Diego Duarte
Số áo #23Midfielder
Luxembourg
Câu lạc bộ hiện tại
Metz
Clubhouse
Thông tin chi tiết (Wikipedia)
| Tên đầy đủ | Football Club de Metz | |||
|---|---|---|---|---|
| Biệt danh | Les Grenats (Ngọc hồng lựu) Les Graoullys (Rồng Graoully) | |||
| Thành lập | 23 tháng 3 năm 1932 | |||
| Sân | Sân vận động Saint-Symphorien | |||
| Sức chứa | 25.636 | |||
| Chủ sở hữu | Bernard Serin | |||
| Chủ tịch | Bernard Serin | |||
| Huấn luyện viên trưởng | Luc Holtz | |||
| Giải đấu | Ligue 2 | |||
| 2025–26 | Ligue 1, thứ 18 trên 18 (xuống hạng) | |||
| Website | http://www.fcmetz.com/ | |||
|
| ||||
Football Club de Metz, thường được gọi là FC Metz hoặc đơn giản chỉ là Metz (phát âm tiếng Pháp: [mɛs]), là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp của Pháp thành lập vào năm 1932 ở Metz, Lorraine. Sân nhà của đội là sân vận động Saint-Symphorien. Đội hiện tại đang thi đấu ở Ligue 2.
Lịch sử
FC Metz được thành lập vào năm 1932 bởi sự sáp nhập của hai câu lạc bộ thể thao nghiệp dư, và ngay sau đó trở thành một trong những đội bóng chuyên nghiệp lâu đời nhất ở Pháp. Nguồn gốc của đội bắt nguồn từ câu lạc bộ SpVgg Metz, được thành lập vào năm 1905 khi thành phố Metz là một phần của Đế quốc Đức. SpVgg Metz đã chơi ở giải hạng nhất Westkreis-Liga trong mùa giải 1913–14, trước khi Thế chiến thứ nhất bùng nổ và giải đấu phải tạm dừng. Một số cầu thủ của câu lạc bộ này là một phần của Cercle Athlétique Messin năm 1919, sau đó là FC Metz vào năm 1932. Đội là một trong những câu lạc bộ thành công nhất giải Division d'Honneur - Lorraine khi vô địch 8 lần vào các năm 1920, 1921, 1922, 1924, 1926, 1927, 1929 và 1931.
Câu lạc bộ chơi ở giải hạng hai phía bắc nước Pháp từ năm 1933, vô địch giải đấu vào năm 1935 và lần đầu tiên thăng hạng lên Ligue 1. Đội bóng này đã thường xuyên đứng giữa bảng ở giải hạng nhất cho đến khi chiến tranh bùng nổ làm gián đoạn giải đấu một lần nữa. FCM đã không tham gia các giải đấu cấp khu vực từ mùa 1939–40.
Trong Thế chiến thứ 2, khu vực Moselle bị sáp nhập bởi Đức, câu lạc bộ phải chơi bằng cái tên là FV Metz ở giải Gauliga Westmark. Từ năm 1941 đến năm 1944, câu lạc bộ luôn cán đích ở vị trí thứ nhì.
Mặc dù thành phố Metz bị quân đồng minh chiếm đóng vào mùa thu năm 1944, câu lạc bộ đã không tham gia giải VĐQG Pháp vào năm 1944–45 mà trở lại Ligue 1 vào năm 1945–46, đứng thứ 17 trên 18 câu lạc bộ. Việc mở rộng giải đấu lên 20 câu lạc bộ có nghĩa là đội tránh xuống hạng và thi đấu ở giải đấu cao nhất cho đến năm 1950, khi họ cán đích ở vị trí cuối cùng. Tuy vậy, Metz được ở lại Ligue 1 như một đặc ân do tình hình thảm khốc sau chiến tranh: sân vận động bị hư hại, gần như không thể sửa chữa khiến đội phải bắt đầu lại từ đầu.
Câu lạc bộ đã trở lại hạng đấu cao nhất bằng việc đứng thứ nhì tại Ligue 2 sau Lyon. FC Metz tiếp tục cán đích ở vị trí thứ 5 trong mùa giải đầu tiên. Sau đó, câu lạc bộ một lần nữa phải đua trụ hạng qua từng mùa giải, để rồi đứng thứ 19 vào năm 1958 và phải trở lại Ligue 2. Họ mất thêm 3 năm ở giải đấu đó thì có thể trở lại Ligue 1 vào năm 1961, nhưng chỉ kéo dài đúng một năm. FC Metz đã trải qua năm mùa giải tiếp theo ở giải hạng hai.
FC Metz lên hạng nhất của bóng đá Pháp một lần nữa vào năm 1967; đội thi đấu ở đó cho đến khi bị xuống hạng vào năm 2001, mặc dù họ đã trở lại ngay lập tức và trở lại Ligue 1 vào mùa tiếp theo.
Sau khi thua trận lượt đi tại Cúp C1 châu Âu 1984–85 với tỷ số 4–2 trước Barcelona tại Sân vận động Saint-Symphorien, nhiều người nghĩ rằng họ sẽ bị vùi dập tại Camp Nou. Tuy nhiên, cú hat-trick của tiền đạo Tony Kurbos người Nam Tư giúp họ có được chiến thắng 4–1 trong trận lượt về để tiến vào vòng trong với tổng tỉ số 6–5.
Năm 1998, đội tranh suất tham dự UEFA Champions League, nhưng để thua ở vòng ba trước đại diện của Phần Lan là HJK Helsinki. Năm 2006, FC Metz xuống hạng ở vị trí cuối bảng, dù có sự hiện diện của một gương mặt vô cùng triển vọng, Miralem Pjanić, người sau này chuyển đến Lyon với mức phí 7,5 triệu euro.
Mùa giải 2011–12, Metz đứng thứ 18 tại Ligue 2 và buộc phải xuống hạng sau trận hòa 1-1 trên sân nhà vào ngày 20 tháng 5 năm 2012 trước Tours. Tuy nhiên, ngày 31 tháng 8 năm 2012 (giờ địa phương), họ bị đánh xuống Championnat National, hạng 3 của hệ thống bóng đá Pháp vì không đảm bảo được tài chính. Tuy nhiên, Metz đã xây dựng lại với cựu cầu thủ nổi tiếng Albert Cartier làm huấn luyện viên nên họ chỉ phải trải qua 1 mùa giải tại giải đấu này để trở lại Ligue 2, rồi ngay lập tức về nhất và giành quyền thăng hạng lên Ligue 1. Thật không may, đội bóng lại tiếp tục xuống Ligue 2, nhưng đã giành được quyền thăng hạng trong mùa giải tiếp theo.
Lần này, Metz đã kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 14, ở lại thêm một mùa giải nữa ở Ligue 1. Trong mùa giải 2017–18, Metz đã trải qua một chuỗi trận tệ hại, thua 11 trong số 12 trận đầu tiên. Câu lạc bộ có sự tiến triển nhưng không tránh khỏi suất xuống hạng và phải trở lại Ligue 2.
Ngày 26 tháng 4 năm 2019, Metz trở lại Ligue 1 với vị trí đầu bảng tại Ligue 2 sau chiến thắng 2-1 trước Red Star. Trong mùa giải đầu tiên của câu lạc bộ tại giải đấu hàng đầu nước Pháp, Metz đứng ở vị trí thứ 15 trên bảng xếp hạng. Ngay mùa giải sau đó, họ có sự thăng tiến mạnh mẽ khi kết thúc giải ở vị trí thứ 10 chung cuộc. Tuy nhiên, ở mùa giải 2021-22, đội thi đấu không tốt và kết thúc giải ở vị trí thứ 19, buộc phải quay trở lại Ligue 2. Câu lạc bộ thăng hạng lên Ligue 1 với tư cách là đội á quân của Ligue 2 mùa giải 2022-23.
Vào ngày 29 tháng 5 năm 2023, tại một giải bóng đá trẻ, đã xảy ra xô xát giữa các cầu thủ trẻ của FC Metz và JFC Berlin trên sân SV Viktoria Preußen e.V. ở quận Eckenheim của Frankfurt am Main, trong đó, một cầu thủ 15 tuổi của JFC Berlin đã qua đời.
Vào ngày 12 tháng 6 năm 2023, LFP quyết định rằng FC Metz giành quyền thăng hạng lên Ligue 1 mùa giải 2023–24 sau khi trận đấu giữa Bordeaux với Rodez đã bị huỷ.
Thành tích ở Cúp Châu Âu
Danh hiệu
- Hạng hai (1): 1997–98
- Á quân (1): 1999
Cầu thủ
Đội hình hiện tại
- Tính đến 25 tháng 9 năm 2026
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Cho mượn
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Những cầu thủ nổi tiếng
Dưới đây là những cựu cầu thủ nổi tiếng đã từng thi đấu cho Metz ở giải quốc nội và thi đấu quốc tế kể từ khi câu lạc bộ thành lập vào năm 1932. Để xuất hiện trong phần bên dưới, một cầu thủ phải chơi ít nhất một mùa giải trọn vẹn cho câu lạc bộ.
Emmanuel Adebayor
Wilmer Aguirre
Sébastien Bassong
Patrick Battiston
Eric Black
Jocelyn Blanchard
Danny Boffin
Nico Braun
Albert Cartier
Papiss Cissé
Hugo Curioni
Mathieu Dossevi
Michel Ettore
Philippe Gaillot
Daniel Gygax
Philippe Hinschberger
Szabolcs Huszti
Božo Janković
Ahn Jung-hwan
Henryk Kasperczak
Sylvain Kastendeuch
Eiji Kawashima
Kalidou Koulibaly
Lionel Letizi
Florent Malouda
Sadio Mané
Frédéric Meyrieu
Faryd Mondragón
Tressor Moreno
Marcel Muller
Ludovic Obraniak
Oguchi Onyewu
Michele Padovano
Pascal Pierre
Robert Pires
Miralem Pjanić
Grégory Proment
André Rey
Franck Ribéry
Jean-Philippe Rohr
Louis Saha
Franck Signorino
Rigobert Song
Jacques Songo'o
Luc Sonor
Jeff Strasser
Marian Szeja
Sylvain Wiltord
Bernard Zénier
Georges Mikautadze
Ban lãnh đạo
| Chức vụ | Tên |
|---|---|
| Huấn luyện viên trưởng | Luc Holtz |
| Trợ lý HLV | Hugues Prévost |
| HLV thủ môn | Christophe Marichez |
| HLV thể lực | Gauthier Netgen |
| Bác sĩ | Jules Gardenault Claude Chandelle |
Các đời huấn luyện viên
- Willibald Stejskal (1932–33)
- Ted Maghner (1937–38)
- George Kimpton (1938)
- Paul Thomas (1938–39)
- Peter Fabian (1940–41)
- Charles Fosset (1944–45)
- Bep Bakhuys (1945–46)
- François Odry (1946)
- Ted Maghner (1946–47)
- Nicolas Hibst (1947)
- Charles Fosset (1947–49)
- Oscar Saggiero (1949–50)
- Ignace Kowalczyk (1950)
- Emile Veinante (1950–51)
- Elie Rous (1951–52)
- Emile Rummelhardt (1952–55)
- André Watrin (1955)
- Jacques Favre (1955–58)
- Marcel Tomazover (1958)
- Désiré Koranyi (1958–59)
- Robert Lacoste (1959)
- Jules Nagy (1959–63)
- Jacques Favre (1963–66)
- Max Schirschin (1966–67)
- Max Schirschin và René Fuchs (1967–68)
- Pierre Flamion (1968–70)
- René Fuchs (1970–71)
- Jacques Favre và Georges Zvunka (1971–72)
- René Vernier (1972–75)
- Georges Huart (1975–78)
- Marc Rastoll (1978–79)
- Marc Rastoll và Jean Snella (1979–80)
- Henryk Kasperczak (1980–84)
- Marcel Husson (1984–89)
- Henri Depireux (1989)
- Joël Muller (Tháng 12 năm 1989–Tháng 12 năm 2000)
- Albert Cartier (Tháng 12 năm 2000-Tháng 1 năm 2002)
- Francis De Taddeo (Tháng 1 năm 2002)
- Gilbert Gress (2002)
- Jean Fernandez (2002–05)
- Joël Muller (2005–06)
- Francis De Taddeo (2006–07)
- Yvon Pouliquen (2007–10)
- Joël Muller (2010)
- Dominique Bijotat (2010–12)
- Albert Cartier (2012–15)
- José Riga (2015)
- Philippe Hinschberger (2015–17)
- Frederic Hantz (2017–18)
- Frédéric Antonetti (2018–19)
- Vincent Hognon (2019–2020)
- Frédéric Antonetti (2020-2022)
- László Bölöni (2022-2024)
- Stéphane Le Mignan (2024-2026)
- Benoît Tavenot (2026)
- Luc Holtz (2026–)
Tham khảo
Liên kết ngoài
- Website chính thức
(bằng tiếng Pháp)
Thống kê chỉ số