Derek Mazou-Sacko
Số áo #49Midfielder
France
Câu lạc bộ hiện tại
Millwall
Clubhouse
Thông tin chi tiết (Wikipedia)
| Tập tin:Millwall FC crest.svg | ||||
| Tên đầy đủ | Câu lạc bộ bóng đá Millwall | |||
|---|---|---|---|---|
| Biệt danh | The Lions | |||
| Thành lập | 1885, với tên gọi Millwall Rovers | |||
| Sân | The Den | |||
| Sức chứa | 20.146 | |||
| Chủ tịch | James Berylson | |||
| Huấn luyện viên trưởng | Alex Neil | |||
| Giải đấu | Championship | |||
| 2025–26 | Championship, hạng 3 trên 24 | |||
| Website | millwallfc | |||
|
| ||||
Câu lạc bộ bóng đá Millwall (tiếng Anh: Millwall Football Club) (/ˈmɪlwɔːl/) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp tại Bermondsey, Đông Nam Luân Đôn, Anh. Đội bóng hiện thi đấu tại EFL Championship, cấp độ thứ hai của bóng đá Anh. Được thành lập với tên gọi Millwall Rovers vào năm 1885, câu lạc bộ vẫn giữ nguyên tên gọi này dù lần gần nhất thi đấu tại khu vực Millwall thuộc Isle of Dogs là vào năm 1910. Từ đó đến năm 1993, câu lạc bộ thi đấu tại sân mà ngày nay được gọi là The Old Den ở New Cross, trước khi chuyển tới sân nhà hiện tại gần đó là The Den. Biểu trưng truyền thống của câu lạc bộ là một con sư tử chồm, gắn với biệt danh The Lions của đội bóng. Bộ trang phục truyền thống của Millwall gồm áo xanh lam đậm, quần đùi trắng và tất xanh lam.
Millwall là một trong những thành viên sáng lập của Southern League vào năm 1894. Câu lạc bộ thi đấu tại giải này trong 22 mùa giải cho tới năm 1920, giành chức vô địch hai lần vào các năm 1895 và 1896. Kể từ khi gia nhập the Football League ở mùa giải 1920-21, câu lạc bộ đã thăng hạng 11 lần (năm lần với tư cách nhà vô địch vào các năm 1928, 1938, 1962, 1988 và 2001) và xuống hạng 9 lần. Câu lạc bộ đã trải qua 92 trong 99 mùa giải tại Football League với việc liên tục lên xuống giữa hạng hai và hạng ba. Đội bóng có một quãng thời gian ngắn thi đấu ở hạng cao nhất từ năm 1988 đến năm 1990, trong đó đạt thành tích cao nhất trong lịch sử là vị trí thứ mười tại Football League First Division ở mùa giải 1988-89. Millwall vào tới Chung kết Cúp FA 2004 và lần đầu tiên trong lịch sử giành quyền dự giải đấu của UEFA, khi thi đấu tại Cúp UEFA. Câu lạc bộ cũng đã giành chiến thắng ở hai trận chung kết play-off League One vào các năm 2010 và 2017, vô địch Football League Group Cup năm 1983, và là đội á quân của Football League Trophy năm 1999.
Những người ủng hộ Millwall thường gắn liền với nạn hooligan bóng đá, với nhiều bộ phim hư cấu hóa tiếng xấu của họ. Cổ động viên của đội nổi tiếng với câu hát trên khán đài "No one likes us, we don't care". Millwall có mối kình địch lâu đời với đội bóng Premier League là West Ham United. Trận derby Luân Đôn giữa hai đội đã diễn ra gần 100 lần kể từ năm 1899. Millwall cũng có sự kình địch với Leeds United, đồng thời tham dự trận derby Nam Luân Đôn, đôi khi còn được gọi là derby Đông Nam Luân Đôn vì lí do địa lí, với các đối thủ địa phương trong khu vực là Crystal Palace và Charlton Athletic.
Lịch sử
Khởi đầu, Southern League và chuyển địa điểm: 1885-1920

Câu lạc bộ được thành lập với tên Millwall Rovers bởi những công nhân của nhà máy đóng hộp và chế biến thực phẩm của J.T. Morton tại khu vực Millwall thuộc Isle of Dogs ở East End của Luân Đôn vào năm 1885. J.T. Morton được thành lập tại Aberdeen vào năm 1849 để cung cấp thực phẩm cho các tàu buồm; công ti mở nhà máy đóng hộp và chế biến thực phẩm đầu tiên tại Anh ở bến tàu Millwall vào năm 1872 và thu hút lực lượng lao động từ khắp nơi trong cả nước, trong đó có bờ biển phía đông của Scotland, chủ yếu là từ Dundee. Thư kí câu lạc bộ là Jasper Sexton, 17 tuổi, con trai của chủ quán rượu pub The Islander trên phố Tooke, nơi Millwall tổ chức các cuộc họp câu lạc bộ. Trận đấu đầu tiên của Millwall Rovers là trận sân khách diễn ra ngày 3 tháng 10 năm 1885 trước Fillebrook, một đội bóng thi đấu tại Leytonstone. Đội bóng mới thành lập đã thua 0-5. Trận sân nhà đầu tiên của Millwall diễn ra trên một bãi đất trống ở Glengall Road gặp St Luke's vào ngày 24 tháng 10 năm 1885, và Millwall thắng 2-1.
Rovers tìm được một mặt sân tốt hơn cho mùa giải 1886-87, ở phía sau quán rượu Lord Nelson và nơi này được gọi là Lord Nelson Ground. Vào tháng 11 năm 1886, East End Football Association được thành lập cùng với giải Senior Cup Competition. Millwall vào tới trận chung kết gặp London Caledonians, được tổ chức tại Leyton Cricket Ground. Trận đấu kết thúc với tỉ số hòa 2-2 và hai đội chia nhau giữ cúp, mỗi đội trong sáu tháng. Millwall giành East London Senior Cup ngay ở lần tham dự đầu tiên. Câu lạc bộ cũng vô địch giải này trong hai năm tiếp theo, và chiếc cúp trở thành tài sản vĩnh viễn của đội bóng.
Vào tháng 4 năm 1889, một nghị quyết được thông qua để Millwall bỏ chữ "Rovers" khỏi tên gọi, và đội bóng bắt đầu thi đấu dưới tên Millwall Athletic, lấy cảm hứng từ việc chuyển tới sân nhà mới là The Athletic Grounds. Đội bóng là một trong những thành viên sáng lập của Southern Football League, giải đấu mà họ vô địch trong hai năm đầu tiên tồn tại, đồng thời giành ngôi á quân ở năm thứ ba. Trong giai đoạn này, câu lạc bộ được mời gia nhập Second Division của Football League nhưng ban điều hành đã từ chối, một phần vì chi phí đi lại dự kiến sẽ tăng, một phần vì muốn trung thành với Southern League. Họ buộc phải chuyển tới sân mới North Greenwich vào năm 1901, khi công ti Millwall Dock muốn sử dụng khu đất cũ làm bãi gỗ. Millwall Athletic vào tới bán kết Cúp FA vào các năm 1900 và 1903, đồng thời cũng là nhà vô địch của Western Football League vào các năm 1908 và 1909. Ngày 10 tháng 10 năm 1910, Millwall chơi trận cuối cùng với tư cách là một câu lạc bộ Đông Luân Đôn trước Woolwich Arsenal tại London Challenge Cup. Millwall thắng 1-0 trước 3.000 khán giả.
Millwall chuyển tới một sân vận động mới mang tên The Den ở New Cross, Đông Nam Luân Đôn vào năm 1910. Trong 25 năm kể từ khi thành lập ở East London, câu lạc bộ trước đó đã sử dụng bốn sân khác nhau; không gian mở rộng hạn chế tại Isle of Dogs buộc The Lions phải chuyển đi để tăng lượng người ủng hộ và khán giả đến sân. Chi phí ước tính của The Den là 10.000 bảng. Trận đấu đầu tiên trên sân mới diễn ra ngày 22 tháng 10 năm 1910 trước nhà đương kim vô địch Southern League là Brighton & Hove Albion, đội giành chiến thắng 1-0.
Gia nhập Football League: 1920-1940

Millwall, lúc này cũng đã bỏ chữ "Athletic" khỏi tên gọi, được mời gia nhập the Football League vào năm 1920 cho mùa giải 1920-21, cùng với 22 câu lạc bộ khác, thông qua việc thành lập Football League Third Division mới. Southern League mất đi vị thế vốn có khi gần như toàn bộ các câu lạc bộ quyết định rời giải, và Millwall cũng làm như vậy. Trận đấu đầu tiên của Millwall tại Football League diễn ra ngày 28 tháng 8 năm 1920 tại The Den, và đội bóng thắng 2-0 trước Bristol Rovers.
Trong mùa giải 1925-26, Millwall có 11 trận giữ sạch lưới liên tiếp, một kỉ lục của Football League mà họ hiện cùng nắm giữ với York City và Reading. Millwall trở nên nổi tiếng như một đội đá cúp rất lì lợm và tham gia nhiều trận đấu đáng nhớ, đáng chú ý là chiến thắng 3-1 trước nhà đương kim vô địch và đội từng ba lần vô địch giải đấu là Huddersfield Town tại vòng Ba Cúp FA 1926-27. Ở mùa giải 1927-28, Millwall giành chức vô địch Third Division South và ghi 87 bàn trên sân nhà tại giải vô địch, một kỉ lục nước Anh vẫn còn tồn tại đến nay. Các trận gặp Sunderland và Derby County trong thập niên 1930 và 1940 thu hút lượng khán giả chật kín sân với hơn 48.000 người. Hành trình tại Cúp FA 1937 đưa Millwall vào bán kết lần thứ ba, và trận đấu vòng Năm gặp Derby vẫn là trận có lượng khán giả cao nhất trong lịch sử Millwall với 48.762 người đến sân. Millwall là đội được ủng hộ đông thứ 11 tại Anh vào năm 1939, dù khi đó thi đấu ở Second Division. Millwall cũng là một trong những câu lạc bộ có tiềm lực tài chính mạnh nhất nước Anh. Câu lạc bộ đề xuất kế hoạch cải tạo The Den và chiêu mộ các cầu thủ quốc tế. Cầu thủ chạy cánh Reg 'JR' Smith hai lần được gọi vào đội tuyển Anh và ghi hai bàn cho đội tuyển vào năm 1938. The Lions đang hướng tới mục tiêu thăng hạng lên First Division vào cuối thập niên, nhưng chỉ một tuần sau khi mùa giải 1939-40 bắt đầu, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và Millwall bị cướp mất mục tiêu đó.
Thời kì ảm đạm trong chiến tranh và rớt xuống hạng tư: 1940-1965

Ngày 7 tháng 4 năm 1945, Millwall góp mặt trong trận chung kết Football League War Cup tại Sân vận động Wembley gặp Chelsea, nhưng vì đây là một trận chung kết cúp thời chiến nên không được ghi nhận trong các kỉ lục chính thức. Khi chiến tranh ở châu Âu bước vào những ngày cuối cùng, số lượng khán giả được phép vào sân được nới lỏng. Có 90.000 người đến sân, lượng khán giả đông nhất mà Millwall từng thi đấu trước mặt, trong đó có cả Vua George VI, người mà toàn đội đã được giới thiệu trước giờ bóng lăn.
Việc mất quá nhiều thanh niên trong Chiến tranh thế giới thứ hai khiến các câu lạc bộ gặp khó khăn trong việc duy trì vị thế cũ. Điều này đặc biệt đúng với Millwall, đội bóng dường như chịu ảnh hưởng nặng nề hơn phần lớn các câu lạc bộ khác. The Den bị hư hại nặng do bom vào ngày 19 tháng 4 năm 1943, và một tuần sau đó, một vụ cháy được xác định là do đầu thuốc lá bị vứt đi cũng thiêu rụi toàn bộ một khán đài. Câu lạc bộ chấp nhận lời đề nghị từ các đội láng giềng Charlton Athletic, Crystal Palace và West Ham United để tổ chức các trận đấu trên sân của họ. Ngày 24 tháng 2 năm 1944, Millwall trở lại The Den để thi đấu trên một sân vận động chỉ còn khán đài đứng. Điều này đạt được nhờ khối lượng lớn công sức tình nguyện của cổ động viên The Lions.
Phong độ của Millwall biến động mạnh trong những năm ngay sau chiến tranh; đội bóng rớt xuống Division Three South vào năm 1948 và phải xin tái cử để tiếp tục ở lại giải đấu vào năm 1950 sau khi kết thúc trong nhóm hai đội cuối bảng. Một giai đoạn khởi sắc sau đó giúp Millwall đứng thứ năm, thứ tư, rồi giành ngôi á quân tại Division Three South ở mùa giải 1952-53; nhưng vì chỉ có đội vô địch được thăng hạng, Millwall vẫn mắc kẹt ở hạng ba dù trung bình thu hút hơn 20.000 khán giả mỗi trận. Sau đó, Millwall lại sa sút với một loạt mùa giải kết thúc ở nửa dưới bảng xếp hạng. Một điểm sáng của giai đoạn này là một trong những cú sốc lớn nhất kiểu đội nhỏ hạ đội lớn tại vòng Bốn Cúp FA 1956-57 ngày 26 tháng 1 năm 1957, khi Millwall đánh bại Newcastle United 2-1 trước 45.646 khán giả. Millwall không may trở thành một trong những thành viên sáng lập của Division Four vào năm 1958. Dù ban đầu chịu ảnh hưởng tiêu cực từ đợt tái cơ cấu này, việc xóa bỏ tính khu vực giữa Third Division North và Third Division South đã mở ra cơ hội thăng hạng thông qua vị trí á quân. Millwall vô địch Division Four năm 1962 nhờ 23 bàn thắng của Peter Burridge và 22 bàn của Dave Jones. Đội lại xuống hạng ở mùa giải 1963-64, nhưng nhanh chóng trở lại bằng hai lần thăng hạng liên tiếp với tư cách á quân. Đây là lần cuối cùng Millwall thi đấu ở hạng tư.
Kỉ lục bất bại trên sân nhà và thế hệ '71: 1965-1986
Về cuối thập niên, Millwall thiết lập kỉ lục 59 trận sân nhà không thua (43 thắng và 16 hòa) từ ngày 22 tháng 8 năm 1964 đến ngày 14 tháng 1 năm 1967. Trong giai đoạn này, Millwall gặp 55 đối thủ khác nhau, giữ sạch lưới 35 trận, ghi 112 bàn và chỉ thủng lưới 33 lần. Thành tích này chủ yếu nhờ công của các nhà quản lí Billy Gray, người đặt nền móng, và Benny Fenton, cựu cầu thủ tiếp tục xây dựng dựa trên đội hình mà Gray để lại. Toàn bộ các cầu thủ, trong đó có cầu thủ chạy cánh Barry Rowan, thủ môn Alex Stepney, hậu vệ Tom Wilson và các tiền đạo Hugh Curran cùng Len Julians, đều được the Football Association trao tặng bật lửa thuốc lá mạ vàng kỉ niệm. Kỉ lục này cuối cùng bị Liverpool phá vỡ, khi đội bóng này bất bại 63 trận sân nhà từ năm 1978 đến năm 1981. Giai đoạn này cũng đáng chú ý với lần ra sân của Frank Peterson ngày 30 tháng 11 năm 1968 trong trận sân khách gặp Portsmouth; Peterson là cầu thủ da màu đầu tiên đại diện cho câu lạc bộ.
Đầu thập niên 1970, đội hình Millwall có nhiều cầu thủ nổi bật và đáng nhớ, hiện vẫn được một số cổ động viên gọi là "The Class of '71". Đây là một tập thể gồm thủ môn Bryan King, hậu vệ Harry Cripps, tiền vệ ghi bàn Derek Possee, cầu thủ khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất trong lịch sử Millwall tính đến thời điểm đó là Eamon Dunphy và cầu thủ gắn bó lâu năm nhất với câu lạc bộ là Barry Kitchener. Đội đã bỏ lỡ cơ hội thăng hạng lên Division One chỉ vì kém một điểm. Khi bất bại trên sân nhà ở Division Two trong mùa giải 1971-72, Millwall trở thành câu lạc bộ duy nhất trải qua trọn một mùa giải mà không thua trận sân nhà nào ở bốn hạng đấu khác nhau: Division Three South mùa 1927-28, Division Four mùa 1964-65, Division Three mùa 1965-66 và Division Two mùa 1971-72. Năm 1974, Millwall tổ chức trận đấu đầu tiên được diễn ra vào Chủ nhật, gặp Fulham. The Lions vào tới tứ kết League Cup năm 1974, và thêm một lần nữa vào năm 1977.
George Graham dẫn dắt Millwall từ năm 1983 đến năm 1986, và trong quãng thời gian đó ông giúp câu lạc bộ vô địch Football League Group Cup, đánh bại Lincoln City 3-2 trong trận chung kết ở mùa giải 1982-83. Mùa giải 1984-85 đặc biệt thành công: Millwall vào tới tứ kết Cúp FA và giành quyền thăng hạng lên Second Division, đồng thời lại bất bại trên sân nhà ở Division Three, với 18 chiến thắng và năm trận hòa. Tại Cúp FA, Millwall thua 0-1 trước đội bóng First Division là Luton Town trên sân Kenilworth Road. Trận đấu này bị nhớ đến vì những lí do tiêu cực, sau khi các hooligan gây ra bạo loạn ngay trong trận. Có 81 người bị thương trong các vụ xáo trộn, trong đó có 31 cảnh sát.
Thăng hạng lên hạng cao nhất, sân vận động mới và thời kì quản trị đặc biệt: 1987-2000

Người thay thế Graham là nhà cầm quân người Glasgow John Docherty. Trong mùa giải thứ hai trên cương vị nhà quản lí, ông giúp Millwall vô địch Second Division và lần đầu tiên trong lịch sử đưa câu lạc bộ thăng hạng lên hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh. Khởi đầu mùa giải 1988-89 rất mạnh, Millwall dẫn đầu bảng xếp hạng vào ngày 1 tháng 10 năm 1988 sau sáu trận đấu (thắng bốn, hòa hai) và hiếm khi rơi khỏi tốp năm trước Giáng sinh. Điều này phần lớn nhờ vào Tony Cascarino và Teddy Sheringham, những người ghi tổng cộng 99 bàn trong ba mùa giải thi đấu cùng nhau. Mùa giải đầu tiên của Millwall ở hạng cao nhất kết thúc với vị trí thứ mười, cũng là vị trí thấp nhất mà câu lạc bộ đứng trong suốt cả mùa. Sang mùa tiếp theo, đội từng dẫn đầu bảng xếp hạng trong một đêm vào tháng 9 năm 1989 sau khi đánh bại Coventry City 4-1, nhưng chỉ thắng thêm hai trận nữa trong cả mùa và bị xuống hạng với vị trí thứ 20 vào cuối mùa giải 1989-90.
Ngay trước khi việc xuống hạng được xác nhận, Docherty bị sa thải và được thay bằng cựu nhà quản lí Middlesbrough là Bruce Rioch. Tiền đạo Teddy Sheringham là cầu thủ ghi nhiều bàn nhất toàn Football League ở mùa giải 1990-91 với 38 bàn, nhưng sau thất bại 2-6 của Millwall trước Brighton & Hove Albion trong vòng play-off Second Division, anh được bán cho Nottingham Forest với giá 2 triệu bảng. Rioch rời Millwall năm 1992 và được thay bởi hậu vệ người Ireland hậu vệ Mick McCarthy. McCarthy đưa Millwall cán đích ở vị trí thứ ba tại Division One mới vào cuối mùa giải 1993-94, trước khi thua Derby County trong lần thứ hai Millwall góp mặt tại play-off. Đây là mùa giải đầu tiên của đội tại sân mới, ban đầu được gọi là The New Den (để phân biệt với sân cũ), nay đơn giản chỉ là The Den, được lãnh đạo Đảng Lao động John Smith khai trương vào ngày 4 tháng 8 năm 1993. Sân mới này là sân vận động toàn ghế ngồi đầu tiên được xây dựng ở Anh sau Taylor report về Hillsborough disaster. The Lions loại Arsenal khỏi Cúp FA 1994-95 trong trận đá lại ở vòng Ba, khi thắng 2-0 tại Highbury. Đội cũng vào tới tứ kết League Cup lần thứ ba trong lịch sử vào năm 1995. McCarthy từ chức để nhận lời dẫn dắt đội tuyển Cộng hòa Ireland vào ngày 5 tháng 2 năm 1996, ngay sau khi Millwall bị Sunderland chiếm mất ngôi đầu bảng Division One 1994-95 בעקבות thất bại 0-6.
Jimmy Nicholl từ Raith Rovers được bổ nhiệm thay McCarthy, nhưng không thể đảo ngược chuỗi sa sút khiến Millwall rớt hạng với vị trí thứ 22 vào cuối mùa giải 1995-96. Chỉ mới năm tháng trước đó, đội còn đứng đầu Division One, nhưng giờ đây Millwall phải thi đấu ở hạng ba tại mùa giải 1996-97. Câu lạc bộ lâm vào khó khăn tài chính nghiêm trọng khiến họ bị đặt vào tình trạng quản trị tài chính đặc biệt trong một thời gian ngắn. Nicholl bị miễn nhiệm và John Docherty trở lại theo hợp đồng ngắn hạn để ổn định tình hình câu lạc bộ.
Millwall thoát khỏi giai đoạn quản trị đặc biệt, và tân chủ tịch Theo Paphitis bổ nhiệm cựu nhà quản lí West Ham United là Billy Bonds làm nhà quản lí. Mùa giải 1997-98 không thành công, khi câu lạc bộ lảng vảng gần khu vực xuống hạng xuống hạng tư. Bonds bị sa thải và được thay bằng Keith "Rhino" Stevens, với Alan McLeary làm trợ lí. Về sau McLeary được nâng lên làm đồng nhà quản lí cùng Stevens. Stevens và McLeary đưa Millwall tới lần đầu tiên chính thức góp mặt tại Sân vận động Wembley. The Lions vào tới 1999 Football League Trophy Final sau chiến thắng bằng golden goal trước Gillingham ở bán kết, cùng chiến thắng chung cuộc 2-1 trước Walsall ở chung kết khu vực. Họ gặp Wigan Athletic trong trận chung kết, nhưng dù có 49.000 cổ động viên của mình trên khán đài, Millwall vẫn thua 0-1 bởi bàn thua ở thời gian bù giờ vì chấn thương. Millwall kết thúc ở vị trí thứ năm và thua Wigan 0-1 sau hai lượt tại bán kết play-off Second Division của mùa giải 1999-2000, đánh dấu thất bại thứ ba của câu lạc bộ tại vòng bán kết play-off.
Vô địch Division Two, chung kết Cúp FA và bóng đá châu Âu: 2000-2007
Mark McGhee được bổ nhiệm làm nhà quản lí mới của Millwall cho mùa giải 2000-01 vào tháng 9 năm 2000, và tám tháng sau câu lạc bộ giành quyền thăng hạng với tư cách nhà vô địch Division Two. Đội kết thúc mùa giải với 93 điểm, một kỉ lục của câu lạc bộ, còn tiền đạo Neil Harris giành danh hiệu vua phá lưới với 27 bàn tại giải vô địch. Cùng với Harris, bước chuyển sang thế kỉ mới cũng chứng kiến sự xuất hiện của một "Thế hệ vàng" gồm nhiều cầu thủ, một số trong đó sau này thi đấu tại Premier League như Tim Cahill, Paul Ifill, Lucas Neill và Steven Reid. Chiến thắng 4-0 trên sân nhà trước Norwich City trong trận đầu tiên của mùa giải 2001-02 tạo đà tốt cho một năm thi đấu thành công, khi Millwall kết thúc ở vị trí thứ tư và giành quyền vào play-off Division One, nhưng thua đội sau đó vô địch là Birmingham City với tỉ số 1-2, đánh dấu thất bại thứ tư của đội ở bán kết play-off. Millwall xếp thứ chín ở mùa giải 2002-03, nhưng McGhee rời Millwall theo "thỏa thuận chung" vào tháng 10.
Vào tháng 10 năm 2003, cựu cầu thủ Chelsea và đội tuyển Anh Dennis Wise trở thành quyền huấn luyện viên, rồi sau đó là cầu thủ kiêm nhà quản lí chính thức của câu lạc bộ ở mùa giải 2003-04. Trong mùa giải đầu tiên dẫn dắt đội bóng, Wise giúp Millwall kết thúc mùa giải chỉ kém nhóm play-off bốn điểm, đồng thời vào tới chung kết Cúp FA đầu tiên trong lịch sử. Millwall đánh bại Sunderland ở bán kết trên sân Old Trafford, với bàn thắng quyết định được ghi bởi Tim Cahill, người kết thúc mùa giải với tư cách cầu thủ ghi nhiều bàn nhất cho Millwall, qua đó thiết lập một trận chung kết gặp Manchester United. Khi Millwall bước ra sân tại Sân vận động Thiên niên kỉ ở Cardiff vào ngày 22 tháng 5 năm 2004, đội chỉ là đội thứ hai ngoài hạng đấu cao nhất được chơi ở trận chung kết Cúp FA kể từ năm 1982, đồng thời là đội đầu tiên ngoài Premier League vào tới trận chung kết kể từ khi hạng đấu cao nhất mới này được thành lập vào năm 1992. Câu lạc bộ thiếu vắng 16 cầu thủ trong đội hình vì án treo giò hoặc chấn thương, nhưng vẫn giữ được tỉ số 0-0 cho tới một phút trước khi hiệp Một khép lại, khi quả tạt của Gary Neville được Cristiano Ronaldo đánh đầu thành bàn. Millwall cuối cùng thua Chung kết Cúp FA 2004 với tỉ số 0-3, trong đó Ruud van Nistelrooy lập cú đúp. Do United đã giành quyền dự UEFA Champions League, Millwall được bảo đảm một suất tham dự Cúp UEFA. Tiền vệ Curtis Weston, vào thay Wise khi thời gian thi đấu chính thức chỉ còn một phút, trở thành cầu thủ trẻ nhất từng góp mặt trong một trận chung kết Cúp FA ở tuổi 17 năm 119 ngày, phá vỡ kỉ lục tồn tại 125 năm của James F. M. Prinsep. Tại Cúp UEFA 2004-05, Millwall thua nhà vô địch Hungary là Ferencváros với tổng tỉ số 2-4 ở vòng Một chính thức, trong đó Wise ghi cả hai bàn cho Millwall.
Năm 2005, Theo Paphitis tuyên bố sẽ rời cương vị chủ tịch câu lạc bộ, và Jeff Burnige được chỉ định thay thế từ tháng 5 năm 2005. Vào cuối mùa giải 2004-05, nhà quản lí Dennis Wise thông báo rời đội vì không thể xây dựng mối quan hệ làm việc với vị chủ tịch mới. Ba mùa giải tiếp theo, từ 2005-08, chứng kiến 11 nhà quản lí chính thức và tạm quyền khác nhau nắm quyền. Cựu tiền đạo của Millwall Steve Claridge được công bố là cầu thủ kiêm nhà quản lí mới của câu lạc bộ. Tuy nhiên, khi Burnige rời chức chỉ hai tháng sau khi nhậm chức, ngày 27 tháng 7 năm 2005, câu lạc bộ thông báo Claridge bị sa thải chỉ sau 36 ngày, mà chưa từng dẫn dắt đội trong một trận đấu chính thức nào. Cựu nhà quản lí Wolverhampton Wanderers là Colin Lee thay thế ông nhưng cũng chỉ trụ lại được năm tháng. Ngày 21 tháng 12, khi câu lạc bộ đứng cuối Championship, Lee trở thành giám đốc bóng đá, còn vị trí nhà quản lí được giao cho cầu thủ 32 tuổi Dave Tuttle theo hợp đồng ngắn hạn cho tới hết mùa giải 2005-06. Millwall trải qua một mùa giải rất khó khăn khi có tới bốn nhà quản lí. Việc chỉ ghi 13 bàn trên sân nhà khiến đội có thành tích tệ thứ hai trong lịch sử Football League. Việc xuống hạng xuống League One được xác nhận vào ngày 17 tháng 4 năm 2006 sau thất bại 0-2 trước Southampton. Trong giai đoạn nghỉ giữa mùa, Nigel Spackman được bổ nhiệm làm nhà quản lí mới, nhưng ông chỉ trụ lại được bốn tháng sau một chuỗi kết quả tồi tệ. Vào tháng 9 năm 2006, Theo Paphitis (chủ tịch từ năm 1997 đến năm 2005) chấm dứt mối liên hệ kéo dài chín năm với câu lạc bộ sau một năm giữ vai trò giám đốc không điều hành. Ngày 19 tháng 3 năm 2007, Willie Donachie kí hợp đồng hai năm sau một số tiến bộ trong nửa sau của mùa giải 2006-07, giúp câu lạc bộ vươn lên vị trí thứ 11 trên bảng xếp hạng. Trước khi Donachie nắm quyền, Millwall chỉ giành được sáu điểm sau 10 trận đầu tiên. Ở mùa giải 2007-08, Millwall đứng cuối bảng vào đầu tháng 10. Donachie bị sa thải ngày 8 tháng 10, và Richard Shaw cùng Colin West trở thành các nhà quản lí tạm quyền.
Ông chủ mới, sự ổn định và thành công play-off đầu tiên: 2007-2015

Vào tháng 3 năm 2007, Chestnut Hill Ventures, do doanh nhân người Mỹ và chủ tịch tương lai John Berylson đứng đầu, đầu tư 5 triệu bảng vào câu lạc bộ. Millwall bổ nhiệm Kenny Jackett làm nhà quản lí mới vào ngày 6 tháng 11 năm 2007. Trong hai mùa giải tiếp theo, Jackett đưa Millwall tới hai lần kết thúc trong tốp sáu của League One, lần lượt ở vị trí thứ năm và thứ ba. Ngày 13 tháng 1 năm 2009, Harris phá kỉ lục ghi bàn mọi thời đại của Teddy Sheringham cho Millwall trong chiến thắng 3-2 trên sân của Crewe Alexandra, với bàn thắng thứ 112 cho câu lạc bộ. Sau thất bại ở chung kết play-off của mùa giải 2008-09 trước Scunthorpe United, và sau khi để vuột suất thăng hạng trực tiếp vào ngày cuối cùng của mùa giải 2009-10 khi kém Leeds United đúng một điểm, Millwall trở lại Wembley và cuối cùng phá dớp play-off sau năm lần thất bại liên tiếp, bằng chiến thắng 1-0 trước Swindon Town trong chung kết play-off League One 2010, qua đó trở lại Football League Championship sau bốn năm vắng mặt.
Sau khởi đầu mạnh mẽ ở mùa giải 2012-13, trong đó có chuỗi 13 trận bất bại và có thời điểm cạnh tranh suất play-off, Millwall sa sút ở giai đoạn cuối, chỉ thắng năm trong 23 trận cuối cùng, và chỉ vừa đủ tránh xuống hạng ở ngày cuối cùng của mùa giải. Phong độ nghèo nàn tại giải vô địch lại diễn ra song song với việc đội bóng lọt vào bán kết Cúp FA lần thứ năm trong lịch sử. Đội gặp Wigan Athletic tại Sân vận động Wembley vào ngày 14 tháng 4 năm 2013, và thua 0-2 trước đội sau đó trở thành nhà vô địch cúp. Kenny Jackett từ chức ngày 7 tháng 5 năm 2013. Ông là nhà quản lí có thời gian tại vị dài thứ tư trong lịch sử Millwall, với 306 trận cầm quân. Sau một tháng tìm kiếm, Millwall bổ nhiệm St Johnstone boss Steve Lomas làm nhà quản lí mới vào ngày 6 tháng 6 năm 2013. Millwall sa thải Lomas vào ngày 26 tháng 12 năm 2013, sau khi chỉ thắng năm trong 22 trận đầu tiên dưới quyền ông.
Câu lạc bộ bổ nhiệm Ian Holloway làm nhà quản lí mới vào ngày 6 tháng 1 năm 2014, khi đội đang đứng thứ 21 trên bảng xếp hạng Championship. Millwall bất bại trong tám trận cuối cùng của mùa giải 2013-14 và kết thúc ở vị trí thứ 19, hơn khu vực xuống hạng bốn điểm. Ở mùa giải sau, Holloway bị sa thải ngày 10 tháng 3 năm 2015 khi đội đứng áp chót tại Championship, và Neil Harris được bổ nhiệm lại làm nhà quản lí tạm quyền cho tới hết mùa giải. Tuy nhiên, ông không thể giúp đội trụ hạng, khi việc Millwall rớt xuống League One được xác nhận vào ngày 28 tháng 4, dù mùa giải 2014-15 vẫn còn một trận chưa đấu. Harris được xác nhận là nhà quản lí chính thức của Millwall ngay ngày hôm sau.
Kỉ nguyên Harris, trở lại Championship và những lần hạ gục đội lớn ở Cúp FA: 2015-2023
Trong mùa giải trọn vẹn đầu tiên nắm quyền, Harris đưa Millwall tới vị trí thứ tư tại League One và vào chung kết play-off tại Wembley, nơi The Lions thua Barnsley 1-3. Ở Cúp FA 2016-17, Millwall vào tới tứ kết lần thứ mười trong lịch sử. Millwall vào chung kết play-off League One tại Wembley năm thứ hai liên tiếp sau khi đánh bại Scunthorpe United 3-2 ở bán kết. Đội giành quyền trở lại Championship sau chiến thắng 1-0 trước Bradford City trong trận chung kết play-off, nhờ bàn thắng ở phút 85 của Steve Morison.
Tại Cúp FA 2018-19, Millwall vào tới tứ kết lần thứ 11 trong lịch sử, trước khi thua đội bóng Premier League là Brighton trên chấm luân lưu. Trong mùa giải này, Millwall hai lần phá kỉ lục chuyển nhượng của câu lạc bộ: đầu tiên là mua Tom Bradshaw từ Barnsley với giá 1,25 triệu bảng, rồi một tuần sau chiêu mộ tiền vệ Ryan Leonard từ Sheffield United với giá 1,5 triệu bảng. Đội cũng phá kỉ lục số tiền thu về từ một cầu thủ khi bán George Saville cho Middlesbrough với giá 8 triệu bảng.
Ngày 3 tháng 10 năm 2019, Neil Harris từ chức khỏi cương vị nhà quản lí Millwall khi câu lạc bộ đứng thứ 18 với chỉ hai chiến thắng sau 10 trận đầu tiên tại Championship. Harris đã hai lần đưa Millwall tới Wembley, giành một lần thăng hạng, và đưa đội tới hai trận tứ kết Cúp FA trong thời gian dẫn dắt. Ngày 21 tháng 10 năm 2019, Harris được thay thế bởi cựu huấn luyện viên Stoke City Gary Rowett. Rowett tạo ra sự hồi sinh mạnh mẽ về phong độ; chỉ thua hai trận trong 15 trận đầu tiên tại giải vô địch, giúp mùa giải 2019-20 kết thúc với vị trí thứ tám, chỉ kém nhóm play-off hai điểm. Ở mùa giải thứ hai cầm quân, Rowett đưa đội về đích ở vị trí thứ 11 tại khu vực giữa bảng xếp hạng. Mùa giải 2021-22 sau đó chứng kiến sự cải thiện với vị trí thứ chín, lỡ suất play-off ngay ở ngày cuối cùng của mùa giải. Vào mùa hè năm 2022, Millwall phá kỉ lục chuyển nhượng để kí hợp đồng với cầu thủ người Hà Lan Zian Flemming với mức phí được cho là 1,7 triệu bảng. Millwall lại tiến rất gần ở mùa giải 2022-23. Đội chỉ cần thắng ở ngày cuối cùng để giành một suất play-off, nhưng lại đánh mất lợi thế dẫn 3-1, thua Blackburn Rovers 3-4 và cuối cùng đứng thứ tám, với Flemming tỏa sáng trong vai trò chân sút số một của đội.
Chủ tịch qua đời và sự ổn định ở hạng hai: 2023-2025

Ngày 4 tháng 7 năm 2023, câu lạc bộ thông báo ông chủ kiêm chủ tịch John Berylson qua đời trong một tai nạn ô tô. Con trai ông, James, được chỉ định thay thế trong vai trò chủ tịch.
Ngày 18 tháng 10 năm 2023, câu lạc bộ thông báo đã đồng thuận chia tay nhà quản lí đội một Gary Rowett. Ngày 6 tháng 11 năm 2023, Millwall xác nhận huấn luyện viên đội tuyển Anh U-20 Joe Edwards là huấn luyện viên trưởng mới. Sau chuỗi bốn chiến thắng trong 19 trận, Edwards bị Millwall sa thải vào ngày 21 tháng 2 năm 2024. Ông được thay thế bởi cựu cầu thủ và chân sút kỉ lục của câu lạc bộ Neil Harris, trong nhiệm kì thứ ba của ông với The Lions. Dưới sự dẫn dắt của Harris, câu lạc bộ kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 13.
Ngày 15 tháng 6 năm 2024, thủ môn số một của câu lạc bộ là Matija Sarkic qua đời khi đang làm nhiệm vụ quốc tế cùng đội tuyển Montenegro. Mùa giải 2024-25 là năm thứ tám liên tiếp Millwall góp mặt ở hạng hai, giai đoạn thành công nhất của đội kể từ năm 1996. Ngày 10 tháng 12 năm 2024, khi Millwall đang đứng thứ 11 tại Championship, Harris cho biết ông sẽ rời câu lạc bộ sau trận gặp Middlesbrough vào ngày 14 tháng 12. Alex Neil được bổ nhiệm làm người kế nhiệm Harris, và đã đưa Millwall về đích ở vị trí thứ tám, chỉ lỡ suất play-off ở ngày cuối cùng của mùa giải.
Màu sắc, biểu trưng và biệt danh
Trang phục
Trang phục truyền thống của Millwall trong phần lớn lịch sử 125 năm của câu lạc bộ chủ yếu gồm áo xanh dương, quần trắng và tất xanh dương. Trong 50 năm đầu tiên, cho tới năm 1936, đội bóng sử dụng màu xanh hải quân truyền thống, tương tự màu áo của đội tuyển Scotland. Màu sắc này được chọn để tri ân nguồn gốc Scotland của câu lạc bộ, khi nòng cốt của đội hình Millwall Rovers đầu tiên đến từ Dundee. Năm 1936, nhà quản lí mới được bổ nhiệm của Millwall là Charlie Hewitt quyết định đổi màu trang phục từ xanh hải quân sang xanh hoàng gia sáng hơn, và đội bóng sử dụng màu này trong phần lớn 74 năm tiếp theo, ngoại trừ giai đoạn 1968-75 và 1999-2001, khi đội mặc bộ trang phục toàn trắng. Bộ trang phục ở mùa giải 2010-11 được thiết kế để kỉ niệm 125 năm thành lập câu lạc bộ, với việc Millwall sử dụng lại màu xanh hải quân đậm hơn của bộ trang phục đầu tiên. Câu lạc bộ giữ lại màu này kể từ đó. Về màu áo phụ, áo trắng quần xanh hoặc áo vàng quần đen là những màu sân khách chủ đạo của The Lions. Đội bóng cũng từng sử dụng các bộ trang phục sọc đỏ-đen, toàn xám, toàn cam, toàn đỏ và sọc xanh lá-trắng. Millwall mặc một bộ trang phục ngụy trang đặc biệt chỉ dùng một lần để tưởng niệm 100 năm Chiến tranh thế giới thứ nhất trong trận gặp Brentford ngày 8 tháng 11 năm 2014. Bộ áo này sau đó được bán cho cổ động viên, và số tiền thu được được chuyển cho Headley Court, một trung tâm phục hồi chức năng dành cho các thành viên bị thương của British Armed Forces.
Biểu trưng
Biểu trưng của câu lạc bộ mang hình một con sư tử chồm kể từ năm 1936, và cũng chính Charlie Hewitt là người đưa chi tiết này vào. Đã có nhiều biến thể khác nhau của hình sư tử; phiên bản đầu tiên là một con sư tử đỏ đơn lẻ, thường bị nhầm là được chọn vì nguồn gốc Scotland của câu lạc bộ. Hình sư tử này rất giống với các biển hiệu thường thấy ở những quán rượu mang tên The Red Lion. Từ năm 1956 đến năm 1974, biểu trưng của Millwall là hai con sư tử đỏ đang nhảy, quay mặt vào nhau. Cựu chủ tịch Theo Paphitis đưa biểu trưng này trở lại vào năm 1999, và nó được sử dụng thêm tám năm nữa. Biểu trưng hiện nay là hình một con sư tử đang nhảy, lần đầu tiên xuất hiện trên trang phục của Millwall vào năm 1979. Nó được sử dụng liên tục tới năm 1999 và được tái giới thiệu một lần nữa vào năm 2007. Linh vật của câu lạc bộ là một con sư tử khổng lồ tên Zampa, được đặt theo tên đường Zampa Road, nơi tọa lạc của The Den.
The Lions
Biệt danh của đội bóng là The Lions, trước đây là The Dockers. Tên gọi Dockers ban đầu xuất phát từ nghề nghiệp của nhiều người ủng hộ câu lạc bộ vào đầu những năm 1900. Câu lạc bộ không thích biệt danh đó và đã thay đổi sau khi báo chí gọi Millwall là 'Lions of the South', sau khi đội loại đội đầu bảng Football League là Aston Villa khỏi Cúp FA 1899-1900. Millwall, khi đó là một đội bóng của Southern League, sau đó tiến tới bán kết. Câu lạc bộ chọn khẩu hiệu: We Fear No Foe Where E'er We Go. Trong thập niên 2000, câu lạc bộ bắt đầu thừa nhận mối liên hệ đặc biệt của mình với bến cảng Luân Đôn bằng việc tổ chức Dockers' Days, đồng thời lưu trữ lịch sử gắn với giới bốc vác của câu lạc bộ trong Bảo tàng Millwall FC. Dockers' Days quy tụ các thế hệ đội hình Millwall thành công trong quá khứ, những người diễu hành trên sân trong giờ nghỉ giữa hai hiệp. Những người ủng hộ từng làm nghề bốc vác được phép vào sân miễn phí. Năm 2011, Millwall chính thức đặt tên khán đài phía Đông của The Den là 'Dockers Stand' để vinh danh biệt danh cũ của câu lạc bộ.
Nhà tài trợ và nhà sản xuất trang phục
Ở mùa giải 2013-14, Millwall đã chọn tổ chức từ thiện Prostate Cancer UK làm nhà tài trợ áo đấu miễn phí.
| Năm | Nhà sản xuất trang phục | Nhà tài trợ chính trên áo | Nhà tài trợ phụ |
|---|---|---|---|
| 1975-80 | Bukta | Không có | |
| 1980-83 | Osca | ||
| 1983-85 | LDDC | ||
| 1985-86 | Gimer | London Docklands | |
| 1986-87 | Spall | ||
| 1987-89 | Lewisham Council | ||
| 1989-90 | Millwall | ||
| 1990-91 | Lewisham Council | ||
| 1991-92 | Fairview Homes PLC | ||
| 1992-93 | Bukta | Fairview | |
| 1993-94 | Captain Morgan | ||
| 1994-96 | Asics | ||
| 1996-97 | South London Press | ||
| 1997-99 | L!VE TV | ||
| 1999-2001 | Strikeforce | Giorgio | |
| 2001-03 | 24 Seven | ||
| 2003-04 | Ryman | ||
| 2004-05 | Beko | ||
| 2005-06 | Lonsdale | ||
| 2006-07 | Oppida | ||
| 2007-08 | Bukta | K&T Heating Services Ltd | |
| 2008-10 | CYC | Oppida | |
| 2010-11 | Macron | Matchbet | |
| 2011-12 | Racing+ | Sasco Sauces | |
| 2012-13 | BestPay | ||
| 2013-14 | Prostate Cancer UK | Wallis Teagan | |
| 2014-15 | Euroferries | ||
| 2015-16 | Wallis Teagan | ||
| 2016-17 | Erreà | ||
| 2017-18 | TW Drainage & EnergyBet | DCS Roofing | |
| 2018-19 | Macron | ||
| 2019-22 | Huski Chocolate | ||
| 2022-23 | Hummel | ||
| 2023-24 | Erreà | ||
| 2024-25 | My Guava | ||
| 2025– | Wiggett Group |
Sân vận động
Lịch sử

Millwall khởi đầu tại Isle of Dogs và đã sử dụng bốn sân khác nhau trong 25 năm đầu tiên của câu lạc bộ. Sân nhà đầu tiên của đội là một bãi đất trống mang tên Glengall Road, nơi họ chỉ gắn bó trong một năm. Từ năm 1886 đến năm 1890, họ thi đấu phía sau quán rượu The Lord Nelson trên đường East Ferry Road, nơi được gọi là Lord Nelson Ground, trước khi buộc phải rời đi vì bà chủ đất nhận được một lời đề nghị tốt hơn cho việc sử dụng khu đất.
Họ chuyển tới sân nhà thứ ba là The Athletic Grounds vào ngày 6 tháng 9 năm 1890. Đây là sân vận động đầu tiên được xây dựng chuyên dụng cho câu lạc bộ, với một khán đài có sức chứa 600 người và tổng sức chứa khoảng từ 10.000 đến 15.000 khán giả. Tuy nhiên, câu lạc bộ lại buộc phải chuyển đi, lần này là do Millwall Dock Company muốn sử dụng khu đất làm bãi gỗ. Họ chuyển tới một địa điểm gần sân nhà thứ hai vào năm 1901, nơi sau đó được gọi là North Greenwich. Họ tiếp tục là một câu lạc bộ của Đông Luân Đôn thêm chín năm nữa, với trận cuối cùng diễn ra tại Isle of Dogs vào ngày 8 tháng 10 năm 1910 trước Portsmouth, trận đấu mà Millwall thắng 3-1.
Ngày 22 tháng 10 năm 1910, Millwall vượt sông sang Đông Nam Luân Đôn, chuyển tới Cold Blow Lane ở New Cross. Sân nhà thứ năm được đặt tên là The Den, được xây dựng với chi phí 10.000 bảng bởi kiến trúc sư sân bóng nổi tiếng Archibald Leitch. Trận đầu tiên tại đây diễn ra trước Brighton & Hove Albion, và Brighton giành chiến thắng 1-0. Millwall gắn bó với sân này trong 83 năm, cho tới khi chuyển sang sân nhà thứ sáu và cũng là sân hiện tại, ban đầu được gọi là The New Den nhưng nay thường gọi đơn giản là The Den, vào ngày 4 tháng 8 năm 1993. Sân vận động này có toàn bộ ghế ngồi với sức chứa 20.146 người. Một đội hình của Sporting CP do Bobby Robson dẫn dắt đã giúp khánh thành sân mới bằng một trận giao hữu, trong đó The Lions thua 1-2.
Tranh cãi về tái phát triển Bermondsey và tương lai của The Den
Vào tháng 9 năm 2016, Hội đồng Lewisham phê chuẩn một compulsory purchase order (CPO) đối với khu đất xung quanh The Den đang được Millwall thuê, như một phần của dự án tái phát triển lớn khu vực "New Bermondsey". Kế hoạch này gây tranh cãi vì đơn vị phát triển, Renewal, do các công ti nước ngoài có quyền sở hữu không rõ ràng kiểm soát, và bị câu lạc bộ cùng cộng đồng địa phương cho là đang trục lợi bằng cách phá bỏ các ngôi nhà và cơ sở kinh doanh hiện có, cũng như bãi đỗ xe của Millwall và cơ sở của Millwall Community Trust để xây tới 2.400 căn nhà riêng mới, mà không có nhà ở xã hội. Câu lạc bộ từng cân nhắc khả năng phải chuyển tới Kent. Millwall đã đệ trình các kế hoạch tái phát triển riêng, lấy chính câu lạc bộ làm trung tâm, nhưng hội đồng vẫn bỏ phiếu ủng hộ kế hoạch của Renewal. Vào tháng 12 năm 2016, Private Eye đưa tin rằng Renewal được thành lập bởi một cựu lãnh đạo Hội đồng Lewisham và một quan chức cấp cao, làm dấy lên nghi ngờ về khả năng thiên vị, đồng thời cho rằng quyết định phê chuẩn kế hoạch của Renewal có thể đã được đưa ra từ tận năm 2013 dù PricewaterhouseCoopers không thể tiến hành đầy đủ việc thẩm định do khả năng tiếp cận thông tin và ban quản lí của Renewal quá "kém" và "hạn chế", trong khi công ti này lại được điều hành từ Isle of Man và British Virgin Islands. Trước sự phản đối ngày càng lớn từ cộng đồng và sức ép của truyền thông, hội đồng cho biết vào tháng 1 năm 2017 rằng họ sẽ không tiếp tục CPO nữa. Tuy nhiên, về sau có thông tin cho rằng họ vẫn đang tìm tư vấn pháp lí về những phương án khác để bảo đảm CPO, và các thành viên nội các của hội đồng sẽ quyết định bước đi tiếp theo sau một cuộc "rà soát". Private Eye cũng đưa tin rằng Millwall tiếp tục thăm dò các lựa chọn chuyển địa điểm tới Kent.
Ngày 9 tháng 5 năm 2024, Millwall đạt được hợp đồng thuê 999 năm đối với The Den từ hội đồng, sau khi được Thị trưởng Lewisham phê duyệt. Hợp đồng thuê mới bảo đảm tương lai của câu lạc bộ tại Luân Đôn và gỡ bỏ các hạn chế đối với việc phát triển khu vực xung quanh sân vận động, đồng thời trao cho Millwall quyền phát triển các khu nhà ở mới, không gian giải trí và không gian cộng đồng tại New Bermondsey.
Các bài hát truyền thống
Một truyền thống tại The Den là phát bài hát chính thức của câu lạc bộ "Let 'em Come" của Roy Green khi Millwall và đội đối thủ bước ra sân. Bài hát này được viết riêng cho câu lạc bộ và lời ca phản ánh văn hóa Luân Đôn xưa, như ăn jellied eels và uống một cốc bia trước khi tới sân. Bài hát kết thúc bằng việc toàn bộ cổ động viên đội chủ nhà đứng dậy, giơ tay lên cao (thường là hướng về phía người hâm mộ đội khách) và hát câu cuối: "Let 'em all... come down.... to The Den!" Một bộ phim truyền hình về một người hâm mộ Millwall và cựu công nhân bốc vác, với sự tham gia của David Jason, đã lấy một câu trong bài hát làm tiêu đề là Come Rain Come Shine. Bài hát được phát lặp đi lặp lại tại Sân vận động Wembley sau khi Millwall giành quyền thăng hạng lên Championship vào năm 2010. Bài hát "Shoeshine Boy" của Mills Blue Rhythm Band từng được phát làm nhạc lúc cầu thủ bước ra sân trước khi "Let 'em Come" vang lên. Năm 2004, Millwall phát hành bài hát "Oh Millwall", ca khúc đã đạt vị trí thứ 41 trên UK Singles Chart.
Những ca khúc khác thường xuyên được phát tại The Den trong giai đoạn trước trận đấu qua nhiều năm gồm "London Calling" của The Clash, "No Surrender" của Bruce Springsteen, "Town Called Malice" của The Jam và "House of Fun" của Madness, trong đó có câu hát "welcome to the lion's den...". Phiên bản hát lại của Status Quo đối với bài "Rockin' All Over the World" được phát sau mỗi chiến thắng trên sân nhà.
Các mối kình địch
Millwall được xếp thứ tám trong danh sách 92 câu lạc bộ Football League có nhiều đối thủ kình địch nhất, với việc West Ham United, Leeds United, Crystal Palace và Charlton Athletic đều xem Millwall là một đối thủ lớn. Portsmouth, Everton và Gillingham cũng có những mối kình địch nhỏ hơn với Millwall, với tình trạng hooligan giữa cổ động viên các đội này kéo dài từ thập niên 1970.
Mối kình địch lớn với West Ham United

Đối thủ kình địch lớn nhất của Millwall là West Ham United. Đây là một trong những trận derby địa phương diễn ra căng thẳng nhất trong bóng đá. Hai câu lạc bộ hiếm khi gặp nhau trong những năm gần đây vì thi đấu ở các hạng đấu khác nhau; phần lớn các lần chạm trán của họ diễn ra trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, với khoảng 60 trận trong giai đoạn từ năm 1899 đến năm 1915. Hai đội đã gặp nhau 99 lần kể từ cuộc đối đầu đầu tiên năm 1899. Millwall thắng 38, hòa 27 và thua 34 trận. Bất chấp bạo lực giữa hai nhóm cổ động viên và những lời kêu gọi rằng các trận sau này giữa hai câu lạc bộ nên được tổ chức không khán giả, lần gần nhất họ gặp nhau tại Football League Championship mùa 2011-12 đã diễn ra mà không có lệnh cấm hoàn toàn nào với cổ động viên của hai bên, và cũng không tái diễn rắc rối đám đông. Mối kình địch giữa hai đội, đặc biệt là giữa hai nhóm hooligan của họ, đã nhiều lần được đưa lên màn ảnh rộng trong các bộ phim như Green Street.
Mối kình địch với Leeds United
Millwall có mối kình địch dữ dội với Leeds United. Mối kình địch giữa hai đội càng trở nên gay gắt bởi sự cuồng nhiệt của cổ động viên hai bên và mối liên hệ của cả hai câu lạc bộ với nạn hooligan bóng đá. Hai nhóm hooligan của hai câu lạc bộ là Leeds United Service Crew và Millwall Bushwackers từng nổi tiếng trong thập niên 1970 và 1980 vì mức độ bạo lực, lần lượt bị gọi là "dirty Leeds" và "the scourge of football". Từ năm 1920 đến năm 2003, hai đội chỉ gặp nhau 12 lần; do phần lớn lịch sử của họ là thi đấu ở các hạng khác nhau, và cũng không bên nào xem bên kia là đối thủ trực tiếp trên sân cỏ. Kể từ khi Leeds rớt khỏi Premier League vào năm 2004, hai đội đã gặp nhau 28 lần trong 16 năm. Mối kình địch bắt đầu bùng lên tại League One trong mùa giải 2007-08, với các vụ hỗn loạn và va chạm bạo lực giữa cổ động viên hai bên cùng cảnh sát tại Elland Road. Mối căng thẳng tiếp tục kéo dài sang mùa giải 2008-09, khi hai đội cạnh tranh suất thăng hạng lên Championship, và đỉnh điểm là việc Millwall loại Leeds khỏi play-off League One ở vòng bán kết. Trong 45 trận giữa hai câu lạc bộ kể từ năm 1931, Millwall và Leeds đang cân bằng với cùng 20 chiến thắng mỗi bên, còn lại là năm trận hòa.
Các trận derby Đông Nam Luân Đôn
Millwall ở gần Charlton Athletic hơn cả, khi The Den và The Valley chỉ cách nhau chưa đầy bốn dặm. Họ gặp nhau gần nhất vào tháng 1 năm 2026, khi Millwall đánh bại Charlton 4-0 tại The Den. Kể từ trận đấu chính thức đầu tiên giữa hai đội vào năm 1921, Millwall thắng 38, hòa 27 và thua 12 trận. The Lions bất bại trong 14 trận gần nhất gặp Charlton, kéo dài suốt 30 năm, với tám chiến thắng và sáu trận hòa. The Lions gần nhất gặp Crystal Palace vào tháng 9 năm 2025, trong một trận thuộc Cúp Liên đoàn bóng đá Anh tại Selhurst Park. Trận đấu kết thúc với tỉ số 1-1, và Palace thắng 4-2 trên chấm luân lưu. Trong gần 100 trận đấu chính thức giữa hai câu lạc bộ kể từ năm 1906, Millwall thắng 39, hòa 30 và thua 32 trận.
Cầu thủ
Đội hình hiện tại
- Tính đến 1 tháng 2 năm 2026
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Cho mượn
- Tính đến 1 tháng 2 năm 2026
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Số áo được treo
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
U-21 Millwall
- Tính đến 20 tháng 7 năm 2024.
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
U-18 Millwall
- Tính đến 18 tháng 5 năm 2024.
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Cầu thủ xuất sắc nhất năm
- Do các thành viên Millwall Supporters Club và những người sở hữu vé mùa bình chọn.
Các danh hiệu cá nhân
Đại sảnh Danh vọng bóng đá
Những cầu thủ Millwall được ghi danh vào
Đại sảnh Danh vọng Bóng đá Anh:
|
Những cầu thủ Millwall được ghi danh vào
Ngôi đền danh vọng bóng đá Ireland:
|
Những cầu thủ Millwall được ghi danh vào
Ngôi đền danh vọng thể thao Australia:
|
Cầu thủ xuất sắc nhất năm do người hâm mộ PFA bình chọn
|
Những cầu thủ có tên trong PFA Fans' Player of the Year khi đang thi đấu cho Millwall:
|
Đội hình tiêu biểu của năm PFA
|
Những cầu thủ có tên trong PFA Team of the Year khi đang thi đấu cho Millwall:
|
Các cựu cầu thủ nổi bật
Dưới đây là danh sách những cầu thủ bóng đá nổi bật từng thi đấu cho Millwall, bao gồm những người đã được vinh danh trong Hall of Fame của Millwall, những tuyển thủ quốc gia được khoác áo đội tuyển khi đang chơi cho Millwall, những cầu thủ được tổ chức trận đấu tri ân sau 10 năm cống hiến cho câu lạc bộ, những người có hơn 100 lần ra sân hoặc ghi từ 50 bàn trở lên, cũng như các cầu thủ thành viên sáng lập năm 1885 có đóng góp đáng kể vào lịch sử câu lạc bộ.
|
|
|
|
Huấn luyện viên
Kể từ khi câu lạc bộ bổ nhiệm huấn luyện viên chuyên nghiệp đầu tiên là Bert Lipsham vào ngày 4 tháng 5 năm 1911, đã có 50 nhà quản lí khác nhau (gồm 34 người chính thức và 17 quyền huấn luyện viên) trải qua tổng cộng 53 nhiệm kì dẫn dắt. Từ năm 1890 đến năm 1910, các giám đốc của Millwall là Kidd, Stopher và Saunders giữ vai trò nhà quản lí danh dự, đồng thời kiêm luôn chức thư kí câu lạc bộ. Bob Hunter là nhà quản lí phục vụ lâu nhất của Millwall, khi dẫn dắt đội trong 15 năm. Ông qua đời khi đang tại chức vào năm 1933, sau tổng cộng 36 năm gắn bó với câu lạc bộ. Steve Claridge là người có nhiệm kì ngắn nhất tại câu lạc bộ, chỉ kéo dài 36 ngày mà chưa từng chỉ đạo một trận nào của đội một. Có bảy nhà quản lí từng giữ vị trí này nhiều hơn một lần, trong đó chân sút kỉ lục của câu lạc bộ là Neil Harris là người duy nhất đảm nhiệm vai trò này trong ba giai đoạn riêng biệt. Mọi nhà quản lí của Millwall đều đến từ Vương quốc Liên hiệp Anh hoặc Ireland.
(S) = Thư kí, (C) = Quyền huấn luyện viên, (2) Nhiệm kì thứ hai, (3) Nhiệm kì thứ ba
|
|
|
Top 10 huấn luyện viên có số trận dẫn dắt nhiều nhất
- Tính đến trận đấu diễn ra ngày 14 tháng 12 năm 2024
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Quan chức câu lạc bộ
- Tính đến 03 tháng 8 năm 2025.
Ban lãnh đạo
- Chủ tịch: James Berylson
- Giám đốc: Constantine Gonticas, Trevor Keyse, Demos Kouvaris, Richard Press, Peter Garston và Matthew Sidman
- Giám đốc điều hành: Mark Fairbrother
- Giám đốc tài chính: Emma Parker
- Giám đốc thương mại: Luke Wilson
- Giám đốc bóng đá: Steve Gallen
Ban huấn luyện
- Huấn luyện viên trưởng: Alex Neil
- Trợ lí huấn luyện viên trưởng: Martin Canning
- Huấn luyện viên đội một: David Livermore
- Huấn luyện viên thủ môn: Dean Thornton
- Huấn luyện viên trưởng đội phát triển ưu tú U21: Kevin Nugent
- Trợ lí huấn luyện viên đội phát triển ưu tú U21: Paul Robinson
- Giám đốc học viện: Scott Fitzgerald
Danh hiệu

Giải vô địch
- Second Division / First Division (cấp độ 2)
- Vô địch: 1987-88
- Third Division South / Third Division / Second Division / League One (cấp độ 3)
- Fourth Division (cấp độ 4)
- Western Football League
- Vô địch: 1907-08, 1908-09
- Southern Football League
Cúp
- Cúp FA
- Á quân: 2003-04
- Football League Trophy
- Football League War Cup
- Chung kết: 1945
- Third Division South Cup
- Vô địch: 1937
Các danh hiệu nhỏ
- London League
- Vô địch: 1903-04
- United League
- Kent Senior Shield
- Vô địch: 1912, 1913
- London Challenge Cup
- Vô địch: 1909, 1915, 1928, 1938
- East London Senior Cup
- Vô địch: 1887, 1888, 1889
- East London FA Cup
- Đồng vô địch: 1886
- Southern Professional Charity Cup
- Vô địch: 1904
- Chung kết: 1903
- London Charity Cup
- Chung kết: 1892
- Nguồn:
Kỉ lục và thống kê
Barry Kitchener nắm giữ kỉ lục số lần ra sân cho Millwall, với 596 trận trong giai đoạn từ năm 1966 đến năm 1982. Kỉ lục ghi bàn thuộc về cựu nhà quản lí Neil Harris, với 138 bàn trên mọi đấu trường. Anh đã phá kỉ lục cũ 111 bàn của Teddy Sheringham vào ngày 13 tháng 1 năm 2009, trong chiến thắng 3-2 trên sân Crewe Alexandra. Chiến thắng đậm nhất của câu lạc bộ tại giải vô địch là 9-1, tỉ số mà đội lập được hai lần trong mùa giải vô địch Football League Third Division South năm 1927. Họ đều đánh bại Torquay United và Coventry City với tỉ số này tại The Den. Thất bại đậm nhất của Millwall ở giải vô địch là trận thua 1-8 trên sân Plymouth Argyle năm 1932. Trận thua nặng nề nhất của câu lạc bộ trên mọi đấu trường là thất bại 1-9 trước Aston Villa ở lượt về vòng Bốn Cúp FA năm 1946. Chiến thắng đậm nhất của Millwall ở cúp là 7-0 trước Gateshead năm 1936. Trận đấu có tổng số bàn thắng cao nhất của câu lạc bộ là trận cầu 12 bàn trên sân nhà trước Preston North End năm 1930, khi Millwall thua 5-7.
Kỉ lục cầu thủ
- Tính đến tháng 2 năm 2026
- Số lần ra sân
|
- Bàn thắng
|
- Cầu thủ in đậm nghĩa là vẫn đang thi đấu cho câu lạc bộ.
- Chỉ tính các giải Football League và các giải cúp cấp cao.
Xem Danh sách mùa giải Millwall F.C. để biết cầu thủ ghi nhiều bàn nhất cho Millwall theo từng năm kể từ năm 1895.
Millwall tại đấu trường châu Âu
Ngày 22 tháng 5 năm 2004, Millwall gặp Manchester United trong trận chung kết Cúp FA và thua 0-3. Do United đã giành quyền tham dự UEFA Champions League, Millwall được bảo đảm một suất dự Cúp UEFA. Millwall thi đấu ở vòng Một và thua Ferencváros với tổng tỉ số 2-4.
Thành tích tại châu Âu
| Mùa giải | Giải đấu | Vòng | Đối thủ | Lượt đi | Lượt về | Tổng tỉ số |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 2004-05 | Cúp UEFA | Vòng Một | 1-1 | 1-3 | 2-4 |
Cổ động viên và hooligan
Millwall có lượng khán giả trung bình gần 12.000 người mỗi trận sân nhà trong 93 mùa giải tại Football League, trong khi phần lớn thời gian đó câu lạc bộ liên tục lên xuống giữa hạng hai và hạng ba của bóng đá Anh. Ban đầu đặt trụ sở tại East End của Luân Đôn, câu lạc bộ chuyển qua bên kia River Thames tới đông nam Luân Đôn vào năm 1910, và lực lượng cổ động viên chủ yếu đến từ các khu vực xung quanh. Câu lạc bộ và người hâm mộ của mình có mối liên hệ lịch sử với nạn hooligan bóng đá, hiện tượng trở nên phổ biến trong các thập niên 1970 và 1980 với một nhóm ban đầu mang tên F-Troop, về sau được biết đến rộng rãi hơn với tên Millwall Bushwackers, một trong những nhóm hooligan khét tiếng nhất nước Anh. Trong năm lần khác nhau, The Den đã bị Liên đoàn bóng đá Anh đóng cửa và câu lạc bộ cũng nhiều lần bị phạt vì tình trạng hỗn loạn của đám đông. Bộ phim tài liệu Panorama của BBC từng được Millwall mời vào câu lạc bộ năm 1977 để cho thấy danh tiếng hooligan chỉ là một huyền thoại và bị truyền thông thổi phồng. Tuy nhiên, BBC lại mô tả hooligan là thứ đã ăn sâu trong Millwall, đồng thời liên hệ câu lạc bộ với đảng cực hữu National Front. Chương trình này gây tổn hại rất lớn cho câu lạc bộ. Cựu chủ tịch Reg Burr từng bình luận: "Millwall là cái móc áo tiện lợi để bóng đá treo lên đó mọi vấn đề xã hội của nó", một ví dụ là việc đưa tin về kẻ giết người bị kết án Gavin Grant. Dù cầu thủ này từng thi đấu cho tám câu lạc bộ khác nhau, chơi ít trận nhất cho Millwall (bốn trận), và vào thời điểm bị kết án đang thuộc biên chế Bradford City, BBC vẫn dùng tiêu đề: "Cựu tiền đạo Millwall Gavin Grant phạm tội giết người".
Sự kì thị gắn với bạo lực của Millwall có thể truy ngược lại hơn 100 năm. Millwall làm khách trước kình địch địa phương West Ham United tại Upton Park ngày 17 tháng 9 năm 1906 trong một trận đấu thuộc Western League. Cổ động viên hai bên chủ yếu là công nhân bốc vác, sống và làm việc trong cùng khu vực ở đông Luân Đôn. Nhiều người là đối thủ của nhau khi làm cho các công ty khác nhau và cạnh tranh cùng một loại công việc. Một tờ báo địa phương, East Ham Echo, đưa tin rằng: "Ngay từ cú chạm bóng đầu tiên đã có thể thấy trước sẽ có rắc rối, nhưng cơn bão thực sự nổ ra khi Dean và Jarvis va chạm nhau (Millwall có hai cầu thủ bị đuổi trong trận). Điều này kích động sự phấn khích đáng kể trong số khán giả. Khi đám đông trên bờ dốc bị lây cơn sốt ấy, những cuộc ẩu đả diễn ra khắp nơi." Trong thập niên 1920, sân của Millwall bị đóng cửa hai tuần sau khi thủ môn của Newport County, người đã bị ném vật thể trúng người, lao lên khán đài để đối đầu với một số cổ động viên chủ nhà rồi bị đánh bất tỉnh. Sân lại bị đóng cửa hai tuần nữa vào năm 1934 sau tình trạng hỗn loạn trên khán đài trong trận gặp Bradford Park Avenue. Những vụ tràn xuống sân dẫn tới thêm một lần đóng cửa nữa vào năm 1947, và năm 1950 câu lạc bộ bị phạt sau khi một trọng tài và một trọng tài biên bị phục kích bên ngoài sân.
Trong thập niên 1960, nạn hooligan ở Anh bắt đầu được nhắc đến rộng rãi hơn. Ngày 6 tháng 11 năm 1965, Millwall đánh bại câu lạc bộ phía tây Luân Đôn Brentford 2-1 trên sân Griffin Park và trong trận đấu một quả lựu đạn cầm tay đã bị ném xuống sân từ khu vực cổ động viên Millwall. Thủ môn của Brentford là Chic Brodie nhặt lên, kiểm tra rồi ném nó vào lưới của mình. Về sau cảnh sát thu hồi quả lựu đạn đó và xác định đây chỉ là đồ giả vô hại. Hai nhóm cổ động viên đã xô xát cả trong lẫn ngoài sân trong trận đấu, khiến một cổ động viên Millwall bị gãy xương hàm. Tờ The Sun chạy dòng tít giật gân liên quan đến lựu đạn: "Bóng đá tiến vào chiến tranh!" Rắc rối tiếp tục được ghi nhận tại Loftus Road ngày 26 tháng 3 năm 1966 trong trận giữa Queens Park Rangers và Millwall, trong bối cảnh cả hai đội đều đang ở gần đầu bảng xếp hạng và cạnh tranh suất thăng hạng lên Division Two, nhưng trận derby Luân Đôn này kết thúc bằng chiến thắng 6-1 cho đội bóng phía tây Luân Đôn là QPR. Trong hiệp Hai, một đồng xu bị ném từ khán đài và trúng vào đầu cầu thủ Millwall là Len Julians, khiến anh chảy máu. Phát thanh viên sân vận động cảnh báo trận đấu sẽ bị hủy nếu còn thêm bất kì sự hỗn loạn nào từ đám đông, khiến một số cổ động viên Millwall tràn xuống sân trong nỗ lực bất thành nhằm làm trận đấu bị hủy bỏ. Khi chuỗi 59 trận bất bại trên sân nhà của Millwall chấm dứt trước Plymouth Argyle năm 1967, cửa kính chiếc xe buýt của đội khách đã bị đập vỡ. Cũng trong năm đó, một trọng tài bị tấn công và Liên đoàn bóng đá Anh ra lệnh cho câu lạc bộ phải dựng hàng rào quanh các khán đài đứng của The Den. Ngày 11 tháng 3 năm 1978, một vụ bạo loạn nổ ra tại The Den trong trận tứ kết Cúp FA giữa Millwall và Ipswich Town, với đội chủ nhà thua 1-6. Những cuộc ẩu đả bắt đầu trên khán đài rồi lan xuống sân; hàng chục cổ động viên bị thương, trong đó có những hooligan quay sang tấn công chính các cổ động viên vô tội của đội mình, khiến nhiều người bị đánh chảy máu. Bobby Robson, khi đó là nhà quản lí của Ipswich, nói về cổ động viên Millwall sau trận: "Lẽ ra [cảnh sát] nên dùng súng phun lửa với bọn họ". Năm 1982, chủ tịch Millwall là Alan Thorne từng đe dọa đóng cửa câu lạc bộ vì bạo lực bùng phát sau thất bại trước đội ngoài hệ thống chuyên nghiệp Slough Town tại Cúp FA.
Vụ 1985 Kenilworth Road riot, sau trận đấu vòng Sáu Cúp FA giữa Luton Town và Millwall ngày 13 tháng 3 năm 1985, trở thành một trong những sự cố hooligan bóng đá tồi tệ nhất và được đưa tin rộng rãi nhất tính đến thời điểm đó. Đêm hôm ấy, khoảng 20.000 người chen kín một sân vận động vốn thường chỉ chứa được một nửa con số đó để xem Luton đánh bại Millwall 1-0. Nhiều vụ tràn xuống sân, ẩu đả trên khán đài và ném vật thể diễn ra, trong đó có một vật trúng thủ môn Luton's Les Sealey. Sự kiện này khiến Luton cấm cổ động viên đội khách tới sân Kenilworth Road trong bốn năm. Millwall từng đề nghị biến trận đấu tối thứ Tư đó thành trận chỉ bán vé trước, nhưng đề xuất này bị bỏ qua. Kết quả là các nhóm hooligan đối địch vẫn lọt được vào sân. Ngoài hooligan của Millwall và nhóm MIGs của Luton, nhiều người trong số 31 cổ động viên bị bắt sau bạo lực được xác định là thành viên của nhóm Headhunters của Chelsea và Inter City Firm của West Ham United. Liên đoàn bóng đá Anh mở một cuộc điều tra và kết luận rằng họ "không hài lòng khi Millwall F.C. đã thực hiện mọi biện pháp hợp lí theo yêu cầu của Điều lệ FA 31(A)(II)." Khoản phạt 7.500 bảng được áp lên Millwall, dù về sau đã được rút lại sau kháng cáo. Có lẽ hình phạt lớn nhất dành cho Millwall là từ đó tên tuổi của câu lạc bộ đã trở nên "đồng nghĩa với mọi điều tồi tệ trong bóng đá và xã hội".
Vào tháng 5 năm 2002, hàng trăm hooligan gắn với Millwall đã gây hỗn loạn quanh sân sau khi đội bóng thua Birmingham City trong một trận play-off. BBC mô tả đây là một trong những vụ rối loạn dân sự tệ nhất từng thấy tại Anh trong thời gian gần đó. Một nữ phát ngôn viên của cảnh sát cho biết 47 cảnh sát và 24 ngựa cảnh sát bị thương, còn Cảnh sát Đô thành Luân Đôn từng cân nhắc kiện câu lạc bộ sau sự việc. Chủ tịch khi đó là Theo Paphitis đáp lại rằng Millwall không thể bị quy trách nhiệm cho hành vi của một thiểu số vô thức chỉ bám vào câu lạc bộ. Ông nói: "Vấn đề bạo lực đám đông không chỉ là vấn đề của Millwall, nó không chỉ là vấn đề của bóng đá, mà là vấn đề đang ám ảnh toàn bộ xã hội của chúng ta". Về sau Paphitis đưa ra một chương trình thẻ thành viên, theo đó chỉ những người sẵn sàng tham gia và mang thẻ thành viên mới được phép vào The Den. Scotland Yard sau đó rút lại đe dọa kiện tụng, tuyên bố: "Trước những nỗ lực đã được thực hiện và một khoản quyên góp cho tổ chức từ thiện hỗ trợ các cảnh sát bị thương, Sở Cảnh sát Đô thành quyết định không tiếp tục hành động pháp lí נגד Millwall F.C. liên quan đến vụ rối loạn". Một số chuyên gia pháp lí cho rằng sẽ rất khó buộc một câu lạc bộ bóng đá chịu trách nhiệm cho những gì xảy ra bên ngoài sân của họ và liên quan đến những người thậm chí không vào xem trận đấu. Chương trình do Paphitis đưa ra hiện nay chỉ áp dụng cho những trận sân khách được xem là có nguy cơ cao. Nhiều cổ động viên cho rằng chương trình này làm giảm đáng kể lượng người theo đội trên sân khách, chẳng hạn như tại Leeds United, nơi người hâm mộ được phát phiếu rồi phải đổi lấy vé ở một địa điểm do West Yorkshire Police chỉ định vào đúng ngày diễn ra trận đấu. Ngoài ra, giờ đá sớm do cảnh sát sắp xếp cũng thường khiến chỉ vài trăm cổ động viên có thể thực hiện chuyến đi đó.
Vào tháng 1 năm 2009, hàng trăm cổ động viên Millwall bị xem là những cá nhân "nguy cơ cao" đã lọt vào trận vòng Bốn Cúp FA trên sân của Hull City. Trận đấu, với chiến thắng 2-0 cho Hull, bị phủ bóng khi ghế ngồi, đồng xu và chai nhựa bị một bộ phận cổ động viên đội khách ném đi. Truyền thông đưa ra những tường thuật trái ngược về việc liệu các vật thể có ban đầu được cổ động viên Hull ném trước hay không, sau khi cổ động viên Millwall hát và chế giễu Jimmy Bullard (một cựu cầu thủ West Ham) ngay trước trận đấu. Ngày 25 tháng 8 năm 2009, Millwall làm khách trước West Ham United tại Football League Cup và thua 1-3 sau hiệp phụ. Một cổ động viên Millwall bị đâm trong các vụ va chạm giữa hai nhóm người hâm mộ bên ngoài sân. Trận đấu còn chứng kiến hàng trăm cổ động viên West Ham tràn xuống sân trong ba lần riêng biệt, khiến trận đấu phải tạm dừng một lần. Cảnh sát sau đó cho biết bạo lực, do quy mô của nó, đã được tổ chức từ trước. Sau sự hỗn loạn đó, Millwall bị Liên đoàn bóng đá Anh buộc ba tội danh nhưng về sau được xóa trắng toàn bộ; West Ham nhận bốn cáo buộc và bị kết tội ở hai điểm: hành vi bạo lực, đe dọa, tục tĩu và khiêu khích, cùng hành vi xâm nhập mặt sân. West Ham bị phạt 115.000 bảng, mức phạt mà Millwall coi là xúc phạm, trong bối cảnh câu lạc bộ này kiên quyết bảo vệ hành vi của cổ động viên mình và khẳng định họ không thể làm gì nhiều hơn trong một trận diễn ra trên sân của đối thủ kình địch.
Sau một trận gặp Queens Park Rangers tại Loftus Road vào tháng 9 năm 2010, huấn luyện viên Kenny Jackett nói rằng vấn đề hooligan của Millwall phần nào bị phóng đại bởi sự giật gân hóa của truyền thông. Ông nói: "Tôi thấy điều đó là không công bằng. Chúng tôi là một câu lạc bộ dễ bị chỉ trích và trong thời gian tôi ở đây, cách người ta đưa tin về chúng tôi là không công bằng". Những ví dụ khác gồm việc các thước phim lưu trữ về hành vi xấu trong quá khứ của thành phần hooligan của Millwall bị mang ra phát lại mỗi khi có rối loạn xảy ra ở các sân khác, dù không hề liên quan đến họ. Trong một trận giữa Millwall và Huddersfield Town, The Observer đưa tin rằng một cổ động viên Huddersfield Town đã ném đồng xu vào một trọng tài biên, và một số cổ động viên Millwall đã can thiệp rồi giao thủ phạm cho cảnh sát. Thế nhưng News of the World lại chạy tít: "Millwall Thugs Deck Linesman With Concrete". Chính điều này đã tạo ra tâm thế bị cả thế giới vây hãm trong cộng đồng cổ động viên câu lạc bộ, và từ đó dẫn tới câu hát khán đài nổi tiếng của người hâm mộ Millwall, No one likes us, we don't care, như một cách phản kháng để bảo vệ bản thân và đội bóng của mình. Vào tháng 4 năm 2013, Millwall gặp Wigan Athletic ở bán kết Cúp FA. Millwall thua trận 0-2. Về cuối trận, bạo lực nổ ra ở một khu vực khán đài dành cho Millwall, khi một số cá nhân đánh nhau với nhau rồi quay sang chống lại cảnh sát, dẫn tới 14 vụ bắt giữ, trong đó có hai người là cổ động viên Wigan. Tháng 1 năm 2014, một cổ động viên Millwall đã giật rách lá cờ của trọng tài biên sau khi đội nhà không được hưởng phạt góc trong trận gặp Leicester City. Millwall thua 1-3. Ngày 29 tháng 5 năm 2016, Millwall chơi trận chung kết play-off Football League One gặp Barnsley tại Sân vận động Wembley, nhưng về cuối trận, khi Barnsley đang dẫn 3-1, một nhóm cổ động viên Millwall phá qua hàng rào an ninh và tấn công cổ động viên Barnsley, khiến một số người phải rời sân để tránh bạo lực. Cũng có vật thể bị ném về phía cầu thủ Barnsley và cổ động viên Barnsley trong trận đấu. Liên đoàn bóng đá Anh đã lên án tình trạng ẩu đả và bạo lực đó. Ngày 26 tháng 1 năm 2019, Millwall đánh bại Everton 3-2 và loại đối thủ này khỏi Cúp FA. Cổ động viên hai đội đã đụng độ bên ngoài The Den trước trận, với một cổ động viên Everton bị rạch dao vào mặt. Một sĩ quan cấp cao của Cảnh sát Đô thành nói rằng đây là "một trong những vụ bạo lực liên quan đến bóng đá gây sốc nhất từng thấy trong một thời gian dài". Trận đấu cũng bị phủ bóng bởi các cáo buộc liên quan đến những tiếng hô mang tính phân biệt chủng tộc.
Ngày 5 tháng 12 năm 2020, Millwall gặp Derby County trong trận đầu tiên người hâm mộ trở lại The Den sau mười tháng vắng bóng do đại dịch COVID-19. Một số trong 2.000 cổ động viên có mặt đã la ó các cầu thủ quỳ gối và giơ nắm đấm trước trận để ủng hộ chống phân biệt đối xử, như được nêu trong tuyên bố do các cầu thủ Millwall công bố trước trận. Hành động la ó này bị Liên đoàn bóng đá Anh, EFL, Kick It Out và truyền thông dòng chính lên án. Bộ trưởng nội các George Eustice từ chối lên án cổ động viên Millwall, nói rằng phong trào chính trị Black Lives Matter đi ngược lại điều mà đa số người dân Anh tin tưởng, dù ông vẫn cho rằng các cầu thủ nên được tự do bày tỏ quan điểm của mình. Lãnh đạo Brexit Party là Nigel Farage gọi BLM là một đảng Marxist đã bị cổ động viên Millwall "nhìn thấu", đồng thời kêu gọi chấm dứt việc quỳ gối. Trong trận tiếp theo tại The Den gặp QPR ngày 8 tháng 12 năm 2020, cổ động viên Millwall đã vỗ tay khi cầu thủ QPR và Millwall cùng giương cao một biểu ngữ ủng hộ Kick It Out. 2.000 cổ động viên Millwall cũng vỗ tay ngay trước giờ bóng lăn khi cầu thủ QPR quỳ gối còn cầu thủ Millwall đứng thẳng. Trước trận, mỗi cổ động viên đều được câu lạc bộ phát một lá thư có đoạn: "Cả thế giới đang dõi theo câu lạc bộ bóng đá này tối nay – câu lạc bộ của các bạn – và họ muốn chúng ta thất bại. Cùng nhau là một, chúng ta sẽ không để điều đó xảy ra." Một số cổ động viên Millwall cho rằng tiếng la ó trong trận gặp Derby không mang động cơ phân biệt chủng tộc, mà chỉ nhắm riêng vào phong trào Black Lives Matter, vốn ngày càng trở nên kém được ủng hộ trong một bộ phận người hâm mộ.
Những cổ động viên nổi bật
| Tên | Nghề nghiệp |
|---|---|
| Danny Baker | DJ phát thanh và diễn viên hài |
| Michael Barrymore | Diễn viên |
| Geoff Bell | Diễn viên |
| Big Narstie | MC, rapper |
| Ted Cheeseman | Võ sĩ quyền Anh |
| CM Punk | Đô vật WWE |
| Bob Crow | Cựu lãnh đạo công đoàn RMT |
| Daniel Day-Lewis | Diễn viên |
| Madeline Duggan | Nữ diễn viên |
| Andy Fordham | Cựu vô địch darts thế giới |
| Lars Frederiksen | Ca sĩ của ban nhạc Rancid |
| Johnny Garton | Võ sĩ quyền Anh |
| Steve Harley | Ca sĩ của Cockney Rebel |
| Frank Harper | Diễn viên |
| Blake Harrison | Diễn viên |
| Tamer Hassan | Diễn viên |
| David Haye | Cựu vô địch quyền Anh thế giới |
| Rod Liddle | Nhà báo |
| Lord Ouseley | Người sáng lập Kick It Out |
| Nick Love | Đạo diễn phim |
| Kellie Maloney | Cựu nhà quảng bá quyền Anh, sinh ra với tên Frank Maloney |
| Roland Manookian | Diễn viên |
| Louie McCarthy-Scarsbrook | Cầu thủ rugby |
| Laila Morse | Nữ diễn viên |
| Patrick Murray | Diễn viên, Mickey Pearce trong Only Fools and Horses |
| Des O'Connor | Nghệ sĩ giải trí |
| Gary Oldman | Diễn viên |
| Theo Paphitis | Doanh nhân, Dragons' Den |
| Scroobius Pip | Nhạc sĩ |
| Timo Soini | Chính trị gia |
| Gregg Wallace | Người dẫn chương trình MasterChef |
| Denzel Washington | Diễn viên |
| Ian Wright | Cựu cầu thủ bóng đá |
| Zerkaa | YouTuber |
Trong cộng đồng
Năm 1985, câu lạc bộ thành lập Millwall Community Trust (MCT), tổ chức cung cấp các dự án thể thao, giáo dục và từ thiện. Quỹ này đặt trụ sở ngay cạnh The Den, trong Lions Centre. Làm việc với người dân địa phương ở các khu tự quản xung quanh như Lewisham, Southwark và cộng đồng Millwall rộng hơn, quỹ này triển khai các chương trình thể thao và thể hình, hội thảo giáo dục, hoạt động cho người khuyết tật và các trường bóng đá. Câu lạc bộ cũng hỗ trợ tuyên truyền chống tội phạm dao kéo và súng đạn. Trong một trận gặp Charlton Athletic năm 2009, hai đội cùng mặc những bộ trang phục đặc biệt để tưởng niệm hai thiếu niên địa phương kiêm cổ động viên là Jimmy Mizen và Rob Knox đã bị sát hại. Logo nhà tài trợ trên áo của cả hai câu lạc bộ được thay bằng dòng chữ "Street violence ruins lives". Câu lạc bộ cũng đã giúp quyên góp hơn 10.000 bảng cho tổ chức từ thiện Help for Heroes.
Trong văn hóa đại chúng
Millwall nhiều lần được tái hiện trong phim ảnh, đặc biệt nhấn mạnh đến nhóm hooligan Bushwackers của câu lạc bộ và mối kình địch với West Ham United. Ban đầu thường có xu hướng tô hồng bạo lực bóng đá, nhưng mỗi bộ phim thường kết thúc bằng cái chết của ai đó, cho thấy tính vô nghĩa của hooligan.
- The Firm (1989) – Cổ động viên Millwall ngoài đời thực Gary Oldman vào vai Bex, thủ lĩnh của nhóm hooligan Inter City Crew, một hình tượng hư cấu đại diện cho Inter City Firm của West Ham và các hoạt động bạo lực của họ. Nhóm Bushwackers của Millwall trong phim được gọi là The Buccaneers.
- Arrivederci Millwall (1990) – Một nhóm cổ động viên Millwall tới Giải vô địch bóng đá thế giới 1982 ở Tây Ban Nha, ngay sau khi Chiến tranh Falklands nổ ra, với ý định trả thù cho một mất mát cá nhân.
- Black Books (2000) – Trong tập đầu tiên "Cooking the Books", Bernard Black (Dylan Moran) cố tình chọc giận một số hooligan Millwall để bị họ đánh bị thương đủ nặng nhằm tránh phải đóng thuế. Sau khi nói: "Bài hát đó thế nào nhỉ? Millwall, Millwall, chúng tôi thật khủng khiếp và tất cả bạn gái của chúng tôi đều không được thỏa mãn và bị tha hóa," anh đã thành công.
- The Football Factory (2004) – Chủ yếu xoay quanh Chelsea Headhunters, nhóm thường đánh nhau với nhiều nhóm hooligan khác trong các chuyến làm khách, và lên đến đỉnh điểm bằng một cuộc đại chiến với Bushwackers của Millwall.
- Green Street (2005) – Elijah Wood vào vai một sinh viên người Mỹ bị cuốn vào nhóm hooligan của West Ham. Bộ phim tiến dần tới một cuộc đụng độ lớn với nhóm của Millwall ở đoạn cao trào, sau khi hai đội bị bốc thăm gặp nhau ở cúp, gợi trước những điểm tương đồng với 2009 Upton Park riot.
- Rise of the Footsoldier (2007) – Quá trình trỗi dậy của một hooligan bóng đá được kể lại từ những ngày đầu trên khán đài cho tới khi trở thành thành viên của một băng nhóm tội phạm khét tiếng. Mối kình địch giữa West Ham và Millwall được khắc họa trong những cảnh mở đầu của phim.
- Dhan Dhana Dhan Goal (2007) – Nhân vật chính Sunny Bhasin (John Abraham) ban đầu đồng ý rời Southhall United Football Club và kí một lời đề nghị hấp dẫn để chơi cho Millwall F.C. Tuy nhiên, về sau anh quyết định không thi đấu cho Millwall.
- Green Street 2: Stand Your Ground (2009) – Phần tiếp theo phát hành trực tiếp dưới dạng video của Green Street. Bộ phim nối tiếp ngay sau đoạn cao trào của phần trước, với việc một số thành viên nhóm hooligan của West Ham và Millwall cùng bị đưa vào tù và sắp xếp một trận bóng đá với nhau.
- The Firm (2009) – Bản làm lại của Nick Love, đạo diễn của The Football Factory và cũng là một cổ động viên Millwall. Lấy bối cảnh thập niên 1980, bộ phim tập trung vào âm nhạc, thời trang và văn hóa xoay quanh bóng đá lúc bấy giờ. Phim nhìn chung được giới phê bình đón nhận tích cực. Tháng 10 năm 2009, Metropolitan Police đã phát hành những hình ảnh tĩnh từ bộ phim trong quá trình truy tìm các hooligan liên quan tới vụ bạo loạn ở Upton Park. Sai sót này sau đó dẫn tới lời xin lỗi từ Scotland Yard.
- St George's Day (2012) – Một bộ phim xã hội đen của Anh có sự góp mặt cameo của các cầu thủ Millwall là Liam Trotter, Alan Dunne, David Forde, Darren Ward và Scott Barron. Bộ phim cũng đưa vào nhiều chi tiết gợi nhắc Millwall như 'No One Likes Us' và 'We Fear No Foe'.
Sân nhà The Den của câu lạc bộ từng được dùng làm The Dragons Lair, sân nhà của đội bóng hư cấu Harchester United trong loạt phim truyền hình Dream Team. Sân cũng xuất hiện trong các tập của hai chương trình The Bill và Primeval. Trong văn học, các cuốn sách như "No One Likes Us, We Don't Care: True Stories from Millwall, Britain's Most Notorious Football Hooligans" của Andrew Woods tập trung vào thành phần hooligan của Millwall. Nhà bình luận của Sunday Mirror là Michael Calvin đã theo sát Millwall trong suốt mùa giải 2009-10 để viết cuốn Family: Life, Death and Football. Cuốn sách nhìn vào mối kình địch với West Ham United, vụ một cổ động viên Millwall bị đâm, cùng thành công ở play-off và suất thăng hạng lên Championship của The Lions dưới thời Kenny Jackett.
Xem thêm
Tham khảo
Thư mục tài liệu
- Calvin, Michael (2010). Family: Life, Death and Football. Integr8 Books. ISBN 978-0-9566981-0-0.
- Dunning, Eric (1988). The Roots of Football Hooliganism: An Historical and Sociological Study. Routledge. ISBN 0-415-03677-1.
- Lindsay, Richard (1991). Millwall: A Complete Record, 1885-1991. Breedon Books Publishing Co Ltd. ISBN 0-907969-94-1.
- Lindsay, Richard; Tarrant, Eddie (2010). Millwall: The Complete Record. DB Publishing. ISBN 978-1-85983-833-4.
Đọc thêm
- Chris Bethell; Millwall FC Museum; David Sullivan (1999). Millwall Football Club 1885-1939. Tempus. ISBN 0-7524-1849-1.
- Murray, Jim (1988). Lions of the South. Leatherbound Island. ISBN 1-871220-00-9.
- Robson, Garry (2000). No One Likes Us, We Don't Care: The Myth and Reality of Millwall Fandom. Berg Publishers. ISBN 1-85973-372-7.
- Spaaij, Ramón (2006). Understanding Football Hooliganism: A Comparison of Six Western European Football Clubs. Vossiuspers UvA. ISBN 978-90-5629-445-8.
Liên kết ngoài
Tin tức
- Bản mẫu:BBC Football Info
- Tin tức Millwall từ Sky Sports
- News at Den Lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2018 tại Wayback Machine từ Southwark News
