Quay lại

Lukas Ullrich

Số áo #26

Defender

Quốc tịch Flag Germany
Tuổi 22
Chiều cao 5' 11"
Cân nặng 150 lbs

Câu lạc bộ hiện tại

Logo

Borussia Mönchengladbach

Clubhouse

Thông tin chi tiết (Wikipedia)

Borussia Mönchengladbach
Tên đầy đủBorussia Verein für Leibesübungen 1900 e.V. Mönchengladbach
Biệt danhDie Fohlen (Những chú lừa)
Die Borussen (Người Phổ)
Thành lập1 tháng 8 năm 1900; 126 năm trước (1900-08-01)
(với tên gọi FK Borussia 1900)
Sân vận độngBorussia-Park
Sức chứa54.057
Chủ tịchRolf Königs
Huấn luyện viên trưởngEugen Polanski (tạm quyền)
Giải đấuBundesliga
2024–25Bundesliga, thứ 10 trên 18
Websiteborussia.de
Mùa giải hiện nay

Borussia Verein für Leibesübungen 1900 e.V. Mönchengladbach, hay còn được gọi là Borussia Mönchengladbach (tiếng Đức: [boˈʁʊsi̯a mœnçn̩ˈɡlatbax] ) và thường được gọi là Gladbach, là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở ở Mönchengladbach, Nordrhein-Westfalen, Đức. Câu lạc bộ thi đấu ở Giải bóng đá vô địch quốc gia Đức, hạng đấu hàng đầu của bóng đá Đức. Với biệt danh Die Fohlen [diː ˈfoːlən] (Những chú lừa), câu lạc bộ đã giành 5 chức vô địch quốc gia, 3 DFB-Pokal và 2 danh hiệu Cúp UEFA.

Thời kì hoàng kim của đội bóng là thập niên 70 với nhiều ngôi sao như Quả bóng vàng châu Âu năm 1977 Allan Simonsen cùng các thành viên tuyển Tây Đức gồm Günter Netzer, Berti Vogt, Jupp Heynckes, Herbert Wimmer, Uli Stielike, Rainer BonhofWolfgang Kleff. Đội bóng đã dành được 8 danh hiệu trong giai đoạn này và cũng lọt vào trận chung kết Cúp C1 châu Âu 1976–77.

Giai đoạn những năm 1970 cũng là thời kỳ Bundesliga diễn ra cuộc cạnh tranh khốc liệt nhất giữa 2 ông lớn của bóng đá Đức lúc bấy giờ là Borussia Mönchengladbach và Bayern Munich. Hai đội đã có cú ăn ba liên tiếp tại các giải quốc nội với nhiều ngôi sao trong đội hình.

Linh vật của đội bóng là Jünter.

"Borussia" là cách đọc theo tiếng La-Tin của Phổ, một cái tên gắn liền với nhiều đội bóng Đức đóng ở Prussia trước kia.

Màu truyền thống của đội bóng là trắng-đen-xanh lá.

Vào tháng 10 năm 2016, Gladbach cũng đã từng sử dụng biệt danh A German Team sau khi một quán rượu Scotland không đánh vần tên đầy đủ của câu lạc bộ trên một bảng quảng cáo tại một trận đấu của UEFA Champions League với Celtic F.C. tại Glasgow.

Kể từ năm 2004, Borussia Mönchengladbach thi đấu tại sân Borussia-Park thay thế cho sân Bökelbergstadion được sử dụng từ năm 1919. Tính theo số lượng thành viên, họ là câu lạc bộ lớn thứ năm ở Đức với hơn 75.000 thành viên vào năm 2016 và 93.000 thành viên tính đến năm 2021. Đối thủ kình địch chính của đội bóng là 1. FC Köln trong trận đấu được gọi là Rheinland Derby (Derby sông Rhein).

Lịch sử

Thời kì đầu

Borussia Mönchengladbach thời kì mới thành lập lấy tên là FC Borussia trong những năm 1900 tại quận Eicken, Mönchengladbach.

Tháng 3 năm 1914, câu lạc bộ bán sân De Kull, và xây dựng sân vân động mới là Bökelbergstadion (Boekelberg). Trong thời kỳ Chiến tranh thế giới Lần 1, đội bóng vẫn sử dụng song song 2 sân nhưng đến năm 1917 thì chuyển hẳn sang sân Boekelberg. Năm 1919, FC Borussia hợp nhất với 1 Câu lạc bộ bóng đá địa phương khác, Turnverein Germania 1889, trở thành 1899 VfTuR M.Gladbach. Câu lạc bộ dành danh hiệu đầu tiên vào năm 1920, sau khi đánh bại Kölner BC 3–1 tại trận chung kết để đăng quang giải đấu Westdeutsche Meisterschaft.

Tuy nhiên liên minh này lại tan rã chỉ sau 2 năm; cậu lạc bộ sau đó đổi tên thành Borussia VfL 1900 e.V. M.Gladbach.

1933–1945: Dưới thời Đức Quốc Xã

Trong thời kì Đảng Quốc Xã đang lớn mạnh và cực thịnh vào năm 1933, hệ thống các giải đấu bóng đá tại Mönchengladbach được hoàn thiện bắt đầu với 16 đội bóng – Gladbach là 1 trong những đội bóng đầu tiên của Gauliga Niederrhein, và sau đó là Bezirksklassen (các giải đấu cấp bang). Dưới thời Đức Quốc Xã, Mönchengladbach đã có 1 cầu thủ đầu tiên được lên tuyển; Heinz Ditgens chơi trong trận thắng 9–0 của Đức trước Luxembourg tại Thế vận hội Mùa Hè 1936 Olympic Games. Trong thời gian thế chiến thế giới thứ II nổ ra,các giải đấu tạm ngưng trệ, cho đến khi trở lại bình thường vào mùa giải 1944–45.

Thời kì hậu chiến trước năm 1959

Lịch sử biểu đồ phát triển của Borussia Mönchengladbach

Cuối cùng, Mönchengladbach trở lại vào 6/1946, và thăng hạng lên Landesliga Niederrhein (hạng Nhất quốc gia khu vực bang North Rhine-Westphalia) vào năm 1949 và Oberliga West (Giải đấu cấp cao nhất của bang North Rhine-Westphalia từ năm 1947, sau này sáp nhập với các giải vô địch bang khác ở Tây Đức thành lập ra Bundesliga năm 1963), năm 1950. Sau nhiều năm lên rồi xuống hạng, Borussia có danh hiệu Oberliga đầu tiên vào mùa giải 1958–59.

Bundesliga

HLV Hennes Weisweiler
Seasons 1959–60 – 1964–65
Season Position Goals For Goals Against Points Average Attendance
Oberliga West 1959–60 14 27 33 38 16,134
Oberliga West 1960–61 6 31 29 58 22,400
Oberliga West 1961–62 13 21 39 42 13,543
Oberliga West 1962–63]] 11 24 36 44 11,200
Regionalliga West 1963–64 8 41 35 71 12,000
Regionalliga West 1964–65 1 52 16 92 22,334
gold: promotion to the Bundesliga as Champions

8/1960, Borussia Mönchengladbach đánh bại kình địch 1. FC Köln tại West German Cup. Vài tuần sau, câu lạc bộ tiếp tục vô địch DFB-Pokal, với chiến thắng trước Karlsruher SC 3–2 trong trận chung kết. Những năm tiếp theo, câu lạc bộ đổi tên thành Borussia VfL Mönchengladbach sau khi thành phố München-Gladbach đổi tên thành Mönchengladbach. Tuy nhiên, phải chờ đến 1 thập kỉ tiếp theo đội bóng mới có danh hiệu. Borussia là mội trong những đội bóng sáng lập ra Bundesliga khi giải đấu này thành lập vào năm 1963 tuy nhiên đội bóng khi đó chưa có đủ tiềm lực để trụ lại giải đấu, và sau đó họ tiếp tục phải xuống chơi ở giải hạng Nhất Tây Đức, the Regionalliga West.

Mönchengladbach trở lại Bundesliga vào mùa giải 1965–66, dưới thời Huấn luyện viên Hennes Weisweiler, Borussia dần lớn mạnh và trở thành đối trọng số 1 của Bayern Munich tại giải đấu. Hai đội bóng tham gia vào một cuộc cạnh tranh khốc liệt khi họ thay phiên nhau thống trị Bundesliga trong suốt những năm 1970s. Bayern giai đoạn này cũng đang trong thời kì hoàng kim của mình với HLV Udo Lattek và dàn sao như Franz Beckenbauer, Gerd Müller, Sepp Maier, Uli Hoeneß, Paul Breitner, Hans-Georg SchwarzenbeckFranz Roth. Bayern là kẻ nổ phát súng đầu tiên với chức vô địch Bundesliga mùa giải 1969. Mönchengladbach sau đó cũng vô địch 2 mùa liên tiếp là 1969/19701970/1971 sau đó, trở thành đội bóng Bundesliga đầu tiên bảo vệ thành công chức vô địch.

Thập niên 1970s: Thời kì hoàng kim

Hennes Weisweiler và đội hình thế kỷ của Borussia
Đội hình thế kỉ của Borussia

Đội hình thế kỷ của Gladbach do ban tổ chức Bundesliga bầu chọn Lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2018 tại Wayback Machine

Rainer Bonhof (trái) cùng tuyển Tây Đức tại 1974 FIFA World Cup

.

Günter Netzer

.

Jupp Heynckes

.

Mùa giải Đội vô địch Bundesliga
63–64 1. FC Köln
64–65 Werder Bremen
65–66 1860 Munich
66–67 Eintracht Braunschweig
67–68 1. FC Nürnberg
68–69 Bayern Munich
69–70 Borussia Mönchengladbach
70–71 Borussia Mönchengladbach
71–72 Bayern Munich
72–73 Bayern Munich
73–74 Bayern Munich
74–75 Borussia Mönchengladbach
75–76 Borussia Mönchengladbach
76–77 Borussia Mönchengladbach
77–78 1. FC Köln
78–79 Hamburger SV
79–80 Bayern Munich
Mùa giải 1969–70 – 1979–80
Season Position Goals For Goals Against Points Average Attendance
1969–70 First 71 29 51 25,645
1970–71 First 77 35 50 21,706
1971–72 Third 82 40 43 16,294
1972–73 Fifth 82 61 39 14,912
1973–74 Second 93 52 48 22,265
1974–75 First 86 40 50 22,150
1975–76 First 66 37 45 23,647
1976–77 First 58 34 44 25,135
1977–78 Second 86 44 48 26,059
1978–79 Tenth 50 53 32 20,129
1979–80 Seventh 61 60 36 17,655
màu xanh: vô địch Bundesliga

Bayern Munich trở thành CLB Đức đầu tiên vô địch 3 mùa giải liên tiếp, trong khi Borussia về nhì với chỉ ít hơn 1 điểm so với Bayern mùa giải 1974. Die Fohlen cũng một lần nữa dành chiến thắng 2–1 trước kình địch 1. FC Köln vào mùa giải 1973 để lần thứ 2 đăng quang DFB-Pokal. Dưới sự chỉ đạo của Hennes Weisweiler, đội hình trẻ trung của Gladbach trở nên nổi tiếng trên toàn nước Đức bởi lối chơi tấn công huỷ diệt và cạnh tranh sòng phẳng với Bayern Munich. Gladbach là đội bóng Đức đầu tiên dành 3 chức vô địch quốc gia liên tiếp từ mùa giải 1975 tới 1977. Thậm chí, Mönchengladbach lọt vào tới trận chung kết Cúp C1 Châu Âu vào năm 1977 và thua Liverpool, cùng lúc đó đội bóng cũng đã dành 2 danh hiệu UEFA Cup vào mùa giải 19751979 và về nhì tại UEFA Cup 19731980. Gladbach có tổng cộng 8 danh hiệu trong thập niên 70's, là thời gian thành công nhất của CLB.

1980 về sau

Borussia Mönchengladbach against Borussia Dortmund in April 2012

Mönchengladbach's kết thúc kỉ nguyên vàng vào những năm 1980s khi CLB bán đi những ngôi sao do tình hình tài chính khó khăn, những huấn luyện viên tài năng Hennes Weisweiler và Udo Lattek đều đã ra đi, cùng với sự trỗi dậy mạnh mẽ của Hamburger SV, đã không còn là đối trọng lớn nhất của Bayern Munich. Đội bóng thường xuyên kết thúc mùa giải ở vị trí nửa trên BXH, và mùa giải 1984 cũng khỏi sắc hơn, Die Fohlen kết thúc mùa giải trong top 4. Nhiều hơn 1 điểm so với Bayern, khi đó xếp thứ 4, cùng điểm với đội á quân Hamburger SV và đội vô địch VfB Stuttgart, chỉ khác hiệu số bàn thắng. Cũng trong mùa giải đó, Mönchengladbach đã thua trong trận chung kết DFB-Pokal trước Bayern Munich trong loạt đá penalty, Lothar MatthäusNorbert Ringels là những người thực hiện không thành công panlty sau khi 2 đội kết thúc 90' với tỉ số 1–1. Matthäus sau đó đã gia nhập Bayern Munich với giá chuyển nhượng 2.25 triệu DM, và các fan của Gladbach khi đó đã coi ông là Judas và cũng cho rằng vì nguyên nhân này mà đá hỏng penalty.

Trong những năm thập niên 1990, Gladbach thường xuyên ngụp lặn ở nửa dưới bảng xếp hạng. Cuối cùng, mùa giải 1999, Gladbach lần đầu xuống chơi tại 2. Bundesliga, mất 2 mùa giải để trở lại Bundesliga vào năm 2001. Điểm sáng hiếm hoi của giai đoạn này là chức vô địch DFB-Pokal mùa bóng 1994-95 khi họ vượt qua VfL Wolfsburg ở trận chung kết, và là danh hiệu đầu tiên sau 16 năm chờ đợi. Giai đoạn này Monchengladbach tồn tại nhờ phong độ chói sáng của siêu tiền vệ Stefan Effenberg, sau khi ông chuyển sang chơi cho Bayern Munich, đội bóng đã nhanh chóng mất phong độ sau đó.

Đến mùa giải 2006–07, Borussia Mönchengladbach một lần nữa xuống hạng sau khi thất bại trong cuộc cạnh tranh giành vé vớt với đối thủ trực tiếp là Arminia Bielefeld. Nhưng rồi đội bóng đã hồi sinh để trở lại Bundesliga ngay trong mùa giải sau đó.

HLV Lucien Favre

Năm 2011, Lucien Favre, đã đến tiếp quản Borussia Mönchengladbach và đội bóng thường xuyên kết thúc mùa giải ở top 6 Bundesliga. Khi Favre đến, đội bóng đang phải vật lộn với cuộc chiến trụ hạng. Sang mùa giải tiếp theo, 2011–12, Gladbach đã lọt vào top 4 Bundesliga. Đội bóng đã dừng chân tại vòng sơ loại 2012–13 UEFA Champions League sau khi thua Dynamo Kyiv cả hai lượt trận.

2 Mùa giải 2013–14 Bundesliga2014–15 Bundesliga, Gladbach kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 3, và vào thằng vòng bảng UEFA Champions League. Tại mùa giải 2014/15 Gladbach cùng bảng với Juventus, Manchester CitySevilla, có 5 điểm, sau khi hòa Juventus cả hai lượt trận và thắng Sevilla 4–2 trên sân nhà, đội bóng phải xuống chơi tại UEFA Europe Leagues và kết thúc hành trình ở vòng 1/8.

Mùa giải 2016–17, Borussia tham dự Champions League 2016-17, giành được 2 chiến thắng trước Celtic và xuống chơi tại Europa League. Hành trình ở châu lục của Monchengladbach bị chặn lại bởi một đội bóng Đức khác là Schalke 04. Trong những năm gần đây, câu lạc bộ đã ổn định ở nửa trên của bảng xếp hạng Bundesliga và thường xuyên tham dự các cúp châu Âu. Tuy nhiên phong độ của đội có dấu hiệu đi xuống ở 2 mùa bóng gần đây nhất, khi họ đều cán đích ở nửa dưới BXH. Mùa giải 2023-24, họ kết thúc ở vị trí thứ 13 còn mùa 2024-25 họ xếp ở vị trí thứ 10.

UEFA club rankings

Tính đến 10 Apr 2018
Rank Team
46 Scotland Celtic 31.000
47 Bồ Đào Nha Sporting Braga 30.500
48 Hy Lạp PAOK Thessaloniki 29.500
Bỉ Club Brugge
Thổ Nhĩ Kỳ Galatasaray
51 Đức Borussia Mönchengladbach 29.000
52 Ý Milan 28.000
53 România Steaua București 27.500
54 Síp APOEL Nicosia 27.000
Bỉ AA Gent
Bỉ Racing Genk

Các huấn luyện viên trong lịch sử

HLV hiện tại Gerardo Soane
Borussia Mönchengladbach coaching history from 1946 to present

Cầu thủ

Đội hình hiện tại

Tính đến ngày 1 tháng 9 năm 2025

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Thụy Sĩ Jonas Omlin
2 HV Ý Fabio Chiarodia
4 HV Indonesia Kevin Diks
5 HV Đức Marvin Friedrich
6 TV Đức Yannik Engelhardt (cho mượn từ Como)
7 TV Áo Kevin Stöger
9 Pháp Franck Honorat
10 TV Đức Florian Neuhaus
11 Đức Tim Kleindienst (đội trưởng)
13 TV Hoa Kỳ Giovanni Reyna
15 Bosna và Hercegovina Haris Tabaković (cho mượn từ TSG Hoffenheim)
16 TV Đức Philipp Sander
17 TV Hàn Quốc Jens Castrop
18 Nhật Bản Machino Shūto
Số VT Quốc gia Cầu thủ
19 Cameroon Nathan Ngoumou
20 HV Đức Luca Netz
22 TV Đan Mạch Oscar Fraulo
25 Đức Robin Hack
26 HV Đức Lukas Ullrich
27 TV Đức Rocco Reitz
28 Armenia Grant-Leon Ranos
29 HV Hoa Kỳ Joe Scally
30 HV Thụy Sĩ Nico Elvedi
33 TM Đức Moritz Nicolas
34 Đức Charles Herrmann
39 TV Đức Niklas Swider
42 TM Luxembourg Tiago Pereira Cardoso
43 HV Đức Tyler Meiser

Số áo được treo

Cho mượn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
TM Đức Jan Olschowsky (tại Alemannia Aachen đến 30 tháng 6 năm 2026)
Séc Tomáš Čvančara (tại Antalyaspor đến 30 tháng 6 năm 2026)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
Croatia Noah Pesch (tại 1. FC Magdeburg đến 30 tháng 6 năm 2026)
Nhật Bản Fukuda Shiō (tại Karlsruher SC đến 30 tháng 6 năm 2026)

Đội ngũ huấn luyện

Role Nation Name
Sporting director  Germany Roland Virkus
Manager  Switzerland Gerardo Seoane
Assistant Manager  Switzerland Patrick Schnarwiler
First-Team coach  Germany Christopher John
First-Team coach  Germany Oliver Neuville
Goalkeeping coach  Germany Uwe Kamps
Goalkeeping coach  Germany Fabian Otte
Trainer transition area  Poland Eugen Polanski
Athletic trainer  Germany Alexander Mouhcine
Athletic trainer  Germany Jonas Rath
Athletic trainer  Germany Markus Müller
Team doctor  Germany Dr. Heribert Ditzel
Team doctor and orthopedic surgeon  Germany Dr. Stefan Hertl
Team doctor and orthopedic surgeon  Germany Ralf Doyscher
Physiotherapist  Germany Holger Wagner
Physiotherapist  Germany Hendrik Schreiber
Physiotherapist  Germany Dirk Müller
Physiotherapist  Poland Adam Szordykowski

Thống kê cá nhân

Tính riêng Bundesliga

Top ra sân

# Name Matches
Đức Berti Vogts 419
Đức Uwe Kamps 390
Đức Herbert Wimmer 366
Đức Christian Hochstätter 339
Đức Hans-Günter Bruns 331
Đức Wolfgang Kleff 321
Đức Hans-Jörg Criens 290
Đức Jupp Heynckes 283
Đức Michael Klinkert 274
10° Đức Martin Schneider 266

Top ghi bàn

# Name Goals
Đức Jupp Heynckes 195
Đức Herbert Laumen 97
Đức Hans-Jörg Criens 92
Đức Günter Netzer 82
Đức Uwe Rahn 81
Đan Mạch Allan Simonsen 76
Đức Frank Mill 71
Đức Hans-Günter Bruns 61
Thụy Điển Martin Dahlin 60
10° Đức Wilfried Hannes 58

Danh hiệu

5 chức vô địch Bundesliga từ năm 1963 tới nay của Borussia Mönchengladbach giúp đội bóng có 2 ngôi sao vàng.

Quốc nội

Bundesliga:

Cúp quốc gia Đức:

Siêu cúp Đức:

  • Vô địch (1): 1977 (Không chính thức)

2. Bundesliga:

Châu âu

  • Á quân (1): 1976-77

Quốc tế

Intercontinental Cup:

  • Về nhì (1): 1977

Các danh hiệu khác

Kirin Cup:

Joan Gamper Trophy:

  • Vô địch (1): 1972

Orange Trophy:

  • Vô địch (1): 1977

Trẻ

Giải bóng đá U-17 Đức:

  • Vô địch (1): 1981

Giải bóng đá vô địch U-17 Đức phía Tây

  • Vô địch (1): 2009

Danh hiệu cá nhân

Các cầu thủ của câu lạc bộ đã từng đoạt các danh hiệu sau:

Cầu thủ của năm - châu Âu

Cầu thủ của năm - Đức

Cầu thủ của năm - Úc

Cầu thủ của năm - Úc

Cầu thủ của năm - Bỉ

Cầu thủ của năm - Đan Mạch

Cầu thủ của năm - Thụy Điển

Cầu thủ của năm - Mĩ

Vua phá lưới Bundesliga

Bàn thắng đẹp nhất mùa giải

Tham khảo

Xem thêm

Thống kê chỉ số

Số trận 0 (0)
Bàn thắng 0
Kiến tạo 0
Cú sút 0
Thẻ vàng 0
Thẻ đỏ 0