Valenciennes trong trận thua 1–2 trên sân khách trước Marseille.
Olympiacos
Vào tháng 7 năm 2014, Masuaku ký hợp đồng với câu lạc bộ Olympiacos. Anh có trận ra mắt tại giải Vô địch quốc gia Hy Lạp gặp Niki Volos, và trong trận đấu thứ ba của mình tại giải, anh đã có hai đường kiến tạo trong chiến thắng 3–0 trên sân nhà trước OFI. Ba ngày sau, anh ra mắt và lập công tại đấu trường UEFA Champions League trong chiến thắng 3–2 trên sân nhà trước Atlético Madrid.
Vào tháng 4 và tháng 5 năm 2015, đã có những thông tin về sự quan tâm từ các câu lạc bộ Roma, Internazionale và Juventus. Tuy nhiên, người đại diện của anh, Roger Henrotay, tuyên bố rằng việc gia hạn hợp đồng của Masuaku đang được cân nhắc thảo luận. Vào tháng 7, một lời đề nghị trị giá 4 triệu euro được cho là từ Genoa dành cho Masuaku, bao gồm cả cựu tiền vệ Olympiacos Giannis Fetfatzidis, đã bị câu lạc bộ từ chối.
West Ham United

Vào ngày 8 tháng 8 năm 2016, Masuaku gia nhập câu lạc bộ West Ham United với bản hợp đồng có thời hạn 4 năm cùng mức phí chuyển nhượng 6,2 triệu bảng. Anh có trận ra mắt West Ham trong trận thua 1–2 trên sân khách trước Chelsea vào ngày 15 tháng 8 năm 2016. Masuaku thừa nhận rằng anh thấy trận ra mắt Ngoại hạng Anh rất khó khăn do tốc độ và tính khắc nghiệt về mặt thể lực của giải đấu. Anh đã ghi bàn thắng đầu tiên cho West Ham trong một trận đấu tại Cúp EFL gặp Bolton Wanderers vào ngày 19 tháng 9 năm 2017.
Trong trận đấu ở vòng bốn Cúp FA gặp Wigan Athletic vào ngày 27 tháng 1 năm 2018, Masuaku đã bị truất quyền thi đấu vì hành vi nhổ nước bọt vào cầu thủ Nick Powell bên phía Wigan sau một tình huống tranh chấp. Đây là chiếc thẻ đỏ đầu tiên trong sự nghiệp của Masuaku. Masuaku đã lên tiếng xin lỗi về chiếc thẻ đỏ này, nói rằng sự cố đó là "hoàn toàn không thể chấp nhận được và không đúng với tính cách của tôi". Anh đã phải nhận án phạt cấm thi đấu sáu trận cho hành vi vi phạm này.
Vào tháng 7 năm 2019, sau khi đã chơi 75 trận cho West Ham, Masuaku ký một bản hợp đồng gia hạn với câu lạc bộ cho đến năm 2024 với tùy chọn kéo dài thêm hai năm nữa.
Vào ngày 4 tháng 12 năm 2021, Masuaku đã ghi bàn thắng ấn định chiến thắng 3–2 trước nhà đương kim vô địch UEFA Champions League khi đó là Chelsea. Bàn thắng này đến từ một quả tạt bóng lỗi nhưng lại vô tình hướng thẳng vào khung thành, làm bất ngờ thủ môn Edouard Mendy của Chelsea ở góc gần, và đây cũng là bàn thắng duy nhất của anh tại Premier League.
Beşiktaş
Vào ngày 2 tháng 8 năm 2022, Masuaku gia nhập đội bóng Thổ Nhĩ Kỳ Beşiktaş theo dạng cho mượn dài hạn cả mùa giải kèm theo điều khoản tùy chọn mua đứt vào năm 2023. Vào ngày 17 tháng 4 năm 2023, Masuaku đã hoàn tất việc chuyển nhượng vĩnh viễn sang Beşiktaş. Mức phí không được các câu lạc bộ tiết lộ nhưng một số nguồn tin cho biết nó rơi vào khoảng 2 triệu bảng.
Vào ngày 30 tháng 6 năm 2025, Beşiktaş thông báo về sự ra đi của Masuaku khỏi câu lạc bộ.
Sunderland
Vào ngày 10 tháng 8 năm 2025, Masuaku đã ký hợp đồng có thời hạn hai năm với câu lạc bộ giải Ngoại hạng Anh Sunderland.
Vào ngày 27 tháng 1 năm 2026, Masuaku gia nhập câu lạc bộ Lens tại Ligue 1, nơi anh từng thi đấu khi còn là một cầu thủ trẻ, theo dạng cho mượn cho đến hết mùa giải 2025–26.
Sự nghiệp quốc tế
Sau khi đại diện cho Pháp ở các cấp độ U-18 và U-19, Masuaku đã chuyển sang cống hiến cho Cộng hòa Dân chủ Congo vào tháng 6 năm 2017. Vào tháng 8 năm 2017, anh lần đầu tiên được triệu tập vào đội hình Cộng hòa Dân chủ Congo để chuẩn bị cho hai trận đấu tại vòng loại World Cup 2018 gặp Tunisia. Vào tháng 3 năm 2018, khi vẫn chưa có trận ra mắt quốc tế chính thức, Masuaku cùng đội hình Cộng hòa Dân chủ Congo di chuyển để đá một trận giao hữu với Tanzania. Anh là một trong bốn cầu thủ đã rời đội trước trận đấu, trong bối cảnh có những phàn nàn về vấn đề tổ chức và rắc rối khi di chuyển, và đã không ra sân. Anh có trận ra mắt vào ngày 13 tháng 10 năm 2018, đá chính trong trận thua 1–2 trên sân nhà trước Zimbabwe tại một trận đấu thuộc Vòng loại cúp bóng đá châu Phi 2019. Masuaku đã ghi bàn thắng đầu tiên cho Cộng hòa Dân chủ Congo từ một quả đá phạt, trong trận hòa 1–1 trên sân khách với Kenya vào ngày 15 tháng 6 năm 2019.
Cúp bóng đá châu Phi 2023
Vào ngày 27 tháng 12 năm 2023, Masuaku có tên trong danh sách rút gọn 24 cầu thủ chính thức tham dự Cúp bóng đá châu Phi 2023. Anh đá chính trong trận đấu đầu tiên của quốc gia mình tại giải đấu, một trận hòa 1–1 với Zambia vào ngày 17 tháng 1 năm 2024. Anh tiếp tục ghi bàn trong chiến thắng 3–1 của đội tuyển nước nhà trước Guinea ở vòng tứ kết vào ngày 2 tháng 2 năm 2024. Bàn thắng này đã giúp Cộng hòa Dân chủ Congo giành một suất vào chơi trận bán kết giải đấu này lần đầu tiên kể từ năm 2015.
Đời tư
Masuaku là một tín đồ Hồi giáo thuần thành. Vào tháng 6 năm 2025, anh đã thực hiện cuộc hành hương Umrah đến Mecca.
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
- Tính đến ngày 17 tháng 5 năm 2026
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải vô địch quốc gia | Cúp quốc gia | Cúp liên đoàn | Châu Âu | Khác | Tổng cộng | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | ||
| Valenciennes | 2012–13 | Ligue 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | 0 | 0 | — | — | 1 | 0 | ||
| 2013–14 | Ligue 1 | 27 | 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | — | — | 28 | 1 | |||
| Tổng cộng | 27 | 1 | 1 | 0 | 1 | 0 | — | — | 29 | 1 | ||||
| Olympiacos | 2014–15 | Super League Greece | 27 | 0 | 5 | 0 | — | 8 | 1 | — | 40 | 1 | ||
| 2015–16 | Super League Greece | 24 | 1 | 2 | 0 | — | 7 | 0 | — | 33 | 1 | |||
| 2016–17 | Super League Greece | 0 | 0 | 0 | 0 | — | 1 | 0 | — | 1 | 0 | |||
| Tổng cộng | 51 | 1 | 7 | 0 | 0 | 0 | 16 | 1 | — | 74 | 2 | |||
| West Ham United | 2016–17 | Premier League | 13 | 0 | 0 | 0 | 2 | 0 | 0 | 0 | — | 15 | 0 | |
| 2017–18 | Premier League | 27 | 0 | 3 | 0 | 3 | 1 | — | — | 33 | 1 | |||
| 2018–19 | Premier League | 23 | 0 | 2 | 0 | 2 | 0 | — | — | 27 | 0 | |||
| 2019–20 | Premier League | 17 | 0 | 1 | 0 | 1 | 0 | — | — | 19 | 0 | |||
| 2020–21 | Premier League | 12 | 0 | 0 | 0 | 1 | 0 | — | — | 13 | 0 | |||
| 2021–22 | Premier League | 13 | 1 | 1 | 0 | 3 | 0 | 4 | 0 | — | 21 | 1 | ||
| Tổng cộng | 105 | 1 | 7 | 0 | 12 | 1 | 4 | 0 | — | 128 | 2 | |||
| Beşiktaş (mượn) | 2022–23 | Süper Lig | 31 | 2 | 1 | 0 | — | — | — | 32 | 2 | |||
| Beşiktaş | 2023–24 | Süper Lig | 18 | 0 | 4 | 0 | — | 7 | 0 | — | 29 | 0 | ||
| 2024–25 | Süper Lig | 33 | 0 | 4 | 0 | — | 9 | 1 | 1 | 0 | 47 | 1 | ||
| Tổng cộng Beşiktaş | 82 | 2 | 9 | 0 | 0 | 0 | 16 | 1 | 1 | 0 | 108 | 3 | ||
| Sunderland | 2025–26 | Premier League | 3 | 0 | 0 | 0 | 1 | 0 | — | — | 4 | 0 | ||
| Lens (mượn) | 2025–26 | Ligue 1 | 4 | 0 | 2 | 0 | — | — | — | 6 | 0 | |||
| Tổng cộng sự nghiệp | 272 | 5 | 26 | 0 | 14 | 1 | 36 | 2 | 1 | 0 | 349 | 8 | ||
- ^ Bao gồm Coupe de France, Cúp Hy Lạp, Cúp FA, Cúp Thổ Nhĩ Kỳ
- ^ Bao gồm Coupe de la Ligue, Cúp EFL
- ^ Sáu lần ra sân và một bàn thắng tại UEFA Champions League, hai lần ra sân tại UEFA Europa League
- ^ Năm lần ra sân tại UEFA Champions League, hai lần ra sân tại UEFA Europa League
- ^ Ra sân tại UEFA Champions League
- ^ a b Số lần ra sân tại UEFA Europa League
- ^ Số lần ra sân tại UEFA Europa Conference League
- ^ Ra sân tại Siêu cúp Thổ Nhĩ Kỳ
Quốc tế
- Tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2026
| Đội tuyển quốc gia | Năm | Trận | Bàn |
|---|---|---|---|
| Cộng hòa Dân chủ Congo | 2018 | 1 | 0 |
| 2019 | 7 | 1 | |
| 2021 | 2 | 0 | |
| 2022 | 2 | 0 | |
| 2023 | 6 | 1 | |
| 2024 | 13 | 1 | |
| 2025 | 11 | 1 | |
| 2026 | 2 | 0 | |
| Tổng cộng | 44 | 4 | |
- Tính đến trận đấu diễn ra ngày 16 tháng 12 năm 2025. Bàn thắng của Cộng hòa Dân chủ Congo được ghi trước.
| Số | Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Bàn thắng | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 15 tháng 6 năm 2019 | Trung tâm Thể thao Santa Ana, Madrid, Tây Ban Nha | 1–1 | 1–1 | Giao hữu | |
| 2 | 24 tháng 3 năm 2023 | Sân vận động Japoma, Douala, Cameroon | 3–1 | 3–1 | Vòng loại Cúp bóng đá châu Phi 2023 | |
| 3 | 2 tháng 2 năm 2024 | Sân vận động Alassane Ouattara, Abidjan, Bờ Biển Ngà | 3–1 | 3–1 | Cúp bóng đá châu Phi 2023 | |
| 4 | 16 tháng 12 năm 2025 | Pinatar Arena, Murcia, Tây Ban Nha | 1–0 | 2–0 | Giao hữu |
Danh hiệu
Olympiacos
Beşiktaş
RC Lens
Cá nhân
Tham khảo
Liên kết ngoài
- Arthur Masuaku tại West Ham United F.C. (lưu trữ)
- Arthur Masuaku tại Liên đoàn bóng đá Pháp (bằng tiếng Pháp)
- Arthur Masuaku tại Liên đoàn bóng đá Pháp (lưu trữ) (bằng tiếng Pháp)
- Arthur Masuaku tại Soccerbase
- Arthur Masuaku tại Soccerway
- Arthur Masuaku tại WorldFootball.net