Marcelo Vaz
Defender
N/A
Câu lạc bộ hiện tại
Genoa
Clubhouse
Thông tin chi tiết (Wikipedia)
|
Díaz với Audax Italiano năm 2023 | |||||||||||||||||
| Thông tin cá nhân | |||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Marcelo Alfonso Díaz Rojas | ||||||||||||||||
| Ngày sinh | 30 tháng 12, 1986 | ||||||||||||||||
| Nơi sinh | Santiago, Chile | ||||||||||||||||
| Chiều cao | 1,65 m | ||||||||||||||||
| Vị trí | Tiền vệ trung tâm | ||||||||||||||||
| Thông tin đội | |||||||||||||||||
Đội hiện nay | Universidad de Chile | ||||||||||||||||
| Số áo | 21 | ||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||||||||||||||||
| Năm | Đội | ||||||||||||||||
| 2002–2005 | Universidad de Chile | ||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||
| 2005–2012 | Universidad de Chile | 164 | (4) | ||||||||||||||
| 2010 | → Deportes La Serena (mượn) | 13 | (5) | ||||||||||||||
| 2012–2015 | Basel | 58 | (7) | ||||||||||||||
| 2015 | Hamburger SV | 19 | (1) | ||||||||||||||
| 2016–2017 | Celta Vigo | 40 | (1) | ||||||||||||||
| 2017–2018 | Pumas UNAM | 31 | (5) | ||||||||||||||
| 2018–2021 | Racing Club | 36 | (1) | ||||||||||||||
| 2021–2022 | Libertad | 21 | (0) | ||||||||||||||
| 2023 | Audax Italiano | 21 | (0) | ||||||||||||||
| 2024– | Universidad de Chile | 43 | (0) | ||||||||||||||
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia‡ | |||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||
| 2005 | U-20 Chile | 7 | (0) | ||||||||||||||
| 2011–2025 | Chile | 62 | (1) | ||||||||||||||
Thành tích huy chương
| |||||||||||||||||
|
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 12 tháng 7 năm 2025 ‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 8 tháng 2 năm 2025 | |||||||||||||||||
Marcelo Alfonso Díaz Rojas (phát âm tiếng Tây Ban Nha: [maɾˈselo ˈði.as]; sinh ngày 30 tháng 12 năm 1986) là một cầu thủ bóng đá người Chile thi đấu ở vị trí tiền vệ trung tâm cho câu lạc bộ Universidad de Chile tại Liga de Primera.
Díaz trưởng thành từ học viện trẻ của Universidad de Chile và được đôn lên đội một vào năm 2004, khi ông 18 tuổi. Với hơn 150 lần ra sân, Díaz là một phần quan trọng của đội hình giành năm danh hiệu cùng câu lạc bộ, bao gồm ba chức vô địch quốc gia liên tiếp và Copa Sudamericana, danh hiệu quốc tế đầu tiên của câu lạc bộ. Năm 2012, ông chuyển đến đội bóng Thụy Sĩ Basel, nơi ông giành hai chức vô địch quốc gia liên tiếp, trước khi gia nhập Hamburger SV vào năm 2015.
Díaz có hơn 60 lần khoác áo Chile kể từ khi ra mắt đội tuyển quốc gia vào năm 2011, và đại diện cho quốc gia tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2014 cũng như Cúp bóng đá Nam Mỹ, giành chức vô địch giải đấu này và được chọn vào đội hình tiêu biểu của giải.
Díaz có biệt danh "Xavi Nam Mỹ", do ông và Xavi đều có khả năng kiểm soát bóng tốt và kỹ năng chuyền bóng xuất sắc. Tháng 6 năm 2015, ông ghi bàn từ quả đá phạt ở phút 91, giúp Hamburger SV tránh lần đầu tiên xuống hạng khỏi Bundesliga và được xem là một trong những bàn thắng quan trọng nhất trong lịch sử 128 năm của câu lạc bộ.
Sự nghiệp câu lạc bộ
Universidad de Chile
Những năm đầu
Díaz bắt đầu sự nghiệp tại học viện trẻ của Universidad de Chile, nơi ông được Jorge Cabrera, khi đó là huấn luyện viên các đội trẻ của câu lạc bộ, nhanh chóng chấp nhận. Trước khi đến Universidad de Chile, ông thi đấu cho Club Julio Covarrubias ở Padre Hurtado, và Díaz cho biết ông cảm thấy khá may mắn khi được nhận vào câu lạc bộ, vì lúc đó ông là một cầu thủ ít được biết đến. Ông phát triển qua tất cả các cấp độ trẻ, chủ yếu thi đấu ở vai trò tiền vệ kiến thiết. Ông được đôn lên đội một vào năm 2004 ở tuổi 18, nhưng chỉ được triệu tập trong ba trận và không ra sân trận nào. Mùa giải tiếp theo, Díaz ra mắt chuyên nghiệp trong thất bại 2–3 trước Everton ở vòng đầu tiên của Torneo Apertura 2005. Trong mùa giải 2006, ông thi đấu 29 trận tại Apertura và Clausura.
Sau một mùa giải, tại Torneo Apertura 2008, Díaz thường xuyên đá chính trong đội hình của Arturo Salah và ghi bàn thắng chuyên nghiệp đầu tiên cho câu lạc bộ vào ngày 23 tháng 3, trong thất bại 2–3 trước Huachipato. Đây là bàn thắng đầu tiên của ông cho Universidad de Chile. Trong năm đó, ông thi đấu 36 trận tại các giải Apertura và Clausura. Sau khi Arturo Salah rời đi và huấn luyện viên người Uruguay Sergio Markarián đến, Díaz được sử dụng ở vị trí hậu vệ trái, khác với Salah, người từng dùng ông như một tiền vệ tấn công. Ngày 28 tháng 1, ông ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên trong chiến thắng 1–0 trên sân nhà trước Pachuca. Trong nửa đầu mùa giải, ông giành danh hiệu chuyên nghiệp đầu tiên, Torneo Apertura, sau khi câu lạc bộ đánh bại Unión Española 1–0 ở chung kết play-off. Mùa giải tiếp theo, dưới thời huấn luyện viên Gerardo Pelusso, Díaz được sử dụng ở vị trí hậu vệ phải và chỉ thi đấu năm trận tại giải vô địch.
Ngày 13 tháng 8 năm 2010, cầu thủ này xác nhận việc gia nhập Deportes La Serena. Tại đây, ông trở lại hàng tiền vệ và được bố trí ở vị trí tiền vệ tấn công. Ngày 22 tháng 8, Díaz ra mắt trong chiến thắng 4–0 trên sân nhà trước Santiago Wanderers tại Sân vận động La Portada. Trong trận thứ ba cho câu lạc bộ gặp Audax Italiano, ông ghi bàn cho đội trong thất bại 1–2 ở phút 86. Ngày 3 tháng 10, Díaz lập cú đúp trong trận hòa 3–3 với Everton, nhưng bị thẻ đỏ ở phút 91. Sau khi vắng mặt một trận, ông trở lại trong trận gặp Unión Española và một lần nữa ghi bàn cho đội trong thất bại 1–2 trên sân Universidad Católica. Ngày 28 tháng 11, Díaz có màn trình diễn thành công trước Cobresal, được chọn là cầu thủ xuất sắc nhất trận và ghi một bàn trong chiến thắng 2–0. Sau khi mùa giải 2010 kết thúc, Díaz đã đạt thỏa thuận được cho Huachipato mượn, nhưng huấn luyện viên mới của Universidad de Chile, Jorge Sampaoli, muốn ông thi đấu cho đội của mình và cầu thủ này ở lại câu lạc bộ.
Các mùa giải bứt phá

Díaz bắt đầu mùa giải với vai trò cầu thủ dự bị, vào sân thay Guillermo Marino trong hiệp hai ở các trận đấu, nhưng nhờ những màn trình diễn tốt, ông dần thay thế Marino trong đội hình xuất phát. Ngày 4 tháng 6 năm 2011, ông ghi một bàn thắng tuyệt đẹp từ quả đá phạt cự ly 26 yard vào lưới O'Higgins, trong chiến thắng đậm 7–1 của Universidad de Chile ở bán kết play-off. Sau danh hiệu giành được tại Torneo Apertura và việc Felipe Seymour chuyển đến đội bóng Serie A của Ý Genoa, Díaz bắt đầu thi đấu ở vị trí trước đây của Seymour trong đội hình xuất phát, với vai trò tiền vệ trung tâm thiên về phòng ngự hơn.
Khi Torneo Clausura khởi tranh, cựu tiền vệ Universidad de Chile Manuel Iturra được liên hệ mạnh mẽ với câu lạc bộ để thay thế Seymour, nhưng Sampaoli quyết định đặt niềm tin vào Díaz. Với sự tin tưởng đó, Díaz nâng tầm lối chơi và trở thành một trong những cầu thủ chủ chốt của đội. Những màn trình diễn xuất sắc của ông tại giải quốc nội và Copa Sudamericana thu hút sự chú ý của huấn luyện viên đội tuyển quốc gia Claudio Borghi trước vòng loại World Cup 2014. Ngày 19 tháng 10, Díaz thi đấu trong trận vòng 16 đội Copa Sudamericana gặp Flamengo. Ở trận này, Universidad de Chile giành chiến thắng lịch sử 4–0 trên sân khách, điều chưa từng có đội bóng Chile nào làm được. Ở trận lượt về, Díaz ghi bàn duy nhất của trận đấu trong chiến thắng 1–0 tại Sân vận động Quốc gia, đồng thời giành giải cầu thủ xuất sắc nhất trận. Ở trận tiếp theo của câu lạc bộ gặp kình địch Colo-Colo, ông một lần nữa là cầu thủ xuất sắc nhất trận trong trận hòa 2–2 trên sân khách. Trong cùng trận đấu đó, Díaz bị ANFP phạt vì có cử chỉ khiếm nhã hướng về Garra Blanca, nhóm barra brava của Colo-Colo. Sau những màn trình diễn này, ông được Borghi triệu tập cho trận gặp Uruguay tại Sân vận động Centenario ở vòng loại World Cup. Ngày 23 tháng 11, tại bán kết Copa Sudamericana gặp Vasco da Gama, Díaz thi đấu trong trận hòa 1–1 trên sân khách tại Sân vận động São Januário. Ông đóng vai trò quan trọng trong trận đấu khi giành lại nhiều bóng ở khu trung tuyến và kiến tạo cho Osvaldo González ghi bàn gỡ hòa ở phút 79 bằng một quả đá phạt. Ở trận lượt về trước đội bóng Brasil, Díaz một lần nữa được chọn là cầu thủ xuất sắc nhất trận trong chiến thắng 2–0. Ở trận tiếp theo gặp LDU Quito trong trận chung kết lượt đi, ông tiếp tục có một đường kiến tạo khác cho Eduardo Vargas, người ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu. Ngày 14 tháng 12, trong trận chung kết của giải đấu, Díaz thi đấu tốt trong chiến thắng 3–0 trước LDU, qua đó lên ngôi vô địch với tư cách một trong những đội vô địch hay nhất của giải đấu này. Theo truyền thông Nam Mỹ, Universidad de Chile được so sánh với Barcelona và Díaz được so sánh với Xavi. Sau khi giành Torneo Clausura, Universidad de Chile có một mùa giải thành công với ba danh hiệu trong một năm, trong đó Díaz là một trong những cầu thủ chủ chốt của mùa giải cùng Johnny Herrera, Eduardo Vargas, Marcos González và José Rojas.
Ngày 4 tháng 1 năm 2012, câu lạc bộ nhận được lời đề nghị 1,5 triệu đô la Mỹ từ đội bóng Giải bóng đá vô địch quốc gia Argentina Newell's Old Boys dành cho Díaz, nhưng chính cầu thủ này từ chối thương vụ để thi đấu tại Copa Libertadores, đồng thời được ban lãnh đạo giữ lại bằng việc tăng lương. Ông là ứng viên cho vị trí đội trưởng của câu lạc bộ sau khi José Rojas và Marcos González chuyển đến Série A Brasil, nhưng sau cùng, với việc Rojas trở lại câu lạc bộ do các vấn đề trong hợp đồng mới, Pepe tiếp tục giữ băng đội trưởng. Díaz khởi đầu mùa giải với phong độ tốt khi ghi một bàn từ chấm phạt đền trong chiến thắng 3–1 trước đội bóng cũ Deportes La Serena ở trận đầu tiên của Universidad de Chile tại Torneo Apertura. Ngày 25 tháng 2, ông đá hỏng phạt đền trước O'Higgins trong thất bại 0–3, khi cú sút bị thủ môn đối phương Luis Marín cản phá ở vòng thứ năm của Apertura. Ngày 10 tháng 3, ông có một trận đấu xuất sắc khi thực hiện hai đường kiến tạo đáng chú ý trong chiến thắng 6–0 trước Audax Italiano, rồi được Borghi triệu tập vào đội tuyển quốc gia để thi đấu Copa del Pacífico gặp Perú tại Arica và Tacna. Ngày 4 tháng 4, ông được chọn là cầu thủ xuất sắc nhất trận trong chiến thắng 1–0 trước Godoy Cruz tại Mendoza ở Copa Libertadores. Ngày 29 tháng 4, ông tiếp tục có một trận đấu xuất sắc cho đội trong trận derby Chile gặp Colo-Colo, nơi ông ghi bàn mở tỷ số và có thêm ba đường kiến tạo sau một quả đá phạt thành công, trong chiến thắng 5–0 trên sân nhà tại Sân vận động Quốc gia. Ngày 9 tháng 5, có xác nhận rằng Díaz được bán cho đội bóng Giải bóng đá vô địch quốc gia Thụy Sĩ Basel với mức phí 4 triệu đô la Mỹ. Ngày 11 tháng 5, ông ghi một bàn từ cự ly 30 yard trong chiến thắng 6–0 trước Deportivo Quito tại Copa Libertadores.
FC Basel
Sau khi giành chức vô địch Apertura cùng Universidad de Chile, Díaz gia nhập đội bóng Thụy Sĩ Basel vào mùa hè năm 2012 theo hợp đồng bốn năm. Ông gia nhập đội một Basel trong mùa giải 2012–13 dưới thời huấn luyện viên trưởng Heiko Vogel. Díaz có trận ra mắt câu lạc bộ vào ngày 17 tháng 7, trong chiến thắng 2–0 trên sân khách trước Flora Tallinn ở lượt đi vòng loại thứ hai UEFA Champions League, và nhận được những đánh giá tích cực. Ông ra mắt giải vô địch quốc gia cho câu lạc bộ trong trận sân nhà tại St. Jakob-Park bốn ngày sau đó, vào ngày 21 tháng 7 năm 2012, khi Basel hòa Luzern 2–2. Ba ngày sau, vào ngày 24 tháng 7, Díaz ghi bàn thắng đầu tiên cho đội bóng mới trong trận lượt về gặp Flora Tallinn. Đó là một quả đá phạt trực tiếp và cũng là bàn ấn định chiến thắng 3–0 cho đội. Ông ghi bàn thắng đầu tiên tại giải vô địch cho Basel trong chiến thắng 2–1 trên sân khách tại Sân vận động Olympique de la Pontaise trước Lausanne-Sport vào ngày 17 tháng 2 năm 2013.
Cuối mùa giải Swiss Super League 2012–13, ông giành chức vô địch cùng đội. Tại Cúp bóng đá Thụy Sĩ, Basel vào đến chung kết nhưng giành ngôi á quân sau Grasshopper Club, thua 3–4 trên loạt sút luân lưu sau khi hòa 1–1 trong hiệp phụ. Basel bắt đầu UEFA Champions League từ vòng loại, nhưng bị CFR Cluj loại ở vòng play-off. Sau đó, đội tiếp tục thi đấu tại vòng bảng UEFA Europa League 2012–13. Kết thúc vòng bảng ở vị trí thứ hai, Basel đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp. Sau khi thắng Dnipro Dnipropetrovsk ở vòng 32 đội, Basel gặp Zenit St. Petersburg tại vòng 16 đội. Sau chiến thắng 2–0 trên sân nhà, trận lượt về diễn ra tại Petrovsky. Đội chủ nhà vươn lên dẫn trước ở phút 30, và sau thẻ vàng thứ hai ở phút 44, Díaz bị truất quyền thi đấu; tuy nhiên, Basel vẫn bảo toàn kết quả và đi tiếp. Sau khi vượt qua Tottenham Hotspur trong trận tứ kết kịch tính, với tổng tỷ số 4–4 rồi thắng 4–1 trên loạt sút luân lưu, Basel tiến đến bán kết, nơi họ gặp đương kim vô địch UEFA Champions League Chelsea. Chelsea thắng cả hai lượt trận với tổng tỷ số 5–2, sau đó vô địch giải đấu.
Đầu mùa giải 2013–14, Díaz là thành viên đội hình Basel giành Uhrencup 2013, sau khi đánh bại Red Star Belgrade trong trận chung kết. Basel tham dự Champions League 2013–14 từ vòng loại và giành quyền vào vòng bảng. Kết thúc bảng đấu ở vị trí thứ ba, Basel xuống chơi tại vòng đấu loại trực tiếp Europa League và tiến đến tứ kết. Tuy nhiên, đội cuối cùng bị Valencia đánh bại với tổng tỷ số 5–3 sau hiệp phụ. Cuối mùa giải Super League 2013–14, Díaz giành chức vô địch quốc gia thứ hai cùng Basel. Đội cũng vào chung kết Cúp bóng đá Thụy Sĩ vào ngày 21 tháng 4. Gastón Sauro và Giovanni Sio đều bị truất quyền thi đấu khi Basel thua đối thủ FC Zürich 0–2 trong hiệp phụ, sau 90 phút không bàn thắng.
Mùa giải 2014–15 cũng là một mùa thành công của Basel, nhưng với Díaz, đó lại là mùa giải kém may mắn và không được trọng dụng dưới thời huấn luyện viên mới Paulo Sousa. Dù Basel sau đó vô địch mùa giải này, và dù Basel vào Champions League từ vòng bảng, giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp vào ngày 9 tháng 12 năm 2014 sau trận hòa 1–1 tại Anfield trước Liverpool, Díaz chỉ có tổng cộng 24 lần ra sân, phần lớn là từ băng ghế dự bị, trong nửa đầu mùa giải: 13 trận tại giải vô địch trong tổng số 18 trận, 2 trận tại cúp trong tổng số 3 trận, chỉ 3 trận tại Champions League trong tổng số 6 trận, cùng thêm 6 lần ra sân ở các trận giao hữu thử nghiệm. Vì Sousa không còn tin dùng Díaz, ông buộc phải rời câu lạc bộ trong kỳ nghỉ đông.
Ngày 2 tháng 2 năm 2015, Basel thông báo Díaz đã gia nhập Hamburger SV. Trong thời gian khoác áo câu lạc bộ, Díaz thi đấu tổng cộng 118 trận cho Basel và ghi 15 bàn. Trong đó, 58 trận diễn ra tại Giải bóng đá vô địch quốc gia Thụy Sĩ, 10 trận tại Cúp bóng đá Thụy Sĩ, 51 trận ở các giải đấu UEFA gồm Champions League và Europa League, và 19 trận là giao hữu. Ông ghi bảy bàn tại giải vô địch quốc gia, hai bàn tại cúp quốc gia, bốn bàn ở các giải châu Âu và hai bàn còn lại trong các trận giao hữu thử nghiệm.
Hamburger SV
Ngày 2 tháng 2 năm 2015, Díaz ký hợp đồng ba năm rưỡi với câu lạc bộ Bundesliga của Đức Hamburger SV. Ngày 1 tháng 6 năm 2015, ông ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ trong trận play-off trụ hạng diễn ra cuối mùa Bundesliga, gặp Karlsruher SC. Nhiều cổ động viên Hamburg xem bàn đá phạt ở phút 91 của Díaz, giúp Hamburg tránh lần đầu tiên xuống hạng, là một trong những bàn thắng quan trọng nhất trong lịch sử 128 năm của câu lạc bộ. Sau trận đấu, có thông tin rằng Rafael van der Vaart, đội trưởng Hamburg và là lựa chọn số một cho các quả đá phạt, ban đầu sẽ thực hiện cú sút. Tuy nhiên, Díaz bất ngờ nói với Van der Vaart rằng anh có thể sút "ngày mai, bạn của tôi", rồi tự mình thực hiện quả đá phạt.
Celta de Vigo
Tháng 1 năm 2016, Díaz chuyển đến câu lạc bộ La Liga của Tây Ban Nha Celta de Vigo. Ông ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ vào ngày 16 tháng 4 năm 2017, trong chiến thắng 3–0 trên sân khách trước Granada CF.
Ngày 17 tháng 8 năm 2017, Díaz rời Celta theo thỏa thuận chung.
Pumas UNAM
Ngày 17 tháng 8 năm 2017, Díaz ký hợp đồng với đội bóng Liga MX Pumas UNAM theo dạng chuyển nhượng tự do.
Libertad
Tháng 6 năm 2021, tờ D10 của Paraguay thông báo rằng Díaz sẽ gia nhập Libertad. Tháng 7 năm 2021, thông báo này được câu lạc bộ chính thức xác nhận.
Sự nghiệp quốc tế
Đội trẻ
Tháng 1 năm 2005, khi 19 tuổi, Díaz thu hút sự chú ý của José Sulantay, người đã triệu tập ông tham dự Giải vô địch trẻ Nam Mỹ tổ chức tại Colombia. Ông ra mắt đội U-20 trong giải đấu này. Sau khi đội trẻ Chile giành quyền tham dự Giải vô địch bóng đá trẻ thế giới, ông có tên trong danh sách 23 cầu thủ dự giải vô địch thế giới, nhưng không thi đấu trong suốt giải đấu.
Đội tuyển quốc gia
Sáu năm sau khi thi đấu cho đội U-20, vào ngày 7 tháng 9 năm 2011, Díaz được Claudio Borghi triệu tập để thi đấu tại vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2014 gặp Uruguay và Paraguay, thay cho Carlos Carmona, người bị cấm thi đấu vì liên quan đến bê bối "Bautizazo". Ngày 11 tháng 11, Díaz chính thức ra mắt đội tuyển Chile trong thất bại 0–4 trên sân khách tại Sân vận động Centenario, và được thay bởi Milovan Mirosevic ở phút 61. Nhờ những màn trình diễn tốt trong màu áo Universidad de Chile, ông được triệu tập cho trận gặp Ghana tại PPL Park, nơi ông chơi tốt trong trận hòa 1–1. Ông tiếp tục đá chính tại vòng loại trước Bolivia và Venezuela, cả hai đều là những chiến thắng 2–0 trên sân khách, trong đó Díaz thi đấu nổi bật.
Cúp bóng đá Nam Mỹ 2015
Díaz đá chính cả sáu trận tại Cúp bóng đá Nam Mỹ 2015, góp phần giúp Chile đánh bại Argentina trên loạt sút luân lưu để giành danh hiệu quốc tế lớn đầu tiên trong lịch sử. Nhờ màn trình diễn của mình, ông được chọn vào đội hình tiêu biểu của giải đấu.
Đời tư
Khi vẫn còn là cầu thủ của Universidad de Chile, Díaz tốt nghiệp với tư cách huấn luyện viên bóng đá tại INAF [es] (Viện Bóng đá, Thể thao và Hoạt động Thể chất Quốc gia Chile) vào tháng 12 năm 2024.
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
- Tính đến trận đấu diễn ra ngày 16 tháng 7 năm 2025
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải vô địch | Cúp quốc gia | Châu lục | Khác | Tổng cộng | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | ||
| Universidad de Chile | 2005 | Chilean Primera División | 4 | 0 | 0 | 0 | — | — | 4 | 0 | ||
| 2006 | Chilean Primera División | 29 | 0 | 0 | 0 | — | — | 29 | 0 | |||
| 2007 | Chilean Primera División | 37 | 0 | 0 | 0 | — | — | 37 | 0 | |||
| 2008 | Chilean Primera División | 15 | 1 | 1 | 0 | — | — | 16 | 1 | |||
| 2009 | Chilean Primera División | 23 | 0 | 1 | 0 | 13 | 1 | — | 37 | 1 | ||
| 2010 | Chilean Primera División | 5 | 0 | 2 | 0 | 2 | 0 | — | 9 | 0 | ||
| 2011 | Chilean Primera División | 33 | 1 | 4 | 0 | 11 | 1 | 1 | 0 | 49 | 2 | |
| 2012 | Chilean Primera División | 18 | 2 | 0 | 0 | 12 | 2 | — | 30 | 4 | ||
| Tổng cộng | 164 | 4 | 8 | 0 | 38 | 4 | 1 | 0 | 211 | 8 | ||
| Deportes La Serena (mượn) | 2010 | Chilean Primera División | 13 | 5 | — | — | — | 13 | 5 | |||
| Basel | 2012–13 | Giải bóng đá vô địch quốc gia Thụy Sĩ | 26 | 4 | 5 | 1 | 17 | 2 | 0 | 0 | 48 | 7 |
| 2013–14 | Swiss Super League | 19 | 2 | 3 | 1 | 11 | 2 | 0 | 0 | 33 | 5 | |
| 2014–15 | Swiss Super League | 13 | 1 | 2 | 0 | 3 | 0 | 0 | 0 | 18 | 1 | |
| Tổng cộng | 58 | 7 | 10 | 2 | 31 | 4 | 0 | 0 | 99 | 9 | ||
| Hamburger SV | 2014–15 | Bundesliga | 6 | 0 | 0 | 0 | — | 2 | 1 | 8 | 1 | |
| 2015–16 | Bundesliga | 11 | 0 | 1 | 0 | — | — | 12 | 0 | |||
| Tổng cộng | 17 | 0 | 1 | 0 | — | 2 | 1 | 20 | 1 | |||
| Celta Vigo | 2015–16 | La Liga | 14 | 0 | 2 | 0 | — | — | 16 | 0 | ||
| 2016–17 | La Liga | 26 | 1 | 8 | 1 | 5 | 0 | — | 39 | 2 | ||
| Tổng cộng | 40 | 1 | 10 | 1 | 5 | 0 | — | 55 | 2 | |||
| Pumas UNAM | 2017–18 | Liga MX | 30 | 3 | 1 | 0 | — | — | 31 | 3 | ||
| 2018–19 | Liga MX | 1 | 0 | 1 | 1 | — | — | 2 | 1 | |||
| Tổng cộng | 31 | 3 | 2 | 1 | — | — | 33 | 4 | ||||
| Racing Club | 2018–19 | Giải bóng đá vô địch quốc gia Argentina | 19 | 0 | 4 | 0 | 1 | 0 | 1 | 0 | 25 | 0 |
| 2019–20 | Giải bóng đá vô địch quốc gia Argentina | 16 | 1 | 0 | 0 | 4 | 0 | 1 | 0 | 21 | 1 | |
| Tổng cộng | 35 | 1 | 4 | 0 | 5 | 0 | 2 | 0 | 46 | 1 | ||
| Club Libertad | 2021 | Paraguayan Primera División | 1 | 0 | — | 2 | 0 | — | 3 | 0 | ||
| 2022 | Paraguayan Primera División | 20 | 0 | 0 | 0 | 2 | 0 | — | 22 | 0 | ||
| Tổng cộng | 21 | 0 | 0 | 0 | 4 | 0 | — | 25 | 0 | |||
| Audax Italiano | 2023 | Chilean Primera División | 21 | 0 | 0 | 0 | 9 | 0 | — | 30 | 0 | |
| Universidad de Chile | 2024 | Chilean Primera División | 29 | 0 | 4 | 0 | — | — | 33 | 0 | ||
| 2025 | Chilean Primera División | 14 | 0 | 6 | 0 | 7 | 0 | — | 27 | 0 | ||
| Tổng cộng | 43 | 0 | 10 | 0 | 7 | 0 | — | 60 | 0 | |||
| Tổng cộng sự nghiệp | 417 | 20 | 37 | 3 | 91 | 8 | 5 | 1 | 553 | 32 | ||
- ^ Chín lần ra sân và một bàn thắng ở Copa Libertadores, bốn lần ra sân ở Copa Sudamericana
- ^ a b c d Lần ra sân ở Copa Libertadores
- ^ a b c d Lần ra sân ở Copa Sudamericana
- ^ Lần ra sân ở play-off Copa Sudamericana
- ^ Sáu lần ra sân và một bàn thắng ở UEFA Champions League, mười một lần ra sân và một bàn thắng ở UEFA Europa League
- ^ Tám lần ra sân và hai bàn thắng ở UEFA Champions League, ba lần ra sân ở UEFA Europa League
- ^ Lần ra sân ở UEFA Champions League
- ^ Lần ra sân ở play-off xuống hạng
- ^ Lần ra sân ở UEFA Europa League
- ^ Lần ra sân ở Trofeo de Campeones de la Superliga Argentina
- ^ Lần ra sân năm 2020 Copa Maradona
- ^ Sáu lần ra sân ở Copa Libertadores, một lần ra sân ở Copa Sudamericana
Quốc tế
- Tính đến trận đấu diễn ra ngày 8 tháng 2 năm 2025
| Đội tuyển quốc gia | Năm | Số trận | Bàn thắng |
|---|---|---|---|
| Chile | 2011 | 1 | 0 |
| 2012 | 8 | 0 | |
| 2013 | 10 | 0 | |
| 2014 | 12 | 1 | |
| 2015 | 11 | 0 | |
| 2016 | 10 | 0 | |
| 2017 | 9 | 0 | |
| 2025 | 1 | 0 | |
| Tổng cộng | 62 | 1 | |
- Tỉ số và kết quả liệt kê số bàn thắng của Chile trước.
| # | Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Tỷ số | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 30 tháng 5 năm 2014 | Sân vận động Quốc gia Julio Martínez Prádanos, Santiago, Chile | 1–2 | 3–2 | Giao hữu |
Danh hiệu
Universidad de Chile
- Chilean Primera División: 2009 Apertura, 2011 Apertura, 2011 Clausura, 2012 Apertura
- Copa Sudamericana: 2011
Basel
- Giải bóng đá vô địch quốc gia Thụy Sĩ: 2012–13, 2013–14
- Á quân Cúp bóng đá Thụy Sĩ: 2012–13, 2013–14
Racing Club
Libertad
Chile
- Cúp bóng đá Nam Mỹ: 2015, 2016
- Á quân Cúp Liên đoàn các châu lục: 2017
- Copa del Pacífico: 2012
Cá nhân
- Primera División de Chile Team of the Season : 2011
- Đội hình tiêu biểu Cúp bóng đá Nam Mỹ: 2015.
Thống kê sự nghiệp
Quốc tế
- Tính đến trận đấu diễn ra ngày 8 tháng 2 năm 2025
| Đội tuyển quốc gia | Năm | Số trận | Bàn thắng |
|---|---|---|---|
| Chile | 2011 | 1 | 0 |
| 2012 | 8 | 0 | |
| 2013 | 10 | 0 | |
| 2014 | 12 | 1 | |
| 2015 | 11 | 0 | |
| 2016 | 10 | 0 | |
| 2017 | 9 | 0 | |
| 2025 | 1 | 0 | |
| Tổng cộng | 62 | 1 | |
- Tỷ số của Chile được liệt kê trước, cột tỷ số biểu thị tỷ số sau mỗi bàn thắng của Brereton
| Thứ tự | Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Tỷ số | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 30 tháng 5 năm 2014 | 1–2 | 3–2 | Giao hữu |
Tham khảo
Liên kết ngoài
- Marcelo Díaz tại BDFutbol
- Marcelo Díaz tại Football-Lineups
- Marcelo Alfonso Diaz tại BDFA (bằng tiếng Tây Ban Nha)