Sekou Fofana
Cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp
Việt Nam / Quốc tế
Câu lạc bộ hiện tại
Đội tuyển / Câu lạc bộ chuyên nghiệp
Giải đấu bóng đá
Thông tin chi tiết (Wikipedia)
|
Fofana trong màu áo đội tuyển Bờ Biển Ngà tại FIFA World Cup 2026 | |||||||||||||||||
| Thông tin cá nhân | |||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Seko Mohamed Fofana | ||||||||||||||||
| Ngày sinh | 7 tháng 5, 1995 | ||||||||||||||||
| Nơi sinh | Paris, Pháp | ||||||||||||||||
| Chiều cao | 1,85 m | ||||||||||||||||
| Vị trí | Tiền vệ | ||||||||||||||||
| Thông tin đội | |||||||||||||||||
Đội hiện nay |
Porto (mượn từ Rennes) | ||||||||||||||||
| Số áo | 42 | ||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||||||||||||||||
| Năm | Đội | ||||||||||||||||
| 2004–2010 | Paris FC | ||||||||||||||||
| 2010–2013 | Lorient | ||||||||||||||||
| 2013–2014 | Manchester City | ||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||
| 2014–2016 | Manchester City | 0 | (0) | ||||||||||||||
| 2014–2015 | → Fulham (mượn) | 21 | (1) | ||||||||||||||
| 2015–2016 | → Bastia (mượn) | 32 | (1) | ||||||||||||||
| 2016–2020 | Udinese | 112 | (13) | ||||||||||||||
| 2020–2023 | Lens | 103 | (17) | ||||||||||||||
| 2023–2025 | Al-Nassr | 14 | (0) | ||||||||||||||
| 2024–2025 | → Al-Ettifaq (mượn) | 27 | (2) | ||||||||||||||
| 2025– | Rennes | 28 | (2) | ||||||||||||||
| 2026– | → Porto (mượn) | 12 | (3) | ||||||||||||||
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia‡ | |||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||
| 2010–2011 | U-16 Pháp | 12 | (7) | ||||||||||||||
| 2011–2012 | U-17 Pháp | 11 | (2) | ||||||||||||||
| 2012–2013 | U-18 Pháp | 7 | (2) | ||||||||||||||
| 2013 | U-19 Pháp | 3 | (1) | ||||||||||||||
| 2017– | Bờ Biển Ngà | 32 | (7) | ||||||||||||||
Thành tích huy chương
| |||||||||||||||||
|
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 20:38, 10 tháng 5 năm 2026 (UTC) ‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 23:42, 28 tháng 3 năm 2026 (UTC) | |||||||||||||||||
Seko Mohamed Fofana (sinh ngày 7 tháng 5 năm 1995) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp thi đấu ở vị trí tiền vệ cho câu lạc bộ Porto tại Primeira Liga, theo dạng cho mượn từ câu lạc bộ Rennes tại Ligue 1. Sinh ra tại Pháp, anh thi đấu cho đội tuyển quốc gia Bờ Biển Ngà.
Sự nghiệp câu lạc bộ
Manchester City
Sinh ra tại Paris, Pháp, Fofana bắt đầu sự nghiệp trẻ tại Paris FC khi lên chín tuổi và gắn bó ở đó sáu năm trước khi gia nhập Lorient. Sau hai năm tại Lorient, anh chuyển đến Anh khi gia nhập đội bóng Manchester City tại Premier League vào năm 2013 và ngay lập tức được đưa vào đội phát triển.
Fofana bắt đầu thường xuyên góp mặt ở đội U-18 trong mùa giải 2013–14, ra sân 20 lần và ghi 5 bàn tại giải vô địch quốc gia, đồng thời thi đấu 7 trận và ghi 2 bàn trong chiến dịch UEFA Youth League 2013–14 của câu lạc bộ trước CSKA Moscow và Benfica Juniors. Trong trận giao hữu U-21 của Manchester City với HNK Rijeka, anh bị một cầu thủ đối phương phân biệt chủng tộc ngay trước giờ nghỉ giữa hiệp. Kết quả là các cầu thủ của đội U-21 Manchester City rời sân, khiến trận đấu bị hủy. Sau trận đấu, huấn luyện viên Patrick Vieira ca ngợi hành động rời sân của các cầu thủ.
Fulham (mượn)
Ngày 27 tháng 11 năm 2014, Fofana ký hợp đồng cho mượn với đội bóng Fulham tại Championship đến ngày 31 tháng 1 năm 2015. Anh có trận ra mắt Fulham hai ngày sau đó, khi vào sân thay Emerson Hyndman ở phút 63 trong chiến thắng 2–1 trước Brighton & Hove Albion. Phong độ và màn trình diễn của anh thuyết phục Fulham gia hạn thời gian cho mượn đến hết mùa giải. Anh ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ vào ngày 21 tháng 3 năm 2015, góp phần mang về chiến thắng 2–0 trên sân khách trước Huddersfield Town. Sau khi khẳng định được vị trí dưới sự dẫn dắt của Kit Symons, Fofana có tổng cộng 25 lần ra sân và ghi một bàn trước khi trở lại câu lạc bộ chủ quản.
Bastia (mượn)
Sau khi có hai lần ra sân cho City trong chuyến du đấu tiền mùa giải tại Úc (thi đấu hiệp hai trong chiến thắng 2–0 trước Adelaide United, và vào sân thay người ở cuối trận trong chiến thắng 1–0 của Manchester City trước Melbourne City), câu lạc bộ Premier League đồng ý tiếp tục cho Fofana ra đi theo dạng cho mượn để tích lũy thêm kinh nghiệm. Cầu thủ người Pháp sau đó trở lại quê nhà Pháp để gia nhập Bastia theo hợp đồng cho mượn kéo dài một mùa giải vào ngày 29 tháng 7 năm 2015. Anh có trận ra mắt Ligue 1 trong trận mở màn mùa giải 10 ngày sau đó, vào ngày 8 tháng 8 năm 2015, thi đấu trọn 90 phút trong chiến thắng 2–1 trên sân nhà trước Rennes. Sau đó anh ghi bàn thắng đầu tiên vào ngày 12 tháng 12 năm 2015, trong trận hòa 1–1 trước Troyes, rồi kiến tạo trong trận tiếp theo vào ngày 19 tháng 12 năm 2015, trong chiến thắng 2–0 trước Reims. Trong chiến thắng 1–0 trước Montpellier vào ngày 16 tháng 1 năm 2016, Fofana nhận thẻ đỏ trực tiếp ở phút 65. Sau trận đấu, anh bị cấm thi đấu bốn trận và chính Fofana đã xin lỗi vì hành động của mình. Tổng cộng, anh có 32 lần ra sân và ghi một bàn cho Bastia.
Udinese
Sau ba năm tại Manchester City, Fofana gia nhập đội bóng Udinese tại Serie A, ký hợp đồng năm năm trị giá 2,5 triệu bảng. Ngoài ra, thương vụ còn bao gồm khoản thưởng có thể đạt 2 triệu euro và Bastia nhận 15% tổng khoản bồi thường, tối đa 700.000 euro. Fofana có trận ra mắt Udinese trong trận mở màn mùa giải, thi đấu 79 phút trước khi bị thay ra trong thất bại 4–0 trước Roma.
Lens
Ngày 18 tháng 8 năm 2020, Fofana ký hợp đồng bốn năm với câu lạc bộ Lens tại Ligue 1. Anh ghi bàn thắng đầu tiên vào ngày 21 tháng 2 năm 2021 trước Dijon. Sau một chuỗi màn trình diễn tốt, anh được trao giải Cầu thủ xuất sắc nhất tháng của Ligue 1 tháng 9 năm 2021. Tháng 5 năm 2022, Fofana giành Prix Marc-Vivien Foé với tư cách cầu thủ châu Phi xuất sắc nhất tại hạng đấu cao nhất của Pháp trong mùa giải 2021–22, sau một mùa giải mà anh ghi tám bàn trong 37 lần ra sân. Ngày 31 tháng 8 năm 2022, anh ký gia hạn hợp đồng với câu lạc bộ đến năm 2025.
Al-Nassr
Ngày 18 tháng 7 năm 2023, Fofana gia nhập câu lạc bộ Al Nassr tại Saudi Pro League theo hợp đồng ba năm, với mức phí được cho là 25 triệu euro.
Al-Ettifaq (mượn)
Ngày 30 tháng 1 năm 2024, Fofana gia nhập một đội bóng Ả Rập Xê Út khác là Al-Ettifaq theo hợp đồng cho mượn sáu tháng. Ngày 17 tháng 8 năm 2024, Fofana tái gia nhập Al-Ettifaq theo hợp đồng cho mượn một năm.
Rennes
Ngày 1 tháng 1 năm 2025, Fofana trở lại Ligue 1 và gia nhập Rennes theo hợp đồng bốn năm rưỡi. Thương vụ được hoàn tất với mức phí 20 triệu euro, giúp anh trở thành cầu thủ được bán đắt nhất trong lịch sử Saudi Pro League.
Porto (mượn)
Ngày 2 tháng 2 năm 2026, Fofana được cho câu lạc bộ Porto tại Primeira Liga mượn đến hết mùa giải 2025–26.
Sự nghiệp quốc tế
Fofana đủ điều kiện thi đấu cho Pháp và Bờ Biển Ngà, vì cha mẹ anh đến từ quốc gia này. Fofana trước đó từng đại diện cho U-16 Pháp, U-17 Pháp, U-18 Pháp và U-19 Pháp. Ngày 3 tháng 4 năm 2017, Fofana chọn đại diện cho Bờ Biển Ngà, quê hương của cha mẹ anh.
Fofana có trận ra mắt Bờ Biển Ngà trong thất bại 2–0 trước Maroc tại Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 vào ngày 11 tháng 11 năm 2017.
Vào tháng 12 năm 2023, Fofana có tên trong đội hình Bờ Biển Ngà tham dự Cúp bóng đá châu Phi 2023. Anh ghi bàn mở màn giải đấu ở phút thứ tư trong chiến thắng 2–0 của Bờ Biển Ngà trước Guinée-Bissau vào ngày 13 tháng 1 năm 2024.
Fofana có tên trong danh sách cầu thủ Bờ Biển Ngà được huấn luyện viên Emerse Faé lựa chọn tham dự Cúp bóng đá châu Phi 2025.
Ngày 15 tháng 5 năm 2026, Fofana được huấn luyện viên Bờ Biển Ngà Emerse Faé đưa vào danh sách 26 cầu thủ tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2026.
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
- Tính đến trận đấu diễn ra ngày 10 tháng 5 năm 2026
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải vô địch quốc gia | Cúp quốc gia | Châu lục | Khác | Tổng cộng | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | ||
| Fulham (mượn) | 2014–15 | Championship | 21 | 1 | 4 | 0 | — | — | 25 | 1 | ||
| Bastia (mượn) | 2015–16 | Ligue 1 | 32 | 1 | 1 | 0 | — | — | 33 | 1 | ||
| Udinese | 2016–17 | Serie A | 22 | 5 | 1 | 0 | — | — | 23 | 5 | ||
| 2017–18 | 27 | 3 | 2 | 0 | — | — | 29 | 3 | ||||
| 2018–19 | 31 | 2 | 1 | 0 | — | — | 32 | 2 | ||||
| 2019–20 | 32 | 3 | 3 | 0 | — | — | 35 | 3 | ||||
| Tổng cộng | 112 | 13 | 7 | 0 | — | — | 177 | 15 | ||||
| Lens | 2020–21 | Ligue 1 | 30 | 2 | 2 | 0 | — | — | 32 | 2 | ||
| 2021–22 | 38 | 8 | 3 | 2 | — | — | 41 | 10 | ||||
| 2022–23 | 35 | 7 | 4 | 2 | — | — | 39 | 9 | ||||
| Tổng cộng | 103 | 17 | 9 | 4 | — | — | 112 | 21 | ||||
| Al-Nassr | 2023–24 | Saudi Pro League | 14 | 0 | 3 | 2 | 2 | 0 | 6 | 1 | 25 | 3 |
| Al-Ettifaq (mượn) | 2023–24 | Saudi Pro League | 14 | 2 | — | — | — | 14 | 2 | |||
| 2024–25 | 13 | 0 | 2 | 0 | — | 4 | 1 | 19 | 1 | |||
| Tổng cộng | 27 | 2 | 2 | 0 | — | 4 | 1 | 33 | 3 | |||
| Rennes | 2024–25 | Ligue 1 | 16 | 1 | 1 | 0 | — | — | 17 | 1 | ||
| 2025–26 | 12 | 1 | 0 | 0 | — | — | 12 | 1 | ||||
| Tổng cộng | 28 | 2 | 1 | 0 | — | — | 29 | 2 | ||||
| Porto (mượn) | 2025–26 | Primeira Liga | 12 | 3 | 2 | 0 | 4 | 0 | — | 18 | 3 | |
| Tổng cộng sự nghiệp | 349 | 39 | 29 | 5 | 6 | 0 | 10 | 2 | 394 | 47 | ||
- ^ Bao gồm Cúp FA, Coupe de France, Coppa Italia, King's Cup, Taça de Portugal
- ^ Số lần ra sân tại AFC Champions League
- ^ Số lần ra sân tại Cúp các câu lạc bộ Ả Rập
- ^ Số lần ra sân tại AGCFF Gulf Club Champions League
- ^ Số lần ra sân tại UEFA Europa League
Quốc tế
- Tính đến trận đấu diễn ra ngày 28 tháng 3 năm 2026
| Đội tuyển quốc gia | Năm | Số trận | Bàn thắng |
|---|---|---|---|
| Bờ Biển Ngà | 2017 | 1 | 0 |
| 2019 | 5 | 1 | |
| 2022 | 2 | 2 | |
| 2023 | 4 | 2 | |
| 2024 | 13 | 2 | |
| 2025 | 4 | 0 | |
| 2026 | 3 | 0 | |
| Tổng cộng | 32 | 7 | |
- Tỉ số và kết quả liệt kê số bàn thắng của Bờ Biển Ngà trước, cột tỉ số biểu thị tỉ số sau mỗi bàn thắng của Fofana.
| Số | Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Tỉ số | Kết quả | Giải đấu | Chú thích |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 10 tháng 9 năm 2019 | Stade Robert Diochon, Rouen, Pháp | 2–0 | 2–1 | Giao hữu | ||
| 2 | 24 tháng 9 năm 2022 | 1–0 | 2–1 | ||||
| 3 | 27 tháng 9 năm 2022 | Stade de la Licorne, Amiens, Pháp | 3–0 | 3–1 | |||
| 4 | 17 tháng 11 năm 2023 | Sân vận động Alassane Ouattara, Abidjan, Bờ Biển Ngà | 5–0 | 9–0 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2026 | ||
| 5 | 20 tháng 11 năm 2023 | Sân vận động Quốc gia, Dar es Salaam, Tanzania | 2–0 | 2–0 | |||
| 6 | 13 tháng 1 năm 2024 | Sân vận động Alassane Ouattara, Abidjan, Bờ Biển Ngà | 1–0 | 2–0 | Cúp bóng đá châu Phi 2023 | ||
| 7 | 7 tháng 6 năm 2024 | Sân vận động Amadou Gon Coulibaly, Korhogo, Bờ Biển Ngà | 1–0 | 1–0 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2026 |
Danh hiệu
Al-Nassr
Porto
Bờ Biển Ngà
Cá nhân
- Prix Marc-Vivien Foé: 2021–22
- Đội hình tiêu biểu năm Ligue 1 của UNFP: 2021–22, 2022–23
- Cầu thủ xuất sắc nhất tháng Ligue 1 của UNFP: tháng 9 năm 2021
Tham khảo
Liên kết ngoài
- Seko Fofana tại Liên đoàn bóng đá Pháp (bằng tiếng Pháp)
- Seko Fofana tại Liên đoàn bóng đá Pháp (lưu trữ) (bằng tiếng Pháp)
- Seko Fofana – Thành tích thi đấu tại UEFA