Quay lại

Paul Argney

Số áo #50

Goalkeeper

Quốc tịch Flag France
Tuổi 20
Chiều cao 6' 1"
Cân nặng 163 lbs

Câu lạc bộ hiện tại

Logo

Le Havre AC

Clubhouse

Thông tin chi tiết (Wikipedia)

Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới
Chiếc cúp được trao từ năm 2007 (với tên hiện tại); từ năm 2005 (theo thiết kế)
Cơ quan tổ chứcFIFA
Thành lập1985; 41 năm trước (1985)
Khu vựcQuốc tế
Số đội48 (vòng chung kết)
Giải đấu liên quanGiải vô địch bóng đá U-17 nữ thế giới
Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới
Đội vô địch
hiện tại
 Bồ Đào Nha (danh hiệu thứ nhất)
Đội bóng
thành công nhất
 Nigeria (5 danh hiệu)
Websitefifa.com/u17worldcup
Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới 2026

Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới, được thành lập với tên gọi Giải vô địch bóng đá U-16 thế giới FIFA, sau đó đổi thành U-17 vào năm 1991 và sang tên hiện tại vào năm 2007, là giải vô địch thế giới thường niên của môn bóng đá dành cho các cầu thủ nam từ 17 tuổi trở xuống do Fédération Internationale de Football Association (FIFA) tổ chức. Đương kim vô địch là Bồ Đào Nha, đội giành danh hiệu đầu tiên tại giải đấu năm 2025.

Lịch sử

Giải đấu được lấy cảm hứng từ Lion City Cup, giải đấu do Hiệp hội bóng đá Singapore thành lập vào năm 1977. Lion City Cup là giải bóng đá U-16 đầu tiên trên thế giới. Sau khuyến nghị của tổng thư ký FIFA khi đó là Sepp Blatter sau khi ông có mặt tại Singapore dự Lion City Cup 1982, FIFA đã thành lập Giải vô địch bóng đá U-16 thế giới FIFA.

Kỳ đầu tiên được tổ chức vào năm 1985 tại Trung Quốc, và các giải đấu được tổ chức hai năm một lần kể từ đó. Giải bắt đầu là giải đấu dành cho các cầu thủ dưới 16 tuổi, với giới hạn tuổi được nâng lên 17 kể từ kỳ năm 1991. Giải đấu năm 2017, do Ấn Độ đăng cai, trở thành kỳ có lượng khán giả cao nhất trong lịch sử giải đấu, với tổng số khán giả của Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới đạt 1.347.133 người.

Nigeria là quốc gia thành công nhất trong lịch sử giải đấu, với năm danh hiệu và ba lần á quân. Brasil là đội thành công thứ hai với bốn danh hiệu và hai lần á quân. GhanaMéxico mỗi đội đã hai lần vô địch giải đấu.

Một giải đấu tương ứng dành cho cầu thủ nữ, Giải vô địch bóng đá U-17 nữ thế giới, bắt đầu vào năm 2008, với Bắc Triều Tiên giành chức vô địch kỳ đầu tiên.

Vào tháng 3 năm 2024, FIFA công bố rằng các Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới của cả hai giới sẽ được tổ chức hằng năm, với QatarMaroc đăng cai năm kỳ thường niên đầu tiên bắt đầu từ năm 2025. Đối với Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới, giải đấu cũng được mở rộng lên thể thức 48 đội, sau khi trước đó được tổ chức hai năm một lần với 24 đội từ năm 2007 đến năm 2023.

Vào tháng 11 năm 2025, Maroc lập kỷ lục về cách biệt chiến thắng lớn nhất trong lịch sử bất kỳ giải World Cup 11 người nào của FIFA, khi đánh bại Nouvelle-Calédonie 16–0 tại Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới 2025.

Thể thức

Mỗi giải đấu gồm một vòng bảng, trong đó bốn đội thi đấu với nhau và thứ hạng trong bảng quyết định các đội đi tiếp, tiếp theo là vòng đấu loại trực tiếp gồm các trận đấu liên tiếp, trong đó đội thắng đi tiếp trong giải đấu còn đội thua bị loại. Quá trình này tiếp tục cho đến khi còn hai đội tranh tài ở trận chung kết, trận đấu quyết định đội vô địch giải đấu. Hai đội thua ở bán kết cũng thi đấu một trận để xác định hạng ba.

Từ năm 1985 đến năm 2005, giải đấu có 16 đội, được chia thành bốn bảng, mỗi bảng bốn đội ở vòng bảng. Mỗi đội thi đấu với các đội còn lại trong bảng, và đội nhất bảng cùng đội nhì bảng giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp. Từ năm 2007, giải đấu được mở rộng lên 24 đội, chia thành sáu bảng, mỗi bảng bốn đội. Hai đội đứng đầu mỗi bảng cùng bốn đội xếp thứ ba có thành tích tốt nhất giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp.

Các trận đấu được thi đấu trong hai hiệp 45 phút (tức tổng cộng 90 phút). Ở vòng đấu loại trực tiếp, cho đến giải đấu năm 2011, nếu hòa sau 90 phút thì thi đấu thêm 30 phút hiệp phụ, sau đó là loạt sút luân lưu nếu vẫn hòa. Bắt đầu từ giải đấu năm 2011, hiệp phụ bị loại bỏ để tránh tình trạng cầu thủ quá tải, và tất cả các trận vòng đấu loại trực tiếp sẽ đi thẳng vào loạt sút luân lưu nếu hòa sau 90 phút.

Từ năm 2025, giải đấu được tổ chức hằng năm và có 48 đội tham dự, chia thành 12 bảng, mỗi bảng 4 đội, trong đó hai đội đứng đầu mỗi bảng (24 đội) và tám đội xếp thứ ba có thành tích tốt nhất đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp, bắt đầu từ vòng 32 đội cho đến chung kết để xác định đội vô địch. Qatar được công bố là quốc gia đăng cai từ năm 2025 đến năm 2029 vào ngày 14 tháng 3 năm 2024.

Vòng loại

Quốc gia chủ nhà của mỗi giải đấu tự động vượt qua vòng loại. Các đội còn lại vượt qua vòng loại thông qua các giải đấu do sáu liên đoàn khu vực tổ chức. Ở kỳ đầu tiên của giải đấu năm 1985, tất cả các đội từ châu Âu cùng Bolivia tham dự theo lời mời của FIFA.

Liên đoàn Giải vô địch
AFC (châu Á) Cúp bóng đá U-17 châu Á
CAF (châu Phi) Cúp bóng đá U-17 châu Phi
CONCACAF (Bắc, Trung Mỹ và Caribe) Giải vô địch bóng đá U-17 CONCACAF
CONMEBOL (Nam Mỹ) Giải vô địch bóng đá U-17 Nam Mỹ
OFC (châu Đại Dương) Giải vô địch bóng đá U-16 OFC
UEFA (châu Âu) Giải vô địch bóng đá U-17 châu Âu (vòng loại)

Kết quả

Tên giải đấu
  • 1985–1989: Giải vô địch bóng đá U-16 thế giới FIFA
  • 1991–2005: Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới FIFA
  • 2007–nay: Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới
Chú thích
Kỳ Năm Chủ nhà Chung kết Trận tranh hạng ba Số
đội
1 Vô địch Tỉ số 2 Á quân 3 Hạng ba Tỉ số Hạng tư
1 1985  Trung Quốc
Nigeria
2–0
Tây Đức

Brasil
4–1
Guinée
16
2 1987  Canada
Liên Xô
1–1 (s.h.p.)
(4–2 p)

Nigeria

Bờ Biển Ngà
2–1 (s.h.p.)
Ý
16
3 1989  Scotland
Ả Rập Xê Út
2–2 (s.h.p.)
(5–4 p)

Scotland

Bồ Đào Nha
3–0
Bahrain
16
4 1991  Ý
Ghana
1–0
Tây Ban Nha

Argentina
1–1 (s.h.p.)
(4–1 p)

Qatar
16
5 1993  Nhật Bản
Nigeria
2–1
Ghana

Chile
1–1 (s.h.p.)
(4–2 p)

Ba Lan
16
6 1995  Ecuador
Ghana
3–2
Brasil

Argentina
2–0
Oman
16
7 1997  Ai Cập
Brasil
2–1
Ghana

Tây Ban Nha
2–1
Đức
16
8 1999  New Zealand
Brasil
0–0 (s.h.p.)
(8–7 p)

Úc

Ghana
2–0
Hoa Kỳ
16
9 2001  Trinidad và Tobago
Pháp
3–0
Nigeria

Burkina Faso
2–0
Argentina
16
10 2003  Phần Lan
Brasil
1–0
Tây Ban Nha

Argentina
1–1 (s.h.p.)
(5–4 p)

Colombia
16
11 2005  Perú
México
3–0
Brasil

Hà Lan
2–1
Thổ Nhĩ Kỳ
16
12 2007  Hàn Quốc
Nigeria
0–0 (s.h.p.)
(3–0 p)

Tây Ban Nha

Đức
2–1
Ghana
24
13 2009  Nigeria
Thụy Sĩ
1–0
Nigeria

Tây Ban Nha
1–0
Colombia
24
14 2011  México
México
2–0
Uruguay

Đức
4–3
Brasil
24
15 2013  Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
Nigeria
3–0
México

Thụy Điển
4–1
Argentina
24
16 2015  Chile
Nigeria
2–0
Mali

Bỉ
3–2
México
24
17 2017  Ấn Độ
Anh
5–2
Tây Ban Nha

Brasil
2–0
Mali
24
18 2019  Brasil
Brasil
2–1
México

Pháp
3–1
Hà Lan
24
19 2023  Indonesia
Đức
2–2
(4–3 p)

Pháp

Mali
3–0
Argentina
24
20 2025  Qatar
Bồ Đào Nha
1–0
Áo

Ý
0–0
(4–2 p)

Brasil
48
21 2026 48
22 2027 48
23 2028 48
24 2029 48

Các đội lọt vào top bốn

Đội Danh hiệu Á quân Hạng ba Hạng tư
 Nigeria 5 (1985, 1993, 2007, 2013, 2015) 3 (1987, 2001, 2009)
 Brasil 4 (1997, 1999, 2003, 2019) 2 (1995, 2005) 2 (1985, 2017) 2 (2011, 2025)
 Ghana 2 (1991, 1995) 2 (1993, 1997) 1 (1999) 1 (2007)
 México 2 (2005, 2011) 2 (2013, 2019) 1 (2015)
 Đức1 1 (2023) 1 (1985) 2 (2007, 2011) 1 (1997)
 Pháp 1 (2001) 1 (2023) 1 (2019)
 Bồ Đào Nha 1 (2025) 1 (1989)
 Nga2 1 (1987)
 Ả Rập Xê Út 1 (1989)
 Thụy Sĩ 1 (2009)
 Anh 1 (2017)
 Tây Ban Nha 4 (1991, 2003, 2007, 2017) 2 (1997, 2009)
 Mali 1 (2015) 1 (2023) 1 (2017)
 Scotland 1 (1989)
 Úc 1 (1999)
 Uruguay 1 (2011)
 Áo 1 (2025)
 Argentina 3 (1991, 1995, 2003) 3 (2001, 2013, 2023)
 Hà Lan 1 (2005) 1 (2019)
 Ý 1 (2025) 1 (1987)
 Bờ Biển Ngà 1 (1987)
 Chile 1 (1993)
 Burkina Faso 1 (2001)
 Thụy Điển 1 (2013)
 Bỉ 1 (2015)
 Colombia 2 (2003, 2009)
 Guinée 1 (1985)
 Bahrain 1 (1989)
 Qatar 1 (1991)
 Ba Lan 1 (1993)
 Oman 1 (1995)
 Hoa Kỳ 1 (1999)
 Thổ Nhĩ Kỳ 1 (2005)
1bao gồm các kết quả đại diện cho Tây Đức
2bao gồm các kết quả đại diện cho Liên Xô

Thành tích theo khu vực châu lục

Châu Phi là khu vực châu lục thành công nhất với bảy lần vô địch giải đấu (năm cho Nigeria, hai cho Ghana) và sáu lần á quân. Đáng chú ý, trận chung kết năm 1993 diễn ra giữa hai đội châu Phi, đây là lần đầu tiên trận chung kết có hai đội từ cùng một liên đoàn. Năm 2015, hai đội châu Phi lặp lại trận chung kết năm 1993 với Mali thay thế Ghana (bị loại vì vi phạm tuổi), khi Nigeria và Mali lọt vào hai vị trí cuối cùng và Nigeria giành chiến thắng thứ năm.

Nam Mỹ có bốn lần vô địch giải đấu – tất cả đều thuộc về Brasil – và ba lần á quân; Uruguay cũng một lần giành ngôi á quân vào năm 2011. Mặt khác, Argentina đã ba lần về hạng ba; Chile một lần làm được điều này; và Colombia hai lần về hạng tư, nhưng ba đội sau chưa từng vào chung kết.

Châu Âu có sáu lần vô địch giải đấu (mỗi đội một lần cho Liên Xô, Pháp, Thụy Sĩ, Anh, ĐứcBồ Đào Nha) và tám lần á quân. Tây Ban Nha bốn lần giành ngôi á quân. Ngoài ra, Hà Lan, Thụy ĐiểnÝ đã giành huy chương hạng ba lần lượt vào các năm 2005, 2013 và 2025.

Khu vực CONCACAF có hai lần vô địch giải đấu (thuộc về México vào các năm 2005 và 2011). Liên đoàn này đã bốn lần vào chung kết (với México).

Châu Á có một lần vô địch giải đấu (thuộc về Ả Rập Xê Út năm 1989), đây là lần duy nhất một đội từ liên đoàn này vào chung kết và cũng là lần duy nhất một đội châu Á vô địch một giải đấu FIFA ở hạng mục nam. (Úc là á quân năm 1999 nhưng khi đó còn thuộc Liên đoàn bóng đá châu Đại Dương).

Châu Đại Dương chưa từng vô địch giải đấu và có một lần á quân (thuộc về Úc năm 1999). Úc sau đó đã chuyển sang liên đoàn châu Á.

Giải đấu này đặc biệt ở chỗ phần lớn danh hiệu thuộc về các đội đến từ ngoài những liên đoàn khu vực mạnh nhất (CONMEBOL và UEFA). Trong 20 kỳ đã tổ chức cho đến nay, 10 kỳ (50 phần trăm tổng số) được vô địch bởi các đội từ Bắc và Trung Mỹ, châu Phi và châu Á.

Liên đoàn (châu lục) Thành tích
Vô địch Á quân Hạng ba Hạng tư
CAF (châu Phi) 7 lần: Nigeria (5), Ghana (2) 6 lần: Nigeria (3), Ghana (2), Mali (1) 4 lần: Ghana (1), Bờ Biển Ngà (1), Burkina Faso (1), Mali (1) 3 lần: Ghana (1), Guinée (1), Mali (1)
UEFA (châu Âu) 6 lần: Pháp (1), Liên Xô (1), Thụy Sĩ (1), Anh (1), Đức (1), Bồ Đào Nha (1) 8 lần: Tây Ban Nha (4), Đức (1), Scotland (1), Pháp (1), Áo (1) 10 lần: Đức (2), Tây Ban Nha (2), Bỉ (1), Pháp (1), Ý (1), Hà Lan (1), Bồ Đào Nha (1), Thụy Điển (1) 5 lần: Đức (1), Ý (1), Hà Lan (1), Ba Lan (1), Thổ Nhĩ Kỳ (1)
CONMEBOL (Nam Mỹ) 4 lần: Brasil (4) 3 lần: Brasil (2), Uruguay (1) 6 lần: Argentina (3), Brasil (2), Chile (1) 7 lần: Brasil (2), Argentina (3), Colombia (2)
CONCACAF (Bắc, Trung Mỹ và Caribe) 2 lần: México (2) 2 lần: México (2) Không có 2 lần: México (1), Hoa Kỳ (1)
AFC (châu Á) 1 lần: Ả Rập Xê Út (1) Không có Không có 3 lần: Bahrain (1), Qatar (1), Oman (1)
OFC (châu Đại Dương) Không có 1 lần: Úc (1) Không có Không có

Giải thưởng

Các giải thưởng sau hiện được trao:

  • Quả bóng vàng được trao cho cầu thủ giá trị nhất giải đấu;
  • Chiếc giày vàng được trao cho cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất giải đấu;
  • Găng tay vàng được trao cho thủ môn giá trị nhất giải đấu;
  • Cúp Fair Play FIFA được trao cho đội có thành tích kỷ luật tốt nhất tại giải đấu.
Giải đấu Quả bóng vàng Chiếc giày vàng Bàn thắng Găng tay vàng Cúp Fair Play FIFA
Trung Quốc Trung Quốc 1985 Brasil William Tây Đức Marcel Witeczek 8 Không trao  Tây Đức
Canada Canada 1987 Nigeria Philip Osundu Bờ Biển Ngà Moussa Traoré 5  Liên Xô
Scotland Scotland 1989 Scotland James Will Guinée Fode Camara 3  Bahrain
Ý Ý 1991 Ghana Nii Lamptey Brasil Adriano 4  Argentina
Nhật Bản Nhật Bản 1993 Ghana Daniel Addo Nigeria Wilson Oruma 6  Nigeria
Ecuador Ecuador 1995 Oman Mohammed Al-Kathiri Úc Daniel Allsopp 5  Brasil
Ai Cập Ai Cập 1997 Tây Ban Nha Sergio Santamaría Tây Ban Nha David 7  Argentina
New Zealand New Zealand 1999 Hoa Kỳ Landon Donovan Ghana Ishmael Addo 7  México
Trinidad và Tobago Trinidad và Tobago 2001 Pháp Florent Sinama Pongolle Pháp Florent Sinama Pongolle 9  Nigeria
Phần Lan Phần Lan 2003 Tây Ban Nha Cesc Fàbregas Tây Ban Nha Cesc Fàbregas 5  Costa Rica
Perú Peru 2005 Brasil Anderson México Carlos Vela 5  CHDCND Triều Tiên
Hàn Quốc Hàn Quốc 2007 Đức Toni Kroos Nigeria Macauley Chrisantus 7  Costa Rica
Nigeria Nigeria 2009 Nigeria Sani Emmanuel Tây Ban Nha Borja 5 Thụy Sĩ Benjamin Siegrist  Nigeria
México México 2011 México Julio Gómez Bờ Biển Ngà Souleymane Coulibaly 9 Uruguay Jonathan Cubero  Nhật Bản
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất 2013 Nigeria Kelechi Iheanacho Thụy Điển Valmir Berisha 7 Nigeria Dele Alampasu  Nigeria
Chile Chile 2015 Nigeria Kelechi Nwakali Nigeria Victor Osimhen 10 Mali Samuel Diarra  Ecuador
Ấn Độ Ấn Độ 2017 Anh Phil Foden Anh Rhian Brewster 8 Brasil Gabriel Brazão  Brasil
Brasil Brasil 2019 Brasil Gabriel Veron Hà Lan Sontje Hansen 6 Brasil Matheus Donelli  Ecuador
Indonesia Indonesia 2023 Đức Paris Brunner Argentina Agustín Ruberto 8 Pháp Paul Argney  Anh
Qatar Qatar 2025 Bồ Đào Nha Mateus Mide Áo Johannes Moser 8 Bồ Đào Nha Romário Cunha  Séc
Qatar Qatar 2026
Qatar Qatar 2027
Qatar Qatar 2028
Qatar Qatar 2029

Kỷ lục và thống kê

Xem thêm

Tham khảo

Liên kết ngoài

Thống kê chỉ số

Số trận 0 (0)
Bàn thắng 0
Kiến tạo 0
Cú sút 0
Thẻ vàng 0
Thẻ đỏ 0