Bingourou Kamara
Số áo #21Goalkeeper
Senegal
Câu lạc bộ hiện tại
Lorient
Clubhouse
Thông tin chi tiết (Wikipedia)
|
Kamara thi đấu cho Fulham vào năm 2017 | |||
| Thông tin cá nhân | |||
|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Aboubakar Kamara | ||
| Ngày sinh | 7 tháng 3, 1995 | ||
| Nơi sinh | Gonesse, Pháp | ||
| Chiều cao | 1,78 m | ||
| Vị trí | Tiền đạo | ||
| Thông tin đội | |||
Đội hiện nay | Kanchanaburi Power | ||
| Số áo | 47 | ||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||
| Năm | Đội | ||
| –2014 | Monaco | ||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 2013–2015 | Monaco B | 26 | (15) |
| 2014–2015 | Monaco | 2 | (0) |
| 2015–2016 | Kortrijk | 12 | (0) |
| 2016–2017 | Amiens | 45 | (16) |
| 2016–2017 | Amiens B | 1 | (0) |
| 2017–2021 | Fulham | 85 | (14) |
| 2019 | → Yeni Malatyaspor (mượn) | 10 | (1) |
| 2021 | → Dijon (mượn) | 10 | (1) |
| 2021–2022 | Aris | 32 | (8) |
| 2022–2023 | Olympiacos | 1 | (0) |
| 2023 | → Aris (mượn) | 14 | (4) |
| 2023–2024 | Al-Jazira | 10 | (3) |
| 2024–2025 | Sepahan | 15 | (1) |
| 2025– | Kanchanaburi Power | 13 | (4) |
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia‡ | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 2021– | Mauritanie | 22 | (8) |
|
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 10:17, 27 August 2025 (UTC) ‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 23:43, 26 March 2024 (UTC) | |||
Aboubakar Kamara (sinh ngày 7 tháng 3 năm 1995) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp thi đấu ở vị trí tiền đạo cho câu lạc bộ Kanchanaburi Power tại Thai League 1. Sinh ra tại Pháp, anh đại diện thi đấu cho đội tuyển quốc gia Mauritanie.
Sự nghiệp câu lạc bộ
Kamara có trận ra mắt tại Ligue 1 cho Monaco vào ngày 12 tháng 9 năm 2014 trước Olympique Lyonnais trong trận thua 2–1 trên sân khách. Anh vào sân thay cho Yannick Carrasco sau 84 phút. Vào tháng 7 năm 2015, Kamara ký hợp đồng 3 năm với câu lạc bộ Kortrijk tại Giải vô địch quốc gia Bỉ, nhưng đã trở lại Pháp chỉ sau 6 tháng để gia nhập câu lạc bộ Amiens tại Championnat National, giúp câu lạc bộ này giành hai lần thăng hạng liên tiếp lên đến Ligue 1. Anh ghi bàn thắng đầu tiên trong chiến thắng kịch tính 2–1 trước Stade de Reims ở vòng đấu cuối cùng, giúp Amiens giành quyền thăng hạng sau khi vượt lên dẫn trước ở phút bù giờ thứ 6. Kamara kết thúc mùa giải với tư cách là chân sút hàng đầu của câu lạc bộ tại Ligue 2 2016–17 với 10 bàn thắng.
Fulham
Vào ngày 31 tháng 7 năm 2017, Kamara ký hợp đồng với Fulham với một mức phí không được tiết lộ trong thời hạn 4 năm kèm theo điều khoản tùy chọn gia hạn thêm 12 tháng. Anh chọn mặc chiếc áo số 47 để các chữ cái viết tắt tên mình và số áo trùng với khẩu AK-47. Vào ngày 23 tháng 9, Kamara ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ trong trận hòa 1–1 trước Middlesbrough, và ba ngày sau, anh ghi bàn mở tỷ số trong chiến thắng 3–1 trước Nottingham Forest. Vào ngày 31 tháng October, Kamara nhận thẻ đỏ trực tiếp do lỗi đẩy sau đối với Bailey Wright khi không có bóng, trong trận thua 2–0 của Fulham trước Bristol City. Sau đó, anh đã liên tiếp lập hai cú đúp cho Fulham trong trận hòa 2–2 với Hull City và trong chiến thắng 4–1 trước Ipswich Town. Vào ngày 20 tháng 1 năm 2018, Kamara ghi bàn thắng ấn định trong chiến thắng 6–0 trước Burton Albion. Đây cũng là bàn thắng cuối cùng anh ghi được cho Fulham trong mùa giải 2017–18, khi anh ít được sử dụng hơn sau đó, với phần lớn các lần ra sân còn lại đều từ băng ghế dự bị.[cần dẫn nguồn]
Vào ngày 5 tháng 12, Kamara ghi bàn thắng đầu tiên của mình trong mùa giải Ngoại hạng Anh 2018–19 ở trận hòa 1–1 trước Leicester City, và ba ngày sau, anh thực hiện thành công quả phạt đền danh dự trong trận thua 4–1 trước Manchester United, sau khi vào sân từ hiệp hai thay cho Aleksandar Mitrović. Vào ngày 29 tháng 12, trong trận gặp Huddersfield Town, Kamara đã tranh giành với Mitrović để thực hiện quả đá phạt đền; cú sút của anh sau đó bị Jonas Lössl cản phá. Mặc dù Fulham giành chiến thắng chung cuộc, huấn luyện viên Claudio Ranieri vẫn rất tức giận trước quyết định giành đá phạt đền của Kamara, ông phát biểu: "Cậu ta đã không tôn trọng tôi, câu lạc bộ, các đồng đội và người hâm mộ. Tôi đã nói chuyện với cậu ta, việc đó thật không đúng chút nào". Tuy nhiên, Mitrović lại tỏ ra vị tha hơn đối với Kamara khi coi vụ việc là "bình thường". Vào ngày Tết Dương lịch, Kamara đã ghi bàn vào lưới Arsenal trong trận thua chung cuộc 4–1. Trong tháng 1, Kamara tiếp tục xảy ra xích mích với Mitrović trong một buổi tập yoga tại sân tập của câu lạc bộ, và kết quả là anh đã bị gạch tên khỏi danh sách thi đấu trong trận gặp Burnley. Cuối tháng đó, Kamara bị bắt giữ ngay tại sân tập câu lạc bộ vì nghi ngờ gây tổn hại thân thể nghiêm trọng và hủy hoại tài sản, đồng thời nhận án "cấm tham gia vô thời hạn mọi hoạt động của câu lạc bộ".
Cho mượn tại Yeni Malatyaspor
Kamara sau đó phải xuống tập luyện cùng đội U-23, và vào ngày 31 tháng 1 năm 2019, anh chuyển sang gia nhập Yeni Malatyaspor dưới dạng cho mượn cho đến hết mùa giải.
Fulham
Kamara trở lại Fulham chuẩn bị cho mùa giải EFL Championship 2019–20 sau khi kết thúc thời hạn cho mượn tại Yeni Malatyaspor.
Cho mượn tại Dijon
Vào ngày 1 tháng 2 năm 2021, Kamara gia nhập câu lạc bộ Pháp Dijon theo một bản hợp đồng cho mượn có thời hạn 5 tháng.
Aris
Vào ngày 16 tháng 8 năm 2021, đội bóng thuộc Giải vô địch quốc gia Hy Lạp Aris xác nhận họ đã ký hợp đồng với Kamara từ Fulham với mức phí chuyển nhượng 3,5 triệu euro. Tiền đạo 26 tuổi này từng ghi 17 bàn thắng sau 94 lần ra sân cho đội chủ sân Craven Cottage kể từ khi chuyển đến từ câu lạc bộ Pháp Amiens vào năm 2017. Kamara từng góp mặt trong hai chiến dịch thăng hạng thành công, đá chính trong cả hai trận thắng chung kết play-off của Fulham trước Aston Villa và Brentford. Vào ngày 22 tháng 9, nhận đường kiến tạo từ Facundo Bertoglio, Kamara đã ghi bàn thắng duy nhất trong trận derby đối đầu Panathinaikos. Vào ngày 24 tháng 10 năm 2021, Kamara thực hiện thành công một quả phạt đền và đóng góp hai đường kiến tạo trong chiến thắng đậm đà 5–1 trên sân nhà trước Panetolikos. Vào ngày 6 tháng 3 năm 2022, anh lập công trong chiến thắng 2–1 trên sân nhà trước Olympiacos, chấm dứt chuỗi 25 trận bất bại của đối thủ.
Olympiacos
Vao ngày 28 tháng 6 năm 2022, Kamara ký hợp đồng có thời hạn 3 năm với nhà đương kim vô địch Hy Lạp Olympiacos.
Al Jazira
Vào ngày 29 tháng 9 năm 2023, anh ký hợp đồng với câu lạc bộ Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Al-Jazira.
Kanchanaburi Power
Vào ngày 1 tháng 8 năm 2025, Kamara gia nhập câu lạc bộ mới thăng hạng lên chơi tại Thai League 1 là Kanchanaburi Power.
Sự nghiệp quốc tế
Anh có trận ra mắt cho Mauritanie vào ngày 26 tháng 3 năm 2021 tại một trận đấu thuộc vòng loại Cúp bóng đá châu Phi 2021 gặp Maroc.
Sau trận hòa 0–0 trước Maroc trong lần đầu tiên được tuyển chọn, anh đã ghi bàn thắng đầu tiên ở lần ra sân thứ hai trong trận gặp Cộng hòa Trung Phi, đồng thời giúp đội tuyển giành vé tham dự vòng chung kết Cúp bóng đá châu Phi tiếp theo. Anh đã tranh tài tại giải đấu quốc tế đầu tiên của mình tại Cúp bóng đá châu Phi 2021.
Vào tháng 12 năm 2023, anh có tên trong danh sách 25 cầu thủ Mauritanie được huấn luyện viên Amir Abdou lựa chọn để tham gia tranh tài tại Cúp bóng đá châu Phi 2023.
Đời sống cá nhân
Sinh ra tại Pháp, Kamara đại diện thi đấu cho Mauritanie ở cấp độ quốc tế. Anh cũng là người gốc Senegal.
Anh là một tín đồ Hồi giáo và đã nhịn ăn trong tháng Ramadan ngay cả trước khi đá trận chung kết play-off giành quyền thăng hạng EFL Championship 2018 cho Fulham.
Vào ngày 16 tháng 1 năm 2024, một sai sót khi đăng tải danh sách đội bóng của CAF trên mạng xã hội X (trước đây là Twitter) đã vô tình để lộ biệt danh "AK.47" của anh, một sự liên tưởng đến số áo ban đầu anh mặc tại Fulham, điều này đã gây ra nhiều sự bối rối lẫn các phản hồi hài hước từ người hâm mộ.
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
- Tính đến 5 June 2023
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải vô địch quốc gia | Cúp quốc gia | Cúp liên đoàn | Châu lục | Khác | Tổng cộng | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | ||
| Monaco | 2014–15 | Ligue 1 | 2 | 0 | — | — | — | — | 2 | 0 | ||||
| Kortrijk | 2015–16 | Belgian Pro League | 12 | 0 | 0 | 0 | — | — | — | 12 | 0 | |||
| Amiens | 2015–16 | Championnat National | 16 | 5 | — | — | — | — | 16 | 5 | ||||
| 2016–17 | Ligue 2 | 29 | 11 | 0 | 0 | 0 | 0 | — | — | 29 | 11 | |||
| Tổng cộng | 45 | 16 | 0 | 0 | 0 | 0 | — | — | 45 | 16 | ||||
| Fulham | 2017–18 | Championship | 32 | 7 | 1 | 0 | 2 | 0 | — | — | 35 | 7 | ||
| 2018–19 | Premier League | 13 | 3 | 0 | 0 | 2 | 2 | — | — | 15 | 5 | |||
| 2019–20 | Championship | 28 | 4 | 0 | 0 | 1 | 0 | — | — | 29 | 4 | |||
| 2020–21 | Premier League | 11 | 0 | 1 | 0 | 2 | 1 | — | — | 14 | 1 | |||
| 2021–22 | Championship | 1 | 0 | — | — | — | — | 1 | 0 | |||||
| Tổng cộng | 85 | 14 | 2 | 0 | 7 | 3 | — | — | 94 | 17 | ||||
| Yeni Malatyaspor (mượn) | 2018–19 | Süper Lig | 10 | 1 | 3 | 0 | — | — | — | 13 | 1 | |||
| Dijon (mượn) | 2020–21 | Ligue 1 | 10 | 1 | 1 | 0 | — | — | — | 11 | 1 | |||
| Aris | 2021–22 | Super League Greece | 32 | 8 | 3 | 2 | — | — | — | 35 | 10 | |||
| Olympiacos | 2022–23 | Super League Greece | 1 | 0 | 0 | 0 | — | 5 | 0 | — | 6 | 0 | ||
| Aris (mượn) | 2022–23 | Super League Greece | 14 | 4 | 2 | 0 | — | — | — | 16 | 4 | |||
| Tổng cộng sự nghiệp | 211 | 57 | 11 | 2 | 7 | 3 | 6 | 0 | 0 | 0 | 234 | 62 | ||
Bàn thắng quốc tế
- Tỷ số và kết quả liệt kê bàn thắng của Mauritanie trước.
| STT | Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Tỷ số | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1. | 30 tháng 3 năm 2021 | Sân vận động Barthélemy Boganda, Bangui, Cộng hòa Trung Phi | 1–0 | 1–0 | Vòng loại Cúp bóng đá châu Phi 2021 | |
| 2. | 16 tháng 11 năm 2021 | Sân vận động Olympic, Nouakchott, Mauritanie | 1–0 | 1–1 | Vòng loại giải vô địch bóng đá thế giới 2022 | |
| 3. | 29 tháng 3 năm 2022 | Sân vận động Cheikha Ould Boïdiya, Nouakchott, Mauritanie | 1–0 | 2–0 | Giao hữu | |
| 4. | 4 tháng 6 năm 2022 | Sân vận động Olympic, Nouakchott, Mauritanie | 1–0 | 3–0 | Vòng loại Cúp bóng đá châu Phi 2023 | |
| 5. | 2–0 | |||||
| 6. | 24 tháng 9 năm 2022 | Sân vận động El Bachir, Mohammédia, Maroc | 1–0 | 1–0 | Giao hữu | |
| 7. | 27 tháng 9 năm 2022 | Sân vận động El Bachir, Mohammedia, Maroc | 2–0 | 2–0 | Giao hữu |
Danh hiệu
Fulham
Tham khảo
Liên kết ngoài
- Aboubakar Kamara tại trang web của Fulham F.C.
- Aboubakar Kamara tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh (lưu trữ)
- Aboubakar Kamara tại National-Football-Teams.com