Quay lại
Fabrice Hartmann

Fabrice Hartmann

Số áo #11

Midfielder

Quốc tịch Flag Germany
Tuổi 25
Chiều cao 5' 10"
Cân nặng 150 lbs

Câu lạc bộ hiện tại

Logo

Hallescher FC

Clubhouse

Thông tin chi tiết (Wikipedia)

Việt Nam, với đường bờ biển dài, vùng nội địa nhiều dãy núi hiểm trở cùng hai vùng đồng bằng châu thổ lớn, đã trở thành cái nôi của nhiều nền văn hóa xuyên suốt chiều dài lịch sử. Vị trí địa chiến lược tại khu vực Đông Nam Á cũng biến nơi đây thành ngã tư giao thương và tâm điểm của các cuộc xung đột, góp phần tạo nên một quá khứ đầy biến động và phức tạp. Trong thời kỳ Đồ đá cũ, những nhóm thợ săn–hái lượm Cổ Đông Á đầu tiên đã đặt chân đến đây ít nhất 40.000 năm trước. Kể từ thời kỳ Đồ đá mới, các cộng đồng ngữ hệ Nam Á, cũng như Nam Đảo, H'Mông–Miền, Kra–Dai và Hán–Tạng sinh sống trên khắp Đông Nam Á và miền Nam Trung Quốc đã đóng góp vào sự phát triển nông nghiệp cũng như diện mạo dân tộc–ngôn ngữ của Việt Nam. Vào thiên niên kỷ thứ 1 TCN, nền Văn hóa Đông Sơn ra đời dựa trên nền tảng thâm canh lúa nước, tập trung quanh các bộ tộc bản địa thời kỳ Văn Lang và Âu Lạc.

Sau cuộc chiến tranh xâm lược Nam Việt của nhà Hán vào năm 111 TCN, phần lớn lãnh thổ Việt Nam đã rơi vào ách đô hộ của phong kiến phương Bắc kéo dài nghìn năm. Dù vậy, thời kỳ này vẫn chứng kiến hàng loạt cuộc khởi nghĩa quật khởi và các vương quốc bản địa thỉnh thoảng vẫn giành được độc lập trên thực tế (de facto). Phật giáo và Ấn Độ giáo du nhập vào thế kỷ thứ 2 SCN, đưa Việt Nam trở thành nơi đầu tiên tiếp nhận giao thoa ảnh hưởng của cả hai nền văn hóa Trung Hoa và văn hóa Ấn Độ.

Nền độc lập dân tộc được khôi phục khi Nhà Ngô được thành lập vào năm 939, mở ra một thiên niên kỷ tiếp nối của các triều đại phong kiến bản xứ: Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, Mạc, Lê Trung hưng, Tây Sơn, và sau cùng là Nguyễn. Trong kỷ nguyên này, Việt Nam từng có những giai đoạn bị chia cắt bởi nội chiến, điển hình nhất là cuộc Trịnh – Nguyễn phân tranh vào thế kỷ 17 và 18, đồng thời liên tục phải đối đầu với các cuộc xâm lược từ bên ngoài của nhà Tống, Nguyên, Chăm Pa, Minh, Xiêm, Thanh và cuối cùng là thực dân Pháp. Ở chiều ngược lại, công cuộc Nam tiến mở mang bờ cõi của người Việt đã từng bước tiến vào vùng Đồng bằng sông Cửu Long cùng các khu vực thuộc Campuchia ngày nay từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18.

Lợi dụng việc viện trợ quân sự cho dòng dõi nhà Nguyễn đang trỗi dậy, lấy cớ bảo vệ quyền tự do tôn giáo và quyền thương mại, nước Pháp đã tiến hành xâm chiếm Việt Nam, chia cắt lãnh thổ thành ba kỳ riêng biệt và sáp nhập vào Liên bang Đông Dương năm 1887. Chiến tranh thế giới thứ hai đã dẫn đến 5 năm chiếm đóng của Đế quốc Nhật Bản. Năm 1945, nền cộng hòa được tuyên bố thành lập, nhưng ngay sau đó một cuộc xung đột ba bên đã bùng nổ giữa phe cộng sản, các lực lượng chống cộng và thực dân Pháp. Năm 1949, Việt Nam trên danh nghĩa được thống nhất như một quốc gia bán tự trị thành viên của Khối Liên hiệp Pháp. Trên thực tế, phong trào kháng chiến do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã thiết lập một chính thể đối lập kiểm soát phần lớn lãnh thổ đất nước. Sau thất bại của quân Pháp, đất nước bị chia cắt thành hai miền vào tháng 7 năm 1954. Là một phần của Chiến tranh Lạnh, một cuộc chiến quy mô lớn nhanh chóng bùng nổ giữa miền Bắc do Liên Xô cùng Trung Quốc hậu thuẫn và miền Nam được Hoa Kỳ yểm trợ. Cuộc chiến khép lại với sự sụp đổ của chính quyền miền Nam năm 1975 và việc thống nhất đất nước dưới sự lãnh đạo của chính quyền xã hội chủ nghĩa vào năm 1976. Việt Nam sau đó phải trải qua cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc với Trung Quốc năm 1979 và cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam tại Campuchia từ năm 1978 đến năm 1989, đi cùng một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, là tiền đề dẫn tới công cuộc Đổi Mới vào cuối năm 1986. Việt Nam sau đó đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Trung Quốc vào năm 1991 và với Hoa Kỳ vào năm 1995.

Thời tiền sử

Bối cảnh nhân khẩu - dân tộc hiện đại

Tuyến đường di cư thời đồ đá mới được đề xuất vào Đông Nam Á, với các nhóm dân tộc Nam Đảo di chuyển từ hướng biển và các nhóm dân tộc Nam Á tiến từ vùng nội địa Mê Kông, ước tính diễn ra vào khoảng thiên niên kỷ thứ 3 TCN.
Bản đồ ngôn ngữ - tộc người Đông Dương, năm 1970

Bức tranh nhân khẩu học hiện đại của Việt Nam bao gồm 54 dân tộc anh em thuộc 5 ngữ hệ chính: Nam Đảo, Nam Á, H'Mông–Miền, Kra–Dai và Hán–Tạng. Trong số 54 nhóm dân tộc, chiếm đa số là người Kinh (sử dụng ngôn ngữ nhánh Việt), chiếm tới 85,32% tổng dân số theo kết quả Tổng điều tra dân số năm 2019. Bộ phận còn lại bao gồm 53 dân tộc thiểu số khác. Bức tranh đa sắc tộc của Việt Nam là kết quả của quá trình định cư liên tục, nơi nhiều dòng dân cư khác nhau đã di cư và định hình trên dải đất này qua nhiều giai đoạn nối tiếp nhau, trải qua hàng vạn năm lịch sử. Toàn bộ lịch sử Việt Nam, vì lẽ đó, là một sự đan dệt phong phú của tính chất đa dân tộc.

Giai đoạn Tiền Đồ đá mới

Các dấu tích định cư sớm nhất của người hiện đại về mặt giải phẫu tại vùng Đông Nam Á lục địa có niên đại từ 65.000 đến 10.500 năm trước, trong kỷ Pleistocen muộn. Những cộng đồng săn bắt–hái lượm tiên phong có thể kể đến là cư dân văn hóa Hòa Bình, một nhóm cư dân lớn đã dần định cư rải rác trên khắp vùng Đông Nam Á. Là một phần của làn sóng di cư thời Đồ đá cũ thượng sơ kỳ, cư dân Hòa Bình cùng với Người Điền Viên là những đại diện ban đầu của dòng dõi Cổ Đông và Đông Nam Á (ESEA), có quan hệ di truyền sâu xa với các quần thể dân cư Đông Á và Đông Nam Á ngày nay. Tuyến di cư theo nhánh phía nam này gắn liền với các nhánh phụ của các nhóm đơn bội nhiễm sắc thể Y tiêu biểu như C2, D1, N và O.

Cả quần thể cổ đại lẫn hiện đại liên hệ với khu vực Đông Á đều có thể được mô hình hóa với nguồn gốc chủ yếu kế thừa từ dòng dõi liên quan đến người Hòa Bình hoặc người Önge (khoảng 76–79%), và một phần nhỏ hơn từ dòng dõi liên quan đến người Điền Viên (khoảng 21–24%). Bản thân cá thể người Điền Viên lại được mô hình hóa bắt nguồn chủ yếu từ dòng dõi liên quan đến người Önge (khoảng 61%) kết hợp với một nhánh Đông Á rẽ nhánh sâu hơn (khoảng 39%) có họ hàng xa với các di cốt tìm thấy tại Hang Bacho Kiro.

Một phân tích trên các mẫu di cốt tại di chỉ Cồn Cổ Ngựa ở Thanh Hóa (Việt Nam) có niên đại khoảng 6.200 năm trước, khi đối chiếu trong phạm vi các nhóm dân cư Việt Nam, cho thấy khoảng cách di truyền gần nhất với cư dân Mái Đá Điều, kế tiếp là các quần thể người Việt hiện đại. Dựa trên các phân tích nhân trắc hộp sọ và hình thái răng, các cá thể tại Cồn Cổ Ngựa có kiểu hình tương đồng với các nhóm cư dân Đông Nam Á kỷ Pleistocen muộn cũng như người Melanesia và Thổ dân Úc ngày nay.

Thời kỳ Đồ đá mới

Thời kỳ Đồ đá mới tại Việt Nam
Bình gốm Sa Huỳnh, khoảng 500 TCN
Nồi nấu thuộc văn hóa Phùng Nguyên, khoảng 2.000–1.500 TCN
Lưỡi câu đồng thuộc văn hóa Gò Mun, khoảng 1.100–800 TCN
Vòng cổ mã não tại di chỉ Giồng Cá Vồ, khoảng 500 TCN

Sau khi nhánh dân cư Đông Á hình thành từ các dòng dõi liên quan đến người Hòa Bình hoặc người Önge và người Điền Viên, dòng tộc này tiếp tục phân hóa thành nhiều nhánh phụ, bao gồm dòng dõi Cổ Nam Đông Á. Trong thời kỳ Đồ đá mới, các quần thể mang yếu tố di truyền Cổ Nam Đông Á có đặc trưng bành trướng rộng khắp từ các khu vực lân cận ở miền nam Trung Quốc sang Đông Nam Á. Những xã hội nông nghiệp sớm nhất trồng kê và lúa nước xuất hiện vào khoảng năm 1700 TCN tại các vùng đồng bằng trũng và bãi bồi ven sông ở Việt Nam đều gắn liền với làn sóng di cư thời Đồ đá mới này.

Bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ 3 TCN, nền nông nghiệp canh tác lúa nước đã lan tỏa từ vùng nam Đông Á sang vùng Đông Nam Á lục địa và hải đảo. Sự khuếch tán kỹ thuật này có liên hệ mật thiết với làn sóng di cư của những cư dân nông nghiệp thời Đồ đá mới mang nguồn gen Cổ Nam Đông Á. Những nông dân thời kỳ này đã di chuyển theo hai tuyến: tuyến nội địa tiến vào Đông Nam Á lục địa do các cộng đồng nói tiếng Nam Á dẫn đầu, và tuyến đường biển bắt nguồn từ Đài Loan do các cộng đồng nói tiếng Nam Đảo thực hiện.

Vào năm 2018, các nhà nghiên cứu đã tiến hành phân tích di truyền trên các mẫu vật thu thập từ hai di chỉ mai táng cổ ở miền Bắc Việt Nam là Mán Bạc và Núi Nấp, có niên đại lần lượt vào khoảng năm 1.800 TCN và 100 TCN. Các cá thể tại Mán Bạc thể hiện sự hòa huyết giữa dòng dõi nông dân Đông Á và người săn bắt–hái lượm Cổ Đông Á, có mối liên hệ di truyền gần gũi với các nhóm nói ngôn ngữ Nam Á hiện đại như người Mlabri, người Nicobar và người Campuchia, trong khi các mẫu vật tại Núi Nấp lại thể hiện sự tương đồng gần với người Việt và người Đới ngày nay. Một nghiên cứu năm 2018 của George van Driem cùng các cộng sự đã chỉ ra rằng những người nông dân Đông Á này đã hòa nhập và lai giống với cư dân bản địa, trái ngược với giả thuyết phổ biến trước đó cho rằng họ đã thay thế hoàn toàn cư dân cũ. Những người nông dân này cũng chia sẻ chung nguồn gốc tổ tiên với chính các bộ tộc miền núi nói ngữ hệ Nam Á ngày nay.

Người Chăm, cộng đồng cư dân đã định cư và phát triển nền văn minh rực rỡ tại dải đất duyên hải miền Trung và miền Nam Việt Nam suốt hơn một thiên niên kỷ từ khoảng thế kỷ thứ 2 SCN, có nguồn gốc từ ngữ hệ Nam Đảo. Trong khi đó, dải đất cực nam của Việt Nam gồm vùng đồng bằng sông Cửu Long và các khu vực phụ cận, cho tới tận thế kỷ 18, từng giữ vai trò không thể tách rời và chuyển giao liên tục giữa các tiểu quốc của các cộng đồng tiền Khmer và người Khmer thuộc ngữ hệ Nam Á như Phù Nam, Chân Lạp, Đế quốc Khmer và các vương quốc Khmer sau này.

Phương thức sinh hoạt

Nằm ở rìa đông nam của khu vực châu Á gió mùa, phần lớn lãnh thổ Việt Nam cổ đại được hưởng lượng mưa dồi dào, độ ẩm và nền nhiệt cao, gió mùa thuận lợi cùng thổ nhưỡng phù sa màu mỡ. Những điều kiện tự nhiên này kết hợp tạo nên sự sinh trưởng trù phú khác thường của lúa nước, các loài thực vật và đời sống hoang dã. Các làng mạc nông nghiệp trong vùng là nơi sinh sống của hơn 90% dân số. Lượng nước lớn trong mùa mưa đòi hỏi dân làng phải tập trung sức lao động để trị thủy, cấy lúa và thu hoạch. Những hoạt động mang tính tập thể này đã tạo nên một nếp sống làng xã gắn kết chặt chẽ với tín ngưỡng lấy ước vọng sống hòa hợp với thiên nhiên và con người làm một trong những giá trị cốt lõi. Lối sống trọng sự hòa hợp này mang nhiều nét đặc trưng được người dân yêu chuộng, tiêu biểu như việc không quá nặng nề về tích lũy của cải vật chất, yêu chuộng ca múa thơ ca và chan hòa với thiên nhiên.

Nghề đánh cá và săn bắn đóng vai trò bổ trợ cho vụ mùa lúa nước chính. Các mũi tên và đầu ngọn giáo được tẩm thuốc độc nhằm săn hạ những loài thú lớn như voi. Tục ăn trầu rất phổ biến và các tầng lớp bình dân thường chỉ mặc trang phục đơn giản như đóng khố. Mỗi độ xuân về, các lễ hội phồn thực thường được tổ chức với những bữa tiệc linh đình và các nghi thức giao hòa mang tính phóng khoáng.

Thời kỳ Đồ đồng

Thung lũng Sông Hồng hình thành nên một thực thể địa lý và kinh tế tự nhiên, được bao bọc ở phía bắc và phía tây bởi núi non cùng rừng rậm trùng điệp, phía đông giáp biển và phía nam là Đồng bằng sông Hồng. Nhu cầu về một quyền lực quản lý thống nhất nhằm ngăn chặn lũ lụt sông Hồng, hiệp đồng xây dựng hệ thống thủy lợi, trao đổi buôn bán và đẩy lùi các đợt ngoại xâm đã dẫn tới sự ra đời của những nhà nước sơ khai huyền sử đầu tiên của người Việt vào khoảng năm 2879 TCN. Các nghiên cứu liên tục của giới khảo cổ học chỉ ra rằng văn hóa Đông Sơn của người Việt có nguồn gốc bắt nguồn từ miền Bắc Việt Nam, Quảng Tây và Lào vào khoảng năm 1000 TCN.

Từ khoảng năm 2000 TCN, công cụ cầm tay và vũ khí bằng đá đã có bước phát triển vượt bậc cả về số lượng lẫn chủng loại. Về sau, Việt Nam trở thành một phần của Con đường ngọc bích trên biển, tuyến hải trình mậu dịch tồn tại suốt 3.000 năm từ khoảng 2000 TCN đến 1000 SCN. Đồ gốm đạt tới trình độ kỹ thuật và phong cách trang trí cao hơn. Các xã hội nông nghiệp đa ngôn ngữ sơ khai tại Việt Nam chủ yếu là cư dân trồng lúa nước (Oryza), nguồn lương thực chính trong khẩu phần ăn của họ. Vào giai đoạn muộn của nửa đầu thiên niên kỷ thứ 2 TCN, những công cụ bằng đồng đầu tiên đã bắt đầu xuất hiện mặc dù còn khá hiếm hoi. Đến khoảng năm 1000 TCN, đồ đồng đã thay thế đồ đá ở khoảng 40% các loại công cụ có lưỡi và vũ khí, rồi sau đó tăng lên khoảng 60%. Tại giai đoạn này không chỉ xuất hiện vũ khí, rìu đồng và đồ trang sức cá nhân, mà còn có liềm cùng các công cụ nông nghiệp bằng đồng khác. Đến giai đoạn cuối của Thời kỳ Đồ đồng, đồ đồng chiếm hơn 90% các loại công cụ và vũ khí; nhiều ngôi mộ xa hoa là nơi an táng của các thủ lĩnh quyền thế được phát hiện chứa hàng trăm hiện vật đồng phục vụ nghi lễ và cá nhân, chẳng hạn như nhạc khí, muôi múc hình thạp gàu và dao găm trang trí tinh xảo. Sau năm 1000 TCN, cư dân cổ đại ở Việt Nam đã trở thành những nông dân thuần thục khi vừa trồng lúa, vừa chăn nuôi trâu, lợn. Họ đồng thời là những ngư dân lão luyện và những thủy thủ quả cảm, từng cưỡi những chiếc thuyền độc mộc thân dài vượt sóng biển Đông.


Thời kỳ cổ đại (khoảng 500–111 TCN)

Văn hóa Đông Sơn và truyền thuyết thời Hồng Bàng

Văn hóa Đông Sơn (1.000 TCN – 100 SCN)
Bình đồng Đông Sơn, thế kỷ 1 SCN
Mặt trống đồng Đông Sơn, thế kỷ 5–4 TCN
Mũi giáo đồng Đông Sơn, thế kỷ 2 TCN
Đèn đồng hình người quỳ, thế kỷ 3 TCN

Theo một truyền thuyết của người Việt xuất hiện lần đầu trong tác phẩm thế kỷ 14 Lĩnh Nam chích quái, thủ lĩnh bộ lạc Lộc Tục (khoảng 2919 – 2794 TCN) đã xưng hiệu là Kinh Dương Vương và lập nên nhà nước Xích Quỷ vào năm 2879 TCN, đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ Hồng Bàng. Dù vậy, các nhà sử học Việt Nam hiện đại cho rằng hình thái nhà nước sơ khai thực chất mới bắt đầu hình thành tại vùng Đồng bằng sông Hồng vào nửa sau thiên niên kỷ thứ 1 TCN. Kế vị Kinh Dương Vương là Sùng Lãm (khoảng 2825 – 2525 TCN). Triều đại kế tiếp sản sinh ra 18 đời quân vương, thường được gọi là các vị Hùng Vương, những người đã đặt quốc hiệu là Văn Lang và đóng đô tại Phong Châu. Bộ máy hành chính thời kỳ này bao gồm các chức danh như thủ lĩnh quân sự (lạc tướng), quan văn (lạc hầu) và người đứng đầu làng chạ (bố chính).

Một số lượng lớn công cụ và vũ khí bằng kim loại được khai quật tại nhiều di chỉ thuộc văn hóa Phùng Nguyên ở miền bắc bán đảo Đông Dương gắn liền với sự khởi đầu của Thời đại Đồ đồng đỏ tại Đông Nam Á. Bên cạnh đó, thời điểm mở đầu của Thời kỳ Đồ đồng đã được xác thực vào khoảng năm 500 TCN tại Đông Sơn. Giới sử học Việt Nam thường quy thuộc nền Văn hóa Đông Sơn với các nhà nước Văn Lang, Âu Lạc và Hồng Bàng. Cộng đồng cư dân Lạc Việt bản địa đã phát triển một nền kỹ nghệ luyện kim đồng thau chất lượng cao đạt độ tinh xảo vượt bậc, làm chủ việc chế tác công cụ, vũ khí và những chiếc trống đồng tuyệt mỹ. Mang giá trị biểu tượng sâu sắc, những hiện vật này được sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tâm linh hoặc nghi thức cộng đồng. Để tạo ra những tác phẩm này, người thợ thủ công đòi hỏi phải có kỹ thuật nấu chảy kim loại điêu luyện, thuần thục phương pháp đúc bằng khuôn sáp chảy, đồng thời đạt tới bậc thầy về bố cục và chạm khắc các hoa văn tinh xảo.

Truyền thuyết Thánh Gióng kể về một tráng sĩ trẻ tuổi đã lãnh đạo đất nước Văn Lang đánh tan giặc Ân xâm lược từ phương bắc, cứu nguy cho xã tắc rồi bay thẳng về trời. Hình tượng Thánh Gióng khoác áo giáp sắt, cưỡi ngựa sắt và vung gươm sắt phản ánh một xã hội đã đạt tới trình độ luyện kim phát triển; cũng như truyền thuyết về Nỏ thần của An Dương Vương, loại vũ khí có thể bắn ra hàng nghìn mũi tên cùng lúc phản ánh việc cung nỏ đã được ứng dụng rộng rãi trong nghệ thuật quân sự thời bấy giờ. Khoảng 1.000 làng nghề truyền thống ở khu vực Đồng bằng sông Hồng lân cận và xung quanh Hà Nội đã đóng vai trò xương sống cho nền kinh tế và sản xuất thủ công của quốc gia suốt hơn 2.000 năm lịch sử. Vô số cơ sở sản xuất thủ công quy mô hộ gia đình qua hàng thế kỷ đã gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc thông qua việc tạo tác các mặt hàng tinh xảo, xây dựng đền miếu, đồng thời duy trì các nghi lễ và lễ hội trong mạch nguồn văn hóa bất tận tôn vinh những vị tiền nhân hiển linh trong truyền thuyết.

Vương quốc Âu Lạc (257–179 TCN)

Vị trí các bộ tộc Việt cổ tại miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam được ghi chép trong các thư tịch cổ Trung Hoa

Đến thế kỷ thứ 3 TCN, một nhóm người Việt khác là người Âu Việt đã di cư từ vùng đất nay thuộc miền nam Trung Quốc xuống đồng bằng sông Hồng và hòa nhập với cộng đồng cư dân bản địa Văn Lang. Năm 257 TCN, một vương quốc mới mang tên Âu Lạc ra đời trên cơ sở hợp nhất giữa người Âu Việt và người Lạc Việt, Thục Phán tự xưng là "An Dương Vương", rời đô đến Phong Khê. Một số nhà sử học hiện đại cho rằng Thục Phán vốn xuất thân từ địa bàn cư trú của người Âu Việt (vùng đất ngày nay thuộc cực bắc Việt Nam, phía tây Quảng Đông và phía nam tỉnh Quảng Tây, với thủ phủ đặt tại khu vực tỉnh Cao Bằng ngày nay).

Nam Việt (179 TCN–111 TCN)

Nam Việt (204 TCN – 111 TCN), vương quốc cổ đại bao gồm một phần các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam của Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam ngày nay

Vào năm 207 TCN, một cựu tướng lĩnh của nhà Tần là Triệu Đà đã thiết lập một vương quốc độc lập tại khu vực duyên hải miền nam Trung Quốc (tương ứng với Quảng Đông và Quảng Tây ngày nay).Ông đặt quốc hiệu cho vương quốc mới là Nam Việt, mở đầu thời kỳ cai trị của nhà Triệu. Triệu Đà tự phong mình làm quan lệnh xứ trung tâm Quảng Đông, đóng cửa biên giới, tiến đánh các quận phụ cận và xưng hiệu là "Nam Việt Vương". Năm 179 TCN, ông đánh bại An Dương Vương và sáp nhập Âu Lạc vào lãnh thổ của mình. Nhà Triệu cai trị độc lập với Nhà Hán ở phương bắc thời bấy giờ. Thậm chí có giai đoạn, Triệu Đà đã xưng Hoàng đế để khẳng định vị thế ngang hàng với các Hoàng đế nhà Hán.

Giai đoạn lịch sử này nhận được nhiều đánh giá đa chiều từ giới sử học Việt Nam: quan điểm hiện đại coi thời kỳ cai trị của nhà Triệu là điểm khởi đầu của thời kỳ Bắc thuộc do Triệu Đà xuất thân là một viên tướng của nhà Tần đi chinh phạt người Việt; trong khi luồng quan điểm thời phong kiến lại nhận định đây vẫn là một giai đoạn độc lập của Việt Nam vì dòng dõi họ Triệu tại Nam Việt đã tiếp thu một số tập tục văn hóa bản địa.

Thời kỳ Bắc thuộc (111 TCN–938 SCN)

Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất (111 TCN–40 SCN)

Miền Bắc và miền Trung Việt Nam dưới sự cai trị của Trung Hoa trong triều đại Hán Vũ Đế
Hình bên trái: Mô hình nhà chôn theo người chết bằng đất nung thời Hán, miền Bắc Việt Nam, thế kỷ 1–3 SCN
Hình bên phải: Gương đồng Hán–Việt, thế kỷ 2–3 SCN

Vào năm 111 TCN, nhà Hán đã xâm chiếm Nam Việt và thiết lập các đơn vị hành chính mới, chia cắt đất Việt thành các quận: Giao Chỉ (tức khu vực Đồng bằng sông Hồng); Cửu Chân (trải dài từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh); và Nhật Nam (từ Quảng Bình đến Huế). Dù thứ sử, thái thú và các quan lại cấp cao đều là người Hán, tầng lớp quý tộc người Việt bản địa thời Hồng Bàng (Lạc hầu, Lạc tướng) vẫn duy trì quyền cai quản ở một số khu vực miền núi hiểm trở. Trong thời kỳ này, Phật giáo được truyền bá vào Việt Nam từ Ấn Độ thông qua Con đường tơ lụa trên biển, trong khi Đạo giáo và Nho giáo cũng bắt đầu du nhập qua các chính quyền đô hộ phương Bắc.

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40–43)

Vào tháng 2 năm 40 SCN, Hai Bà Trưng đã lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa thắng lợi đánh đuổi Thái thú nhà Hán là Tô Định, thu hồi 65 thành trì (bao gồm cả một phần đất thuộc Quảng Tây ngày nay). Căm phẫn trước việc chồng mình bị Tô Định sát hại, Trưng Trắc đã cùng em gái là Trưng Nhị dấy binh khởi nghĩa. Trưng Trắc sau đó lên ngôi nữ vương (Trưng Nữ Vương). Đến năm 43 SCN, Hán Quang Vũ Đế phái viên danh tướng Mã Viện thống lĩnh một đạo quân lớn sang đàn áp nghĩa quân. Trải qua một chiến dịch dài ngày và khốc liệt, Mã Viện đã dập tắt cuộc khởi nghĩa; Hai Bà Trưng đã gieo mình tự vẫn để bảo toàn khí tiết, quyết không để rơi vào tay giặc. Cho đến ngày nay, Hai Bà Trưng vẫn được nhân dân Việt Nam tôn kính như biểu tượng bất khuất của Phụ nữ Việt Nam.

Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai (43–544)

Miền Bắc Việt Nam dưới sự cai trị của nhà Đông Tấn, năm 382 SCN

Rút ra bài học từ cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, nhà Hán và các triều đại phong kiến kế tiếp đã thi hành nhiều biện pháp triệt để nhằm xóa bỏ hoàn toàn quyền lực của giới quý tộc người Việt. Tầng lớp tinh hoa người bản địa bị cưỡng chế tiếp thu văn hóa và nền chính trị Trung Hoa. Vào giai đoạn cuối thời Đông Hán và đầu thời Tam Quốc, Thái thú Giao Chỉ là Sĩ Nhiếp đã quy thuận Hoàng đế nhà Hán rồi sau đó thần phục nhà Đông Ngô—bao gồm việc gửi con trai sang làm con tin để chứng minh lòng trung thành—nhưng trong sử học Việt Nam, ông được xem như một thủ lĩnh cát cứ tự trị và được các triều đại quân chủ Việt Nam đời sau sắc phong, thần thánh hóa. Theo nhà nghiên cứu Stephen O'Harrow, Sĩ Nhiếp về bản chất có thể xem là "người Việt Nam đầu tiên". Sau khi Sĩ Nhiếp qua đời, Đông Ngô hạ lệnh tách Quảng Châu thành một châu riêng và bãi nhiệm con trai của ông khỏi vị trí đứng đầu Giao Chỉ. Sĩ Huy dấy binh phản kháng nhưng lại tìm kiếm giải pháp đàm phán hòa bình khi quân Ngô kéo đến. Trong quá trình thương lượng, Sĩ Huy cùng phần lớn anh em ruột đã bị xử trảm, các thân tộc còn lại bị giáng xuống làm thường dân. Năm 248, một người phụ nữ xứ Việt là Triệu Thị Trinh (thường gọi là Bà Triệu) đã cùng anh trai là Triệu Quốc Đạt lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Đông Ngô. Dù vậy, cuộc khởi nghĩa một lần nữa thất bại. Đông Ngô đã phái Lục Dận cùng 8.000 quân tinh nhuệ sang đàn áp nghĩa quân. Viên tướng này đã bình định nghĩa quân bằng cách kết hợp giữa đe dọa vũ lực và chiêu dụ mua chuộc. Sách Đại Việt sử ký toàn thư miêu tả Bà Triệu có mái tóc dài chấm vai, cưỡi voi xông trận dũng mãnh. Sau nhiều tháng chiến đấu gian khổ, bà bị đánh bại và đã tuẫn tiết. Một cuộc nổi dậy khác đạt được thành công tạm thời vào giữa thập niên 260 khi viên lại chức Lữ Hưng (呂興) lật đổ bộ máy quan lại Đông Ngô còn lại và liên minh với thứ sử của Tào Ngụy tại đất Thục vừa bị Ngụy chinh phục. Tào Ngụy cùng chính thể kế tục là nhà Tấn đã chiếm giữ Giao Chỉ từ năm 266 đến năm 271, cho tới khi chiến dịch tấn công Giao Chỉ của Đông Ngô tái chiếm lại được vùng đất này. Dẫu vậy, vùng đất này sau cùng vẫn trở lại dưới quyền kiểm soát của nhà Tấn sau khi triều đại này tiêu diệt hoàn toàn Đông Ngô, chấm dứt thời kỳ Tam Quốc.

Các vương quốc Chăm Pa sơ kỳ (192–thế kỷ 7)

Bia ký tại tháp Po Klong Garai của người Chăm

Cùng thời kỳ đó, tại khu vực miền Trung Việt Nam ngày nay, một cuộc nổi dậy thành công của các cộng đồng người Chăm đã diễn ra vào năm 192. Các triều đại Trung Hoa gọi thực thể này là Lâm Ấp (nghĩa là ấp họ Lâm). Về sau, xứ sở này phát triển thành một vương quốc hùng mạnh mang tên Chăm Pa, có cương thổ trải dài từ Quảng Bình tới tận Phan Thiết (Bình Thuận). Người Chăm đã sáng tạo nên hệ thống chữ viết bản địa đầu tiên ở Đông Nam Á, tạo lập nền văn học cổ nhất trong các ngôn ngữ Đông Nam Á còn tồn tại, đồng thời trở thành trung tâm văn hóa, nghệ thuật Phật giáo và Ấn Độ giáo nổi bật trong khu vực.

Vương quốc Phù Nam (thế kỷ 1–627)

Vào đầu thế kỷ 1 SCN, tại vùng hạ lưu sông Mê Kông, vương quốc chịu ảnh hưởng Ấn Độ hóa đầu tiên của Đông Nam Á mà thư tịch Trung Hoa gọi là Phù Nam đã hình thành và phát triển thành một cường quốc kinh tế trong khu vực; trung tâm đô thị cảng khẩu sầm uất Óc Eo của vương quốc này từng thu hút thương nhân và thợ thủ công từ Trung Hoa, Ấn Độ và thậm chí cả La Mã. Vị quân chủ đầu tiên của Phù Nam, Nữ vương Liễu Diệp, đã kết hôn với Kaundinya, một người đàn ông đến từ phương tây mang theo cây cung thần. Kaundinya sau đó trở thành vị vua trị vì Phù Nam. Phù Nam được cho là nhà nước Khmer đầu tiên, hoặc thuộc ngữ hệ Nam Đảo, hoặc là một nhà nước đa sắc tộc. Theo các bộ sử Trung Hoa, vị vua cuối cùng của Phù Nam là Rudravarman (trị vì 514–545) đã cử nhiều sứ bộ triều cống sang Trung Quốc. Cũng theo các biên niên sử này, Phù Nam có khả năng đã bị một vương quốc khác mang tên Chân Lạp thôn tính vào khoảng năm 627 SCN, chấm dứt sự tồn tại của vương quốc này.

Nhà nước Vạn Xuân (544–602)

Trong giai đoạn từ khi bắt đầu thời kỳ Nam–Bắc triều đến thời kỳ đầu nhà Tùy, nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của phương Bắc đã liên tiếp nổ ra, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Lý Bôn (vốn là tầng lớp người gốc Hoa đã bản địa hóa.) và bộ tướng kế vị là Triệu Quang Phục. Dù phần lớn các phong trào cuối cùng đều bị dập tắt, dấu ấn đậm nét nhất vẫn thuộc về cuộc kháng chiến do Lý Bôn và Triệu Quang Phục lãnh đạo; họ đã thiết lập nền độc lập ngắn ngủi cho nhà nước Vạn Xuân trong gần nửa thế kỷ, từ năm 544 đến năm 602, trước khi bị nhà Tùy đem quân tái chiếm.

Khi nhà Tùy củng cố quyền lực tại Trung Hoa, Lý Phật Tử đã thừa nhận quyền tông chủ của nhà Tùy vào năm 589. Đến năm 602, khi Lý Phật Tử công khai làm phản, Tùy Văn Đế đã phái tướng Lưu Phương thống lĩnh 27.000 quân sang chinh phạt vùng đất này. Năm 605, Dương Kiên tiếp tục thúc quân xuống phía nam, tiến hành xâm lược vương quốc Simhapura của người Chăm ở miền Trung Việt Nam, thiết lập bộ máy cai trị tạm thời và chia xứ sở này thành 3 quận: Tỷ Ảnh, Hải Âm và Tượng Lâm.

Lưu Phương được cử làm tổng quản Giao Châu. Viên tướng này ngã bệnh chết trên đường từ Chăm Pa trở về phương bắc, Khâu Hòa (丘和) được cử sang thay thế để cai quản vùng đất. Dù vậy, vào năm 618, Đường Cao Tổ đã lật đổ nhà Tùy và lập nên Nhà Đường. Ban đầu Khâu Hòa quy thuận chính quyền của Tiêu Tiển vào năm 618, sau đó mới đầu phục Hoàng đế nhà Đường vào năm 622, sáp nhập miền Bắc Việt Nam vào bản đồ Đế chế Đường. Một thủ lĩnh bản địa tại Cửu Chân (nay thuộc Thanh Hóa), Lê Ngọc, vẫn giữ lòng trung thành với Tiêu Tiển và tiếp tục kháng cự quân Đường thêm ba năm nữa.

Thời kỳ hoàng kim của văn minh Chăm Pa và chiến tranh với Đế quốc Khmer (thế kỷ 7–1203)

Chăm Pa từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 13
Chăm Pa và khu vực lân cận vào thế kỷ thứ 9
Mão vàng Chăm Pa (thế kỷ 7–8)
Đầu tượng thần Shiva bằng hợp kim vàng–bạc (thế kỷ 10)
Tượng Bồ Tát Đồng Dương (thế kỷ 9)

Vương quốc Lâm Ấp của người Chăm với kinh đô đặt tại Simhapura đã trở nên phồn thịnh nhờ vị trí đắc địa trên các hải trình mậu dịch cổ đại nối Trung Đông với Trung Hoa. Sự giàu có của Lâm Ấp đã thu hút sự dòm ngó từ các hoàng đế phương Bắc. Năm 605, Tùy Dượng Đế hạ lệnh cho danh tướng Lưu Phương, người vừa tái chiếm và bình định miền Bắc Việt Nam tiến hành xâm lược Lâm Ấp. Vương quốc nhanh chóng bị quân xâm lược tràn ngập, các đền đài thánh địa của người Chăm bị cướp phá nghiêm trọng. Dẫu vậy, vua Sambhuvarman của Lâm Ấp (trị vì 572–629) đã nhanh chóng khôi phục lại nền độc lập, mở ra thời kỳ thống nhất của Chăm Pa vào năm 629.

Từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 10, người Chăm nắm quyền kiểm soát mạng lưới buôn bán gia vị và tơ lụa giữa Trung Hoa, Ấn Độ, các đảo của Indonesia và Đế quốc Abbas tại Baghdad. Họ gia tăng nguồn thu từ các tuyến hàng hải không chỉ qua việc xuất khẩu ngà voi, trầm hương mà còn qua cả hoạt động cướp biển và đột kích đường biển. Giai đoạn thịnh vượng và rực rỡ văn hóa này thường được mệnh danh là thời kỳ hoàng kim của Chăm Pa.

Năm 875, một vị vua theo Phật giáo Đại thừa là Indravarman II (trị vì 854–893) đã lập nên một vương triều mới và lấy Phật giáo làm quốc giáo. Indravarman II cho xây dựng kinh đô mới tại Indrapura (nay thuộc Quảng Nam) cùng khu tu viện Phật giáo quy mô lớn tại Đồng Dương. Triều đại của Indravarman II tiếp tục trị vì cho đến cuối thế kỷ 10, thời điểm cuộc tiến công của người Việt năm 982 giết chết vị vua trị vì là Jaya Paramesvaravarman I (trị vì 972–982). Một người Việt tiếm quyền tên là Lưu Kế Tông đã lợi dụng tình thế hỗn loạn để đánh chiếm Indrapura vào năm 983 và tự xưng làm vua Chăm Pa vào năm 986, gây đảo lộn nền chính trị Chăm. Tại vùng Vijaya (nay thuộc Bình Định) ở phía nam, một triều đại Ấn Độ giáo mới được thiết lập vào năm 989 và đã dời đô Chăm Pa về Vijaya vào năm 1000.

Chăm Pa và Đế quốc Khmer đang trỗi dậy đã liên tục giao chiến với nhau suốt ba thế kỷ, từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 13. Người Khmer lần đầu tấn công Chăm Pa tại vùng Kauthara (Khánh Hòa) vào năm 950. Năm 1080, họ tấn công Vijaya và miền trung Chăm Pa. Quân Chăm dưới sự lãnh đạo của Harivarman IV đã mở cuộc phản công đánh đuổi quân đội Campuchia và cướp phá nhiều đền đài ở phía đông sông Mê Kông. Căng thẳng tiếp tục leo thang trong thế kỷ tiếp theo. Vua Suryavarman II của Đế quốc Khmer xâm lược Chăm Pa vào các năm 1145 và 1149 sau khi vua Chăm là Indravarman từ chối liên minh cùng Khmer tiến đánh người Việt. Người ta tin rằng Suryavarman II đã tử trận trong cuộc chiến chống Chăm Pa vào khoảng năm 1150. Năm 1177, vua Chăm Jaya Indravarman IV dẫn đầu một cuộc tập kích bất ngờ vào kinh đô Yasodharapura (Angkor) của Khmer và đánh tan đối phương trong Trận hồ Tonlé Sap.

Một vị vua kiệt xuất mới của Campuchia là Jayavarman VII lên nắm quyền, đánh lui người Chăm và bắt đầu cuộc chinh phục Chăm Pa vào năm 1190. Ông cuối cùng đã khuất phục được người Chăm vào năm 1203 và đặt Chăm Pa dưới quyền cai trị của Đế quốc Khmer suốt 17 năm. Đến năm 1220, khi quân Khmer tự nguyện rút lui khỏi Chăm Pa, một hoàng thân Chăm tên là Angsaraja đã lên ngôi lấy hiệu Jaya Paramesvaravarman II và khôi phục lại nền độc lập cho dân tộc mình.

Chăm Pa mở rộng phạm vi thương mại tới tận Philippines vào thập niên 1200. Sách Tống sử chép rằng ở phía đông Chăm Pa, sau hai ngày vượt biển sẽ tới nước Ma-i (ở Mindoro, Philippines); trong khi tới Pu-duan (Butuan) tại Mindanao phải mất bảy ngày đường, đồng thời sử liệu có ghi chép về các hoạt động giao thương của người Chăm tại Butuan. Butuan bất mãn trước ưu thế thương mại của Chăm Pa nên vua của họ là Rajah Kiling đã thúc đẩy sự cạnh tranh ngoại giao nhằm tranh giành đặc quyền buôn bán với Trung Hoa trước vị thế bá quyền của Chăm Pa. Trong khi đó, tại vùng đất sau này là Vương quốc Hồi giáo Sulu vốn khi ấy vẫn theo Ấn Độ giáo, đã có một làn sóng di cư lớn của người Chăm sang định cư; họ được dân bản địa gọi là người Orang Dampuan và từng phát sinh các cuộc xung đột (sau đó đã được dàn xếp hòa giải) với cư dân bản địa Sulu. Nhóm người này trở thành tổ tiên của người Yakan ngày nay. Mối quan hệ di cư và giao thương này không chỉ mang tính một chiều, bởi cũng có những cư dân Philippines đến định cư tại Chăm Pa.

Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ ba: Dưới sự thống trị của nhà Tùy và nhà Đường (602–905)

Đất Việt dưới thời Nhà Đường, khoảng năm 700
Hình bên trái: Bản sao chuông đồng chùa Thanh Mai, năm 798 SCN
Hình bên phải: Abe no Nakamaro, một người Nhật Bản từng làm quan Đô hộ xứ An Nam từ năm 761 đến năm 767

Vào năm 627, Đường Thái Tông tiến hành một cuộc cải cách hành chính nhằm sáp nhập và giảm bớt số lượng châu, huyện. Năm 679, Giao Châu được đổi thành An Nam đô hộ phủ. Đơn vị hành chính này được nhà Đường sử dụng để quản lý các nhóm cư dân phi-Hán tại các vùng biên viễn, tương tự như An Tây đô hộ phủ ở Trung Á và An Đông đô hộ phủ ở bán đảo Triều Tiên. Cứ mỗi bốn năm một lần, kỳ "Nam tuyển" sẽ được tổ chức nhằm chọn lựa các tù trưởng bản địa để bổ nhiệm vào các chức quan từ ngũ phẩm trở lên. Chính sách thuế khóa ở đây tương đối ôn hòa hơn so với nội địa; thuế mùa vụ chỉ bằng một nửa mức tiêu chuẩn thông thường, phản ánh sự nhượng bộ trước những thách thức chính trị tiềm ẩn khi cai trị một sắc dân bản xứ. Các thiếu nữ bản địa ở Việt Nam: người Thái, người Việt cùng các tộc người khác cũng trở thành mục tiêu của những kẻ buôn người. Phụ nữ thuộc các bộ tộc Việt nhiều khả năng bị biến thành nô tỳ làm việc nhà và thị nữ trong phần lớn thời Đường.

Lần đầu tiên kể từ thời Nhà Hán, các trường học theo quy chuẩn Trung Hoa được xây dựng, và các tuyến đê điều được đắp để bảo vệ thủ phủ Tống Bình (về sau là thành Đại La). Đồng bằng sông Hồng là vùng châu thổ nông nghiệp lớn nhất ở phía nam đế quốc, sở hữu các tuyến đường bộ nối liền với Chăm Pa và Chân Lạp ở phía nam và tây nam, cùng các tuyến hải trình thông ra Ấn Độ Dương. Phật giáo phát triển rực rỡ tại An Nam dù quốc giáo chính thức của nhà Đường là Đạo giáo. Đã có ít nhất 6 nhà sư từ miền Bắc Việt Nam thực hiện những chuyến du hành sang Trung Hoa, Srivijaya, Ấn Độ và Sri Lanka trong thời Đường. Rất ít người bản địa tham gia vào các hoạt động khoa cử Nho học cũng như các kỳ thi tuyển quan lại. Với trung tâm đặt quanh vùng Bắc Ninh, An Nam đã trở thành một thương cảng trung chuyển thịnh vượng, tiếp nhận hàng hóa từ các vùng biển phía nam. Sách Hậu Hán thư chép rằng vào năm 166, phái đoàn sứ bộ đầu tiên từ Đế quốc La Mã đến Trung Hoa đã đi qua tuyến đường này, và các đoàn thương buôn cũng nhanh chóng theo chân sau đó. Tác phẩm Ngụy lược từ thế kỷ thứ 3 có đề cập đến một "tuyến đường thủy" (tức sông Hồng) từ An Nam ngược lên miền nam Vân Nam ngày nay. Từ đó, hàng hóa được vận chuyển bằng đường bộ tới các vùng đất khác của Trung Hoa qua ngả Côn Minh và Thành Đô.

Năm 687, tù trưởng người Lý là Lý Tự Tiên nổi dậy chống lại chính quyền nhà Đường do Đô hộ An Nam là Lưu Diên Hựu tăng thuế gấp đôi. Lưu Diên Hựu đã giết chết Lý Tự Tiên nhưng không ngăn nổi ngọn lửa khởi nghĩa và cuối cùng bị nghĩa quân tiêu diệt. Tướng nhà Đường là Tào Huyền Tĩnh sau đó tiến quân vào An Nam, dẹp tan cuộc nổi dậy và xử tử thủ lĩnh kế vị là Đinh Kiến.

Năm 722, Mai Thúc Loan từ Cửu Đức (nay thuộc Hà Tĩnh) đã lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa quy mô lớn chống lại ách đô hộ của phương Bắc. Tự xưng là "Hắc Đế" (Hoàng đế Đen), ông hiệu triệu được 40 vạn quân từ 23 châu tham gia, đồng thời liên minh với Chăm Pa, Chân Lạp, một vương quốc bí ẩn mang tên Kim Lân ("Láng giềng Vàng") cùng nhiều tiểu quốc khác. Quân Đường gồm 10 vạn binh mã dưới sự chỉ huy của tướng Dương Tư Húc, phối hợp cùng các bộ tộc miền núi trung thành với triều đình, đã men theo đường biển tiến xuống theo tuyến đường cũ mà Mã Viện từng mở. Dương Tư Húc bất ngờ tập kích Mai Thúc Loan và đàn áp phong trào vào năm 723. Xác của Mai Hắc Đế cùng các nghĩa binh bị chất thành gò cao lớn nhằm thị uy và răn đe các cuộc nổi loạn về sau. Sau đó từ năm 726 đến 728, Dương Tư Húc tiếp tục đàn áp các cuộc nổi dậy khác của người Lý và người Nùng do Trần Hành Phạm và Phùng Lâm chỉ huy ở phía bắc, những người tự xưng là "Nam Việt Hoàng đế" khiến thêm khoảng 8 vạn người thiệt mạng.

Do ảnh hưởng của Loạn An Sử vào năm 755, An Nam đô hộ phủ từng có thời gian ngắn đổi tên thành Trấn Nam đô hộ phủ. Năm 767, dải duyên hải miền Bắc Việt Nam bị quân đội Shailendra/người Java đánh phá nhưng đã bị tướng nhà Đường là Trương Bá Nghi đánh lui. Năm 785, các hào trưởng bản địa là Đỗ Anh Hàn và Phùng Hưng đã dấy binh khởi nghĩa do Đô hộ Cao Chính Bình tăng mức thuế khóa. Quân Đường tái chiếm An Nam vào năm 791. Vào các năm 803 và 809, quân Chăm Pa tiến hành cướp phá vùng phía nam An Nam. Binh lính tham gia xây đắp công sự đồn trú cũng nổi dậy nổi loạn. Từ năm 803 đến 863, các lực lượng nổi dậy bản địa đã giết chết hoặc xua đuổi không dưới sáu viên quan Đô hộ An Nam. Năm 820, Dương Thanh đánh chiếm Tống Bình và giết chết quan Đô hộ. Dù vậy, Dương Thanh mất lòng dân do tính khí bạo ngược và nhanh chóng bị người bản địa giết chết; dẫu vậy, cả khu vực tiếp tục chìm trong bất ổn suốt 16 năm tiếp theo.

Thủ phủ của An Nam là Tống Bình (tức Hà Nội ngày nay) vốn là một đô thị lớn ở vùng tây nam của Đế chế Đường. Từ năm 858 đến năm 864, những biến động hỗn loạn tại An Nam đã tạo thời cơ cho vương quốc Nam Chiếu ở Vân Nam can thiệp vào khu vực, xúi giục các tù trưởng bản địa nổi dậy chống lại nhà Đường. Quân Nam Chiếu cùng các đồng minh bản địa đã tiến hành bao vây thành Tống Bình vào đầu năm 863, đánh bại quân Đường và chiếm giữ thủ phủ trong suốt ba năm. Đến năm 866, Tiết độ sứ nhà Đường là Cao Biền đã đánh chiếm lại thành trì và đẩy lùi quân Nam Chiếu. Ông cho củng cố và đổi tên thành này thành Đại La thành (大羅城, thành Đại La).

Năm 866, An Nam được đổi tên thành Tĩnh Hải quân. Đầu thế kỷ thứ 10, khi Trung Hoa rơi vào thời kỳ cát cứ phân liệt, các hào trưởng bản địa thuộc Họ Khúc, tiếp đó là Dương Đình Nghệ, đã nối tiếp nhau cai trị Tĩnh Hải quân theo thể chế tự chủ dưới chức danh Tiết độ sứ của nhà Đường, nhưng chưa chính thức xưng vương.

Thời kỳ tự chủ (905–938)

Lãnh thổ Họ Khúc (màu cam), năm 923 SCN

Kể từ năm 905, Tĩnh Hải quân nằm dưới sự quản lý của các thủ lĩnh bản địa người Việt như một thực thể tự trị. Tĩnh Hải quân duy trì việc cống nạp cho nhà Hậu Lương để đổi lấy sự công nhận chính trị. Đến năm 923, nhà Nam Hán ở lân cận đem quân xâm lược Tĩnh Hải quân nhưng đã bị người lãnh đạo đất Việt là Dương Đình Nghệ đánh đuổi. Tuy nhiên, Dương Đình Nghệ bị ám sát vào năm 937 bởi Kiều Công Tiễn để chiếm chức và cầu viện nhà Nam Hán. Ngô Quyền, con rể của Dương Đình Nghệ, đã nhanh chóng lật đổ phe phản trắc này và đánh tan hạm đội thuyền chiến can thiệp của Nam Hán trong trận thủy chiến sông Bạch Đằng vào cuối năm 938. Năm 939, ông xưng Vương (vua) và chọn tòa thành cổ Cổ Loa làm kinh đô. Tĩnh Hải quân trở thành một quốc gia độc lập trên thực tế, và thời điểm này có thể được xem là mốc đánh dấu lịch sử Việt Nam chính thức bước vào kỷ nguyên độc lập tự chủ của riêng mình.

Thời kỳ phong kiến (939–1945)

Thông qua việc sử dụng Chữ Hán và viện dẫn các điển tịch Trung Hoa, các quân chủ Đại Việt đã củng cố tính chính danh vương quyền, tự khẳng định vị thế như những quân vương làm chủ cõi trời Nam và là những bậc 'thiên tử' cai quản bờ cõi của riêng mình, sánh ngang với Trung Hoa về văn hiến, thuật trị quốc và bề dày lịch sử. Từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 13, triều Lý đã củng cố quyền lực trung ương tập quyền trong khi vẫn duy trì mối quan hệ triều cống nhưng hoàn toàn tự chủ với nhà Tống. Triều Trần kế tục đã thắt chặt sự gắn kết nội bộ dòng tộc và lãnh đạo quân dân đẩy lùi các cuộc xâm lược của đế chế Mông–Nguyên. Vào thế kỷ 15, sau một giai đoạn đô hộ ngắn ngủi của nhà Minh, nền độc lập dân tộc được khôi phục dưới triều đại nhà Lê, triều đại đã đề cao nền trị trị Nho giáo và đẩy mạnh công cuộc mở rộng cương vực lãnh thổ. Tình trạng phân liệt chính trị tiếp diễn trong thế kỷ 17 và 18 khi hai chính quyền đối địch cùng cai quản hai miền đất nước: Đàng Ngoài và Đàng Trong, cho đến khi triều Nguyễn thống nhất giang sơn vào thế kỷ 19 trước khi đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, sáp nhập vào Liên bang Đông Dương và đi tới hồi kết của chế độ quân chủ.

Học vấn và chữ nghĩa phần lớn vẫn là đặc quyền của tầng lớp thượng lưu. Ban đầu, văn tự hành chính và học thuật hoàn toàn sử dụng chữ Hán, nhưng đến thế kỷ 13, một hệ thống văn tự phái sinh là chữ Nôm đã ra đời, cho phép ghi lại tiếng nói bản địa của người Việt. Tuy nhiên, chữ Nôm chủ yếu chỉ giới hạn trong sáng tác thơ văn, văn học và các tài liệu thực dụng như y học; trong khi toàn bộ chiếu chỉ, văn kiện hành chính của triều đình vẫn dùng Hán văn. Ngoại trừ một số nghề khai khoáng và đánh bắt thủy hải sản, nông nghiệp là sinh kế căn bản của tuyệt đại đa số người dân Việt, và các hoạt động phát triển kinh tế thương mại nhìn chung không được nhà nước phong kiến thực sự khuyến khích hay chú trọng thúc đẩy.

Các triều đại Ngô, Đinh và Tiền Lê (939–1009)

Bán đảo Đông Dương khoảng năm 1010 SCN. Lãnh thổ Đại Việt tô màu vàng, các tiểu quốc Chăm Pa tô màu xanh lá và Đế quốc Khmer tô màu tím

Năm 939, Ngô Quyền xưng Vương nhưng chỉ trị vì được 6 năm thì qua đời. Sau khi ông qua đời, anh vợ của ông là Dương Tam Kha cướp ngôi con trưởng của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập, sau bị em trai của Ngô Xương Ngập là Ngô Xương Văn làm phản, đón Xương Ngập về cùng làm vua. Năm 965, Xương văn mất, châm ngòi cho cuộc tranh giành vương vị khốc liệt, dẫn tới cuộc nội chiến quy mô lớn đầu tiên của đất nước: Loạn 12 sứ quân. Các sứ quân cát cứu cho đến năm 968, khi lực lượng của Đinh Bộ Lĩnh bình định được các sứ quân khác, thống nhất lại giang sơn. Đinh Bộ Lĩnh lập nên triều Đinh vào năm 968, tự xưng là Đinh Tiên Hoàng và đổi quốc hiệu từ Tĩnh Hải quân thành Đại Cồ Việt, định đô tại kinh thành Hoa Lư (Ninh Bình). Trong quan hệ bang giao với Trung Hoa kể từ thời Đinh Bộ Lĩnh, các triều đại phong kiến Việt Nam duy trì lệ xưng vương khi giao hảo đối ngoại nhưng vẫn ngầm khẳng định vị thế hoàng đế trong nội trị quốc gia.

Năm 979, Đinh Tiên Hoàng cùng con trưởng là Nam Việt vương Đinh Liễn bị viên quan Đỗ Thích ám sát, khiến người con trai duy nhất còn sống là ấu chúa 6 tuổi Đinh Toàn lên nối ngôi. Chớp lấy cơ hội triều đình đang rối ren, nhà Tống đã xua quân xâm lược Đại Cồ Việt. Trước mối họa xâm lăng đe dọa nền độc lập non trẻ, Thập Đạo Tướng quân Lê Hoàn được triều thần tôn lên ngôi hoàng đế, thay thế nhà Đinh và sáng lập nên triều Tiền Lê. Là một nhà quân sự mưu lược, Lê Hoàn nhận thấy sự nguy hiểm nếu đối đầu trực diện với đại quân Tống; do đó, ông đã khéo léo lừa đạo quân xâm lược vào ải Chi Lăng, bày trận phục kích chém chết chủ tướng giặc là Hầu Nhân Bảo, nhanh chóng dập tan mối họa xâm lược vào năm 981. Quân Tống buộc phải rút quân và Lê Hoàn được triều đình tôn xưng là Lê Đại Hành Hoàng đế. Nhà Tống sau đó đã cử ba đoàn sứ giả vào các năm 986, 990 và 998 sang Đại Cồ Việt, chính thức bình thường hóa mối quan hệ bang giao giữa hai quốc gia.

Trước đó, vua nước Chăm Pa là Paramesvaravarman I đã mở cuộc tấn công vào Đại Cồ Việt vào cuối năm 979 dưới danh nghĩa phò tá Ngô Nhật Khánh, một cựu sứ quân người Việt thời kỳ Loạn 12 sứ quân từng chạy sang tị nạn tại Chăm Pa nhưng kế hoạch bất thành khi một cơn bão ập đến phá hủy gần như toàn bộ hạm đội thuyền chiến Chăm Pa, bản thân Ngô Nhật Khánh cũng bị chết đuối. Sang năm sau, Lê Hoàn phái một đoàn sứ bộ sang Chăm Pa, tuy nhiên các sứ giả đã bị vua Chăm bắt giữ. Vua Đại Cồ Việt sau đó thân chinh thống lĩnh đại quân tiến công xuống phương nam, chém chết Paramesvaravarman ngay trên chiến địa và phá hủy kinh thành Indrapura. Hoàng tử Jaya Indravarman IV của Paramesvaravarman phải chạy trốn về phương nam lánh nạn.

Năm 1005, Lê Đại Hành băng hà dẫn tới sự tranh giành ngôi báu đẫm máu giữa các hoàng tử. Người thắng cuộc sau cùng là Lê Long Đĩnh, người sau này trở thành một trong những vị hôn quân khét tiếng bậc nhất trong sử Việt. Ông nghĩ ra những hình phạt tàn nhẫn đối với tù nhân để mua vui và đắm chìm trong lối sống trụy lạc. Về cuối đời, Lê Long Đĩnh mắc bệnh nặng đến mức phải nằm khi thiết triều cùng quần thần và qua đời khi mới 24 tuổi.

Các triều đại Lý, Trần và Hồ (1009–1407)

Đại Việt thời Lý và Trần (1010–1400)
Đầu tượng Phật bằng đất nung, thế kỷ 11–14
Cốc gốm men hình voi thời Lý, thế kỷ 11–12. Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan
Tháp Bình Sơn tại chùa Vĩnh Khánh, Phú Thọ, xây dựng khoảng năm 1200
Đĩa gốm hoa lam thời Trần, thế kỷ 14. Viện Smithsonian
Chùa Một Cột do vua Lý Thái Tông khởi dựng vào năm 1049

Khi Lê Long Đĩnh qua đời vào năm 1009, Điện tiền Chỉ huy sứ Lý Công Uẩn được triều thần đồng lòng suy tôn lên ngôi hoàng đế, sáng lập nên triều Lý. Sự kiện này được xem là bước mở đầu cho một thời kỳ hoàng kim rực rỡ trong lịch sử dân tộc, đặt tiền đề cho các vương triều kế tục kế thừa sự thịnh vượng và tiếp tục củng cố, mở mang bờ cõi. Cách thức Lý Công Uẩn đăng cơ là một tiền lệ đặc biệt hiếm có trong lịch sử Việt Nam. Là một võ tướng cao cấp nắm quyền binh tại kinh đô, ông có mọi cơ hội để đoạt lấy quyền lực trong những năm tháng biến loạn sau khi Lê Hoàn mất, nhưng với tinh thần tận trung, ông đã không làm vậy. Ông được quần thần tôn lập qua quá trình thảo luận và đạt được sự đồng thuận cao trong triều đình.

Các vị quân vương thời Lý có công đặt nền móng vững chắc cho nền độc lập và thể chế của Đại Việt. Năm 1010, Lý Công Uẩn ban bố Chiếu dời đô, chuyển kinh đô của Đại Cồ Việt từ Hoa Lư, nơi có địa thế quân sự hiểm trở bao bọc bởi núi sông về kinh đô mới là Đại La (Hà Nội), nơi sau đó được ông đổi tên thành Thăng Long (Rồng bay lên) sau khi tương truyền nhìn thấy rồng vàng bay lượn trên nền trời khi thuyền ngự vừa cập bến. Việc dời đô cho thấy Lý Công Uẩn đã từ bỏ tư duy phòng thủ quân sự thuần túy của các triều đại tiền nhiệm, thay vào đó hướng tầm nhìn xây dựng một nền kinh tế cường thịnh làm gốc rễ cho sự trường tồn của quốc gia. Vị hoàng đế thứ ba của triều đại, Lý Thánh Tông, đã đổi quốc hiệu thành "Đại Việt" (大越). Các vị hoàng đế kế tiếp của nhà Lý tiếp tục lập nên nhiều thành tựu lớn: đắp hệ thống đê điều dọc các triền sông để bảo vệ mùa màng; sáng lập Quốc Tử Giám làm trường đại học đầu tiên; mở các kỳ thi Nho học Tam khoa định kỳ ba năm một lần để kén chọn hiền tài trong dân gian; hoàn thiện hệ thống thuế khóa; áp dụng các chính sách nhân đạo trong xét xử tù nhân. Phụ nữ giữ vị trí quan trọng trong xã hội thời Lý khi các cung nữ, phu nhân trong triều được giao đảm trách việc thu thuế. Dòng Phật giáo Kim cương thừa từ vương quốc Đại Lý lân cận cũng có ảnh hưởng tới tín ngưỡng của người Việt thời bấy giờ. Các vua triều Lý đều tôn sùng và nâng đỡ cả Phật giáo lẫn Đạo giáo thành những chỗ dựa tâm linh của quốc gia.

Dưới triều Lý, Đại Việt đã trải qua một cuộc kháng chiến quy mô lớn chống lại quân xâm lược Tống, đồng thời mở một số chiến dịch tiến đánh vương quốc Chăm Pa ở phương nam. Sự kiện nổi bật nhất diễn ra trên đất Quảng Tây vào cuối năm 1075. Nhận thấy nguy cơ xâm lược từ nhà Tống đã cận kề, quân đội Đại Việt dưới sự thống lĩnh của danh tướng Lý Thường Kiệt và Tông Đản đã áp dụng chiến thuật "tiên phát chế nhân", bất ngờ vượt biên giới tập kích phá hủy ba căn cứ hậu cần quân sự trọng yếu của quân Tống tại Ung Châu, Khâm Châu và Liêm Châu thuộc Quảng Đông và Quảng Tây, tiêu diệt khoảng 10 vạn quân Tống. Triều đình Tống sau đó điều đại quân sang báo thù vào năm 1076, nhưng đạo quân xâm lược đã bị chặn đứng hoàn toàn tại phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu, Bắc Ninh), cách kinh đô Thăng Long chừng 40 km. Chiến cuộc giằng co kéo dài, triều đình Đại Việt chủ động đề nghị nghị hòa để giữ hòa khí, phía Tống chấp thuận lui quân. Chăm Pa cùng Đế quốc Khmer hùng mạnh đã nhân lúc Đại Việt đang dồn sức đối phó với nhà Tống để quấy nhiễu các châu hạt phía nam, rồi liên quân xâm lược Đại Việt vào các năm 1128 và 1132. Nhiều cuộc đụng độ khác tiếp tục kéo dài suốt những thập niên sau đó.

Bia đá khắc chữ Nôm và chữ Hán tại chùa Thanh Mai (1366)
Cổng Nam thành Tây Đô, kinh đô Đại Việt từ năm 1397 đến 1407. Di sản thế giới UNESCO.
Thạp gốm hoa lam thời Trần, thế kỷ 14. Bảo tàng Nghệ thuật Cleveland.

Đến cuối thế kỷ 12, khi vương triều nhà Lý suy vi, dòng họ Trần tại vùng Nam Định dần thâu tóm đại quyền. Năm 1224, Thái sư Trần Thủ Độ ép vua Lý Huệ Tông xuất gia đi tu và đưa người con gái út mới 8 tuổi là Lý Chiêu Hoàng lên kế vị ngai vàng. Trần Thủ Độ sau đó sắp đặt cuộc hôn nhân giữa Chiêu Hoàng với cháu mình là Trần Cảnh, rồi tiến hành nghi thức nhường ngôi từ Chiêu Hoàng cho Trần Cảnh, chính thức mở ra triều đại Nhà Trần.

Trần Thủ Độ đã thẳng tay thanh trừng tôn thất nhà Lý; một số tông thất nhà Lý buộc phải vượt biển lánh nạn sang Cao Ly, trong đó có hoàng tử Lý Long Tường. Sau biến cố chuyển giao vương quyền, các vị vua thời Trần tiếp tục điều hành đất nước kế thừa các nền tảng từ thời Lý. Những thành tựu nổi bật của thời Trần gồm có việc lập sổ hộ tịch quản lý hộ khẩu đến tận cấp làng xã, hoàn thành bộ quốc sử 30 quyển Đại Việt sử ký do Lê Văn Hưu biên soạn, và sự nâng tầm vị thế của chữ Nôm trong sinh hoạt văn hóa dân tộc. Nhà Trần cũng áp dụng một thể chế truyền ngôi độc đáo: khi thái tử đến tuổi trưởng thành, hoàng đế đương triều sẽ chủ động thoái vị nhường ngôi và lui về làm Thái Thượng hoàng, giữ vai trò chỉ dẫn và kèm cặp cho vị hoàng đế trẻ.

Dưới triều đại nhà Trần, quân đội của Đế quốc Mông Cổ và triều Nguyên dưới sự chỉ đạo của Mông Kha và Hốt Tất Liệt đã ba lần đem quân [[Kháng chiến chống Nguyên Mông|xâm lược Đại Việt vào các năm 1258, 1285 và 1287–1288. Dưới sự lãnh đạo kiên cường của triều đình nhà Trần, Đại Việt đã ba lần đánh tan các đạo quân Nguyên Mông hùng hậu bậc nhất thế giới thời bấy giờ, đập tan đạo quân được ước tính từ 30 vạn đến 50 vạn lính chiến. Điểm mấu chốt làm nên chiến thắng của Đại Việt là tránh thế mạnh kỵ binh thiện chiến của giặc trên bình nguyên và tránh cố thủ trong thành lũy, quân dân nhà Trần đã thực hiện chiến thuật vườn không nhà trống, chủ động rút khỏi kinh đô và các đô thành. Quân Nguyên sau đó bị bẻ gãy ý chí tại những khu vực địa hình đầm lầy hiểm trở như các trận Chương Dương, Hàm Tử, Vạn Kiếp và trên sông nước như Vân Đồn, Bạch Đằng. Đạo quân xâm lược cũng bị tiêu hao sinh lực nặng nề bởi khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt, dịch bệnh và các đòn phục kích chặn cắt đường tiếp tế hậu cần của quân đội nhà Trần. Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lên tới đỉnh cao khi toàn bộ đoàn thuyền chiến rút lui của giặc bị tiêu diệt hoàn toàn trong trận thủy chiến Bạch Đằng năm 1288. Linh hồn quân sự đằng sau những chiến công hiển hách này chính là Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn, người thường được biết đến với tên gọi Trần Hưng Đạo. Sau các đợt kháng chiến thắng lợi, để tránh các cuộc xung đột gây kiệt quệ cho đất nước, Đại Việt và Chăm Pa vẫn thực hiện nghĩa vụ triều cống ngoại giao trên danh nghĩa với triều Nguyên.[cần dẫn nguồn]

Năm 1288, nhà thám hiểm người Venezia Marco Polo đã ghé thăm Chăm Pa và Đại Việt. Cũng trong giai đoạn này, các cuộc xung đột vũ trang giữa Đại Việt và vương quốc Chăm Pa ở phương nam tiếp tục diễn ra, nối dài tiến trình mở rộng bờ cõi về phía nam (Nam tiến) vốn khởi nguồn từ sau khi giành độc lập ở thế kỷ 10. Quân đội Đại Việt thường vấp phải sự kháng cự quyết liệt từ người Chăm. Sau liên minh hòa hảo giữa hai nước trong cuộc chiến chống quân Mông Cổ, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã gả công chúa Huyền Trân cho vua Chăm là Chế Mân (Jaya Simhavarman III), qua đó tiếp nhận hai châu Ô và Lý (vùng đất quanh Huế ngày nay) qua con đường hòa bình. Không lâu sau hôn lễ, Chế Mân qua đời, công chúa được tướng Trần Khắc Chung giải cứu về Thăng Long nhằm tránh tục hỏa táng theo chồng của hoàng gia Chăm Pa. Chăm Pa trở thành chư hầu của Đại Việt vào năm 1312, nhưng mười năm sau họ đã giành lại độc lập và phát động cuộc chiến kéo dài suốt 30 năm nhằm đòi lại những vùng đất này, nhân lúc nhà Trần bước vào giai đoạn suy thoái trong thế kỷ 14. Dưới sự chỉ huy của vị vua kiệt xuất Chế Bồng Nga (Po Binasuor, trị vì 1360–1390), quân Chăm đã đánh bại và chém chết vua Trần Duệ Tông ngay tại thành Vijaya (1377). Nhiều cuộc bắc phạt của quân đội Chăm Pa từ năm 1371 đến 1390 đã nhiều lần đánh phá, thiêu rụi kinh thành Thăng Long và tàn phá nghiêm trọng nền kinh tế Đại Việt. Dù vậy, vào năm 1390, đợt tiến công thủy binh cuối cùng của Chế Bồng Nga nhằm vào Thăng Long đã bị chặn đứng bởi tướng Trần Khát Chân, khi quân Đại Việt sử dụng hỏa pháo bắn trúng thuyền ngự và tiêu diệt vua Chăm.

Những cuộc chiến tranh liên miên với Chăm Pa và các đợt kháng chiến chống Mông Cổ đã khiến Đại Việt rơi vào cảnh kiệt quệ và khủng hoảng nghiêm trọng. Vương triều nhà Trần suy sụp dần và bị thao túng bởi quyền thần Hồ Quý Ly. Năm 1400, Hồ Quý Ly ép vị hoàng đế cuối cùng của nhà Trần thoái vị, tự lập làm vua và đổi quốc hiệu thành Đại Ngu, dời đô về thành Tây Đô (Thanh Hóa). Thăng Long được đổi tên thành Đông Đô. Mặc dù thường phải chịu định kiến lịch sử vì làm mất lòng dân dẫn tới việc đất nước rơi vào tay giặc Minh sau đó, triều đại Hồ Quý Ly thực tế đã khởi xướng nhiều cuộc cải cách táo bạo và tiến bộ, bao gồm việc đưa toán học vào các kỳ thi cử, công khai phê phán tư tưởng hủ Nho, phát hành tiền giấy thay cho tiền đồng, đẩy mạnh đúc thần cơ sang pháo, đóng chiến thuyền cỡ lớn và ban hành chính sách hạn điền, hạn nô. Năm 1401, ông nhường ngôi cho con trai là Hồ Hán Thương để làm Thái Thượng hoàng, tương tự như quy chế phụ chính của các vua nhà Trần.

Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ tư (1407–1427)

Thời kỳ nhà Minh đô hộ Việt Nam (1407–1427)

Năm 1407, lấy danh nghĩa "phù Trần diệt Hồ", quân đội nhà Minh đã xâm lược Đại Ngu, bắt sống hai cha con Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương. Triều đại nhà Hồ sụp đổ sau vỏn vẹn 7 năm cầm quyền. Quân chiếm đóng nhà Minh đã sáp nhập toàn bộ Đại Ngu vào lãnh thổ Đế quốc Minh với lý do nhà Trần không còn người nối dõi. Đất nước Việt Nam, vốn đã bị suy yếu nghiêm trọng bởi những biến loạn vương triều và các cuộc chiến tranh liên miên với Chăm Pa trước đó, nhanh chóng thất thủ. Ách thống trị của nhà Minh diễn ra vô cùng tàn bạo. Đất Việt bị giáng xuống thành quận Giao Chỉ trực thuộc Trung Hoa, các chính sách đồng hóa văn hóa cưỡng bức hà khắc thuở xưa được tái áp đặt triệt để, đồng thời của cải và tài nguyên thiên nhiên bị bòn rút nặng nề. Dù vậy, ý thức dân tộc của người Việt vào thời điểm bấy giờ đã phát triển mạnh mẽ đến mức mọi nỗ lực Hán hóa chỉ càng thổi bùng lên ngọn lửa phản kháng quyết liệt. Gần như ngay lập tức, các cuộc khởi nghĩa của những lực lượng trung thành với nhà Trần đã bùng nổ. Phong trào kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Trần Quý Khoáng ban đầu giành được một số thắng lợi, nhưng việc ông nghi kỵ và xử tử hai viên tướng trụ cột đã gây chia rẽ sâu sắc trong nội bộ nghĩa quân, dẫn tới thất bại hoàn toàn vào năm 1413.

Thời kỳ phục hưng Đại Việt (1428–1527)

Nhà Hậu Lê – thời kỳ Lê sơ (1428–1527)

Đại Việt từ năm 1428 đến năm 1527
Cổng vào Văn Miếu, Hà Nội
Hệ thống bia đá tại Văn Miếu khắc tên các vị đỗ đạt trong các kỳ thi Nho học, 1442–1779
Đĩa sứ hình ngựa có cánh tung vó thời Lê sơ, đầu thế kỷ 16. Bảo tàng Nghệ thuật Quận Los Angeles.
Đĩa gốm hoa lam vẽ họa tiết chim khách trên cành mai đầu xuân, thế kỷ 15–16. Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan. Nghệ thuật gốm sứ Việt Nam đạt đến đỉnh cao về sản lượng và trình độ thẩm mỹ dưới thời Lê sơ.
Pháo thần công của Việt Nam thời Hậu Lê

Năm 1418, Lê Lợi, một hào trưởng giàu có tại Thanh Hóa, đã phát động cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn chống lại ách đô hộ của nhà Minh từ căn cứ địa Lam Sơn (Thanh Hóa). Vượt qua nhiều gian nan thử thách buổi ban đầu nhờ mưu lược tài tình của Nguyễn Trãi, nghĩa quân Lam Sơn dần lớn mạnh và chiếm thế chủ động. Tháng 9 năm 1426, nghĩa quân tiến quân ra bắc, đập tan đại quân Minh trong Trận Tốt Động – Chúc Động ở phía nam Hà Nội nhờ sử dụng hỏa khí súng thần công. Sau đó, nghĩa quân Lê Lợi siết chặt vòng vây thành Đông Quan (Hà Nội), thủ phủ của chính quyền đô hộ Minh. Minh Tuyên Tông điều 12 vạn viện binh chia làm hai ngả ồ ạt kéo sang ứng cứu, song Lê Lợi đã bố trí trận địa phục kích chém chết Liễu Thăng ngay tại ải Chi Lăng. Quân Minh cố thủ trong thành Đông Quan cùng đường xin hàng. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, đánh tan 20 vạn quân xâm lược nhà Minh.

Vào tháng 4 năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, khôi phục nền độc lập cho đất nước và sáng lập nên triều Hậu Lê. Ông lấy lại quốc hiệu Đại Việt, dời đô về lại Thăng Long và đổi tên kinh thành thành Đông Kinh.

Lãnh thổ Đại Việt dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460–1497), bao gồm các cuộc chinh phục tại Bồn Man và Chăm Pa.

Các vua thời Lê sơ đã thi hành chính sách cải cách ruộng đất để phục hồi nền kinh tế sau chiến tranh. Khác với các triều đại Lý và Trần vốn chịu ảnh hưởng sâu đậm từ Phật giáo, các hoàng đế nhà Lê nghiêng hẳn về nền tảng tư tưởng Nho giáo. Một hệ thống pháp luật quy mô lớn là bộ luật Hồng Đức được ban hành vào năm 1483 mang đậm tinh thần Nho giáo, song cũng dung chứa nhiều quy định tiến bộ mang tính đột phá thời bấy giờ, điển hình như việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ. Mỹ thuật và kiến trúc thời Lê sơ cũng chịu ảnh hưởng rõ rệt từ phong cách thời Minh hơn so với thời Lý, Trần trước đó. Triều đình nhà Lê còn cho vẽ bản đồ toàn quốc (Bản đồ Hồng Đức) và giao cho sử quan Ngô Sĩ Liên biên soạn bộ quốc sử Đại Việt sử ký toàn thư tiếp nối cho tới thời kỳ Lê Lợi khởi nghĩa.

Áp lực dân số gia tăng và tình trạng khan hiếm đất canh tác đã thúc đẩy Đại Việt mở rộng lãnh thổ về phương nam. Năm 1471, vua Lê Thánh Tông ngự giá thân chinh tiến đánh Chăm Pa và hạ kinh thành Vijaya (Đồ Bàn). Sự kiện này đã đặt dấu chấm hết cho vị thế một cường quốc của Chăm Pa, dẫu cho một số tiểu quốc tàn dư của người Chăm vẫn tiếp tục tồn tại thêm vài thế kỷ sau đó. Biến cố cũng khởi đầu cho làn sóng di cư tản mát của cộng đồng người Chăm khắp khu vực Đông Nam Á. Khi vương quốc Chăm Pa phần lớn bị sáp nhập và người Chăm dần suy yếu, công cuộc định cư của người Việt tại vùng đất nay là miền Trung Việt Nam diễn ra thuận lợi mà không gặp phải kháng cự đáng kể. Mặc dù số lượng dần bị lấn át bởi các luồng di dân người Việt và vùng đất cũ của Chăm Pa được sáp nhập trọn vẹn vào Đại Việt, phần lớn người Chăm vẫn định cư trên quê hương bản quán và ngày nay trở thành một trong những dân tộc thiểu số quan trọng tại Việt Nam. Quân đội Đại Việt thời kỳ này cũng mở các cuộc tiến công sâu vào vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nơi mà Đế quốc Khmer đang trên đà suy tàn không còn khả năng phòng thủ. Đô thành Huế, được thiết lập vào năm 1600, nằm cận kề với địa bàn kinh đô Indrapura thuở xưa của người Chăm. Năm 1479, Lê Thánh Tông tiếp tục mở chiến dịch tiến đánh Ai Lao, hạ kinh thành Luang Prabang, sau đó san phẳng đô thành này. Quân đội Đại Việt thậm chí còn tiến sâu sang phía tây tới tận lưu vực sông Irrawaddy thuộc Myanmar ngày nay trước khi rút quân về nước. Sau khi vua Lê Thánh Tông băng hà, Đại Việt nhanh chóng rơi vào thời kỳ suy thoái (1497–1527) với 6 đời vua thay nhau trị vì trong vòng vỏn vẹn 30 năm; kinh tế kiệt quệ, thiên tai mất mùa cùng các cuộc nổi dậy nông dân nổ ra khắp nơi. Giữa Thời đại Khám phá, các thương nhân và giáo sĩ phương Tây bắt đầu đặt chân đến Việt Nam; nhóm đầu tiên là những người Bồ Đào Nha, đánh dấu sự khởi đầu của việc truyền bá Kitô giáo từ năm 1533.

Thời kỳ chia cắt (1527–1802)

Thời kỳ Nam – Bắc triều: Nhà Mạc và nhà Lê trung hưng (1527–1592)

Từ năm 1533 đến năm 1592, Việt Nam bị chia cắt giữa Bắc triều (nhà Mạc) và Nam triều (nhà Lê trung hưng).

Năm 1527, đại thần quyền thế của triều đình là Thái sư Mạc Đăng Dung đã bức vua Lê thoái vị và đoạt lấy ngai vàng, lập nên Nhà Mạc. Sau hai năm dẹp yên các lực lượng chống đối, Mạc Đăng Dung áp dụng quy chế phụ chính của triều Trần, nhường ngôi cho con trai là Mạc Đăng Doanh còn mình lui về làm Thái Thượng hoàng.

Trong khi đó, một cựu thần trung thành với nhà Lê là Nguyễn Kim đã dấy binh chống Mạc, tìm được con vua Lê Chiêu Tông đưa lên ngôi là vua Lê Trang Tông để phục dựng vương triều tại vùng Thanh Hóa. Cuộc nội chiến Nam – Bắc triều bùng nổ giữa Bắc triều (nhà Mạc) và Nam triều (nhà Lê phục hưng). Lực lượng của Nguyễn Kim làm chủ vùng đất phía nam (từ Thanh Hóa trở vào), trong khi bờ cõi phía bắc (gồm cả vùng Đông Kinh – Hà Nội) thuộc quyền kiểm soát của nhà Mạc. Năm 1545, Nguyễn Kim bị đầu độc ám sát, toàn bộ quyền bính quân sự rơi vào tay con rể ông là Trịnh Kiểm. Năm 1558, con trai thứ của Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng, lo sợ Trịnh Kiểm hãm hại như người anh trai Nguyễn Uông để thâu tóm quyền hành, đã xin vào trấn thủ xứ Thuận Hóa – Quảng Nam xa xôi (tương ứng vùng đất từ Quảng Bình tới Bình Định ngày nay). Nguyễn Hoàng đã giả ngây giả dại khiến Trịnh Kiểm mất cảnh giác, cho rằng việc điều Hoàng vào vùng biên viễn lam sơn chướng khí chưa yên định sẽ mượn tay người ngoài trừ khử được ông. Trái lại, Nguyễn Hoàng đã cai trị phương Nam hết sức tài tình, chiêu tập dân chúng và củng cố căn cứ vững chắc, trong khi Trịnh Kiểm và con trai là Trịnh Tùng tiếp tục cầm cự cuộc chiến chống nhà Mạc ở phương bắc. Nguyễn Hoàng bề ngoài vẫn gửi tiền của và binh lính ra bắc hỗ trợ dẹp Mạc, song trên thực tế đã từng bước gây dựng cơ đồ độc lập, biến xứ Đàng Trong thành một thương cảng mậu dịch quốc tế phồn thịnh.

Cuộc nội chiến kéo dài giữa nhà Lê – Trịnh và nhà Mạc khép lại vào năm 1592 khi đại quân của Trịnh Tùng đánh chiếm Hà Nội và hành quyết vua Mạc Mậu Hợp. Tàn dư hoàng tộc nhà Mạc chạy lên vùng núi non hiểm trở thuộc tỉnh Cao Bằng, duy trì sự cát cứ tại đây cho tới năm 1677 khi Trịnh Tạc đem quân tiêu diệt hoàn toàn mảnh đất dung thân cuối cùng này. Kể từ thời điểm Nguyễn Kim phục dựng cơ nghiệp, các hoàng đế nhà Lê chỉ còn giữ vai trò bù nhìn tượng trưng. Sau khi nhà Mạc bị đánh dẹp, toàn bộ thực quyền ở phương bắc đều thuộc về tay các Chúa Trịnh. Trong khi đó, triều đình nhà Minh từng tính tới việc đưa quân sang can thiệp quân sự vào cuộc nội chiến Đại Việt, nhưng Mạc Đăng Dung đã chủ động thực hiện nghi thức đầu hàng mang tính biểu tượng với nhà Minh để giữ hòa hiếu. Từ cuối thế kỷ 16, các hoạt động giao thương và tiếp xúc giữa Nhật Bản và Việt Nam phát triển mạnh mẽ kể từ khi hai bên chính thức thiết lập quan hệ bang giao vào năm 1591. Mạc phủ Tokugawa của Nhật Bản và chúa Tiên Nguyễn Hoàng tại xứ Quảng Nam đã trao đổi tổng cộng 34 bức thư từ năm 1589 đến 1612, và một khu phố Nhật Bản sầm uất đã được hình thành tại đô thị cảng Hội An vào năm 1604.

Thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh (1600–1777)

Kinh đô Kẻ Chợ (Đông Kinh hay Hà Nội) năm 1688 (nhìn từ Sông Hồng)
Thuyền buôn Châu ấn thuyền của Nhật Bản sang buôn bán tại Việt Nam
Bức tranh Ngũ hổ thuộc dòng Tranh Hàng Trống, Hà Nội, thế kỷ 17
Bản đồ Việt Nam thể hiện (ước lược) các vùng lãnh thổ do chúa Trịnh, chúa Nguyễn, nhà Mạc và Chăm Pa kiểm soát vào khoảng năm 1650. Tím: Lãnh thổ chúa Trịnh. Vàng: Lãnh thổ chúa Nguyễn. Xanh lục: Chăm Pa - Panduranga (thần phục chúa Nguyễn). Hồng (Cao Bằng): Tàn dư nhà Mạc. Cam: Chúa Bầu.

Vào năm 1600, Nguyễn Hoàng chính thức xưng Chúa (về danh chính là "Vương", trong dân gian gọi là "Chúa") và chấm dứt việc nộp thuế khóa hay chi viện binh lực cho chúa Trịnh. Ông cũng chuyển thủ phủ về Phú Xuân (nay là thành phố Huế). Năm 1613, Nguyễn Hoàng tạ thế sau 55 năm gầy dựng và cai quản phương nam. Con trai thứ sáu của ông là Nguyễn Phúc Nguyên lên nối nghiệp, tiếp tục chính sách khước từ phục tùng họ Trịnh nhưng trên danh nghĩa vẫn giữ lễ tôn phụng vua Lê.

Năm 1623, Trịnh Tráng lên nối ngôi cha là Trịnh Tùng vừa qua đời. Trịnh Tráng hai lần gửi trát đòi Nguyễn Phúc Nguyên phải thần phục nộp cống nhưng đều bị cự tuyệt. Năm 1627, Trịnh Tráng thân chinh thống lĩnh 15 vạn quân tiến đánh vào nam, song chiến dịch quân sự hoàn toàn bế tắc. Mặc dù họ Trịnh nắm giữ ưu thế vượt trội về dân số, tiềm lực kinh tế và quân đội chính quy, họ vẫn không thể đánh bại được họ Nguyễn, những người đã thiết lập hệ thống phòng ngự kiên cố bằng Lũy Thầy và trang bị nhiều súng thần cơ hỏa pháo tân tiến do người Bồ Đào Nha chuyển giao.

Cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn phân tranh bùng nổ và giằng co ác liệt từ năm 1627 đến năm 1672. Quân Trịnh mở ít nhất bảy đợt tiến công lớn vào nam nhưng đều thất bại trong việc đánh chiếm Phú Xuân. Có những giai đoạn, bắt đầu từ năm 1651, quân Nguyễn đã chủ động phản công vượt sông Gianh đánh chiếm nhiều châu hạt thuộc đất Trịnh. Tuy nhiên, dưới sự chỉ huy của vị chúa mới là Trịnh Tạc, quân Trịnh đã phản công đẩy lùi quân Nguyễn về bờ nam vào năm 1655. Sau chiến dịch tiến công bất thành cuối cùng vào năm 1672, Trịnh Tạc chấp thuận ngừng chiến và nghị hòa với chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Tần.

Như vậy, từ năm 1600 đến năm 1775, hai dòng họ quyền thế đã chia đôi sơn hà: các chúa Nguyễn cai quản xứ Đàng Trong (miền Nam), trong khi các chúa Trịnh nắm toàn bộ quyền lực ở xứ Đàng Ngoài (miền Bắc).

Dấu ấn của người phương Tây và công cuộc Nam tiến

Một trong những bản đồ phương Tây sớm nhất vẽ về xứ An Nam, do Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651 (hướng bắc quay sang phải).
Giáo sĩ Alexandre de Rhodes, một nhà truyền giáo Dòng Tên có tầm ảnh hưởng lớn tại Việt Nam.
Thánh giá khảm xà cừ gỗ trắc của người Công giáo Việt Nam thế kỷ 19
Ký họa và ghi chép của người Hà Lan về các quan lại Đàng Ngoài (xứ Đàng Ngoài)
Tượng gỗ Bồ Tát Quán Thế Âm nghìn mắt nghìn tay tại Chùa Bút Tháp, Bắc Ninh
Tượng La Hán Bát-đà-nan-đề tại Chùa Tây Phương, Hà Nội (1794). Cả hai pho tượng đều là đỉnh cao nghệ thuật điêu khắc gỗ cổ truyền Việt Nam.

Mối liên hệ giữa thế giới phương Tây với xứ An Nam và ngược lại đã có từ năm 166 SCN với sự xuất hiện của các đoàn thương buôn từ Đế quốc La Mã, tiếp nối bằng chuyến viếng thăm của Marco Polo năm 1292, và phát triển mạnh từ đầu thế kỷ 16 với sự cập bến của các thương nhân Bồ Đào Nha vào năm 1516 cùng các nhà buôn, nhà truyền giáo châu Âu khác. Các linh mục Dòng Tên trong thế kỷ 17 đã đặt nền móng vững chắc cho Công giáo ở cả hai miền Đàng Ngoài và Đàng Trong. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) đến từ Lãnh địa Giáo hoàng đã hoàn thiện công trình của các giáo sĩ Bồ Đào Nha đi trước để hệ thống hóa hệ chữ viết Latinh hóa tiếng Việt là Chữ Quốc ngữ trong cuốn từ điển Từ điển Việt–Bồ–La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) xuất bản năm 1651. Các tác phẩm viết bằng chữ Nôm của giáo sĩ Girolamo Maiorica được đánh giá là một mốc son quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam. Trong hơn hai thế kỷ, đa phần các tài liệu và sách báo tôn giáo Công giáo tại Việt Nam đều được trước tác bằng chữ Nôm. Các giáo sĩ truyền giáo, chủ yếu đến từ Bồ Đào Nha, Ý và Nhật Bản, đã giữ vai trò nòng cốt trong việc truyền bá đức tin mới. Sau bốn thập kỷ, cùng hoạt động với Dòng Tên còn có Hội Thừa sai Paris (MEP), Dòng Đa Minh, Dòng Augustinô Cải tổ và Dòng Phanxicô đến từ các quốc gia sử dụng ngữ tộc Rôman. Đến cuối thế kỷ 18, Công giáo tại Việt Nam đã trở thành một phần ăn sâu bám rễ trong bức tranh văn hóa–xã hội của đất nước, đặc biệt là ở Đàng Ngoài. Tại phủ chúa Đàng Trong, nhiều giáo sĩ còn được trọng dụng làm ngự y, quan chiêm tinh và toán học trong triều đình nhờ tri thức khoa học uyên thâm.

Nhiều nỗ lực của các quốc gia châu Âu nhằm thành lập thương điếm buôn bán lâu dài tại Việt Nam đều không thành công, song các nhà truyền giáo vẫn được cho phép hoạt động trong một thời gian cho đến khi giới quan lại nhận định rằng Kitô giáo (vốn đã thu hút tới một phần mười dân số cải đạo vào năm 1700) là mối đe dọa trực tiếp đối với trật tự luân lý Nho giáo do tôn giáo này cấm đoán hủ tục cúng bái tổ tiên cùng một số nghi lễ truyền thống. Thái độ của chính quyền Việt Nam đối với người châu Âu và đạo Kitô ngày càng trở nên cứng rắn và khắt khe hơn khi họ coi tôn giáo này là tác nhân gây chia rẽ trật tự xã hội, bất chấp việc các tín hữu Công giáo luôn khẳng định triều đình đã hiểu lầm lòng trung quân ái quốc của họ.

Cuộc chiến Trịnh – Nguyễn phân tranh đã tạo cơ hội cho các thương gia châu Âu buôn bán vũ khí và chuyển giao kỹ thuật cho cả hai phía: người Bồ Đào Nha hỗ trợ chúa Nguyễn ở phía Nam, trong khi người Hà Lan giúp đỡ chúa Trịnh ở phía Bắc. Sau cuộc nội chiến, hai xứ Trịnh–Nguyễn duy trì nền hòa bình kéo dài trong khoảng một thế kỷ, giai đoạn mà cả hai miền đều đạt được những thành tựu phát triển đáng kể. Chúa Trịnh thiết lập các cơ quan trung ương quản lý ngân sách và đúc tiền đồng, quy chuẩn hệ thống đo lường theo hệ thập phân, mở các xưởng in khắc sách nhằm giảm phụ thuộc vào nguồn sách nhập từ Trung Hoa, lập trường võ bị và biên soạn nhiều bộ quốc sử.

Cùng lúc đó, các chúa Nguyễn tiếp tục công cuộc mở rộng lãnh thổ về phương nam bằng cách thu phục các vùng đất còn lại của Chăm Pa. Lưu dân người Việt cũng di cư khai khẩn vùng đất thưa thớt dân cư mang tên "Thủy Chân Lạp", tức dải đất hạ lưu Đồng bằng sông Cửu Long từng thuộc Đế quốc Khmer. Từ giữa thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 18, khi Chân Lạp suy yếu do xung đột nội bộ hoàng gia và các cuộc xâm lược của quân Xiêm, các chúa Nguyễn đã áp dụng nhiều biện pháp linh hoạt như hôn nhân chính trị, gây sức ép ngoại giao kết hợp với can thiệp quân sự để từng bước kiểm soát vùng đất quanh Sài Gòn và toàn bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long. Quân đội chúa Nguyễn nhiều lần chạm trán và đánh tan các đạo quân xâm lấn của người Xiêm để xác lập vững chắc tầm ảnh hưởng và chủ quyền trên vùng đất này.

Phong trào Tây Sơn (1778–1802)

Trận chiến bên sông Thọ Xương giữa quân Tây Sơn và quân Thanh vào tháng 12 năm 1788

Năm 1771, phong trào Tây Sơn bùng nổ tại Quy Nhơn, vùng đất khi ấy thuộc quyền cai quản của chúa Nguyễn. Lãnh đạo phong trào khởi nghĩa này là ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ, không có quan hệ huyết thống với gia tộc chúa Nguyễn. Năm 1773, nghĩa quân Tây Sơn đánh chiếm Quy Nhơn và chọn nơi đây làm trung tâm đầu não của cuộc khởi nghĩa. Lực lượng của anh em Tây Sơn nhanh chóng thu hút đông đảo nông dân nghèo, thợ thủ công, giáo dân Kitô giáo, các dân tộc thiểu số tại vùng Tây Nguyên cùng người Chăm, những tầng lớp đã chịu nhiều áp bức bóc lột dưới thời các chúa Nguyễn suốt một thời gian dài, đồng thời cũng lôi cuốn cả tầng lớp thương nhân Hoa kiều, những người hy vọng phong trào Tây Sơn sẽ bãi bỏ chính sách thuế khóa nặng nề của chúa Nguyễn; dù vậy, sự đóng góp của họ về sau bị hạn chế do tâm lý bài Hoa mang tính dân tộc của nghĩa quân Tây Sơn. Đến năm 1776, nghĩa quân Tây Sơn đã chiếm trọn lãnh thổ Đàng Trong của chúa Nguyễn và truy sát gần như toàn bộ gia tộc chúa Nguyễn. Một tông thất may mắn sống sót là hoàng tôn Nguyễn Phúc Ánh (thường gọi là Nguyễn Ánh) đã chạy trốn sang Xiêm La và tìm kiếm viện trợ quân sự từ vua Xiêm. Nguyễn Ánh quay trở lại cùng 5 vạn quân Xiêm hòng giành lại quyền lực, nhưng đạo quân này đã bị đánh tan tác trong Trận Rạch Gầm – Xoài Mút và bản thân Nguyễn Ánh suýt mất mạng. Nguyễn Ánh buộc phải lưu vong rời khỏi Việt Nam, song ông không hề từ bỏ ý chí phục thù.

Việt Nam vào cuối thế kỷ 18.

Đạo quân Tây Sơn dưới sự thống lĩnh của Nguyễn Huệ tiến quân ra bắc vào năm 1786 để tiêu diệt chúa Trịnh là Trịnh Khải. Quân Trịnh tan vỡ, Trịnh Khải tự sát trên đường áp giải. Quân Tây Sơn đánh hạ kinh thành Thăng Long trong chưa đầy hai tháng. Vị vua cuối cùng của nhà Hậu Lê là Lê Chiêu Thống chạy trốn sang Trung Hoa và dâng biểu cầu viện Hoàng đế Càn Long vào năm 1788. Hoàng đế Càn Long phái một đạo quân viễn chinh khổng lồ gồm khoảng 20 vạn lính giúp Lê Chiêu Thống lấy lại ngai vàng. Tháng 12 năm 1788, Nguyễn Huệ, người em thứ hai của nhà Tây Sơn lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung, rồi thống lĩnh 10 vạn quân thần tốc tiến ra bắc, bất ngờ đánh tan quân Thanh trong chiến dịch kéo dài 7 ngày vào đúng dịp Tết Nguyên Đán. Thậm chí có những truyền thuyết dân gian kể rằng Quang Trung còn có kế hoạch bắc phạt đánh sang đất Trung Hoa, dẫu cho thực hư điều này chưa rõ ràng. Dưới thời trị vì của mình, Hoàng đế Quang Trung đã khởi xướng nhiều chính sách cải cách tiến bộ, nhưng ông đột ngột băng hà vì bạo bệnh vào năm 1792 trên đường chuẩn bị nam tiến, hưởng thọ 40 tuổi. Trong thời kỳ trị vì của Hoàng đế Quang Trung, lãnh thổ Đại Việt trên thực tế bị phân chia thành ba thực thể chính trị riêng biệt. Thủ lĩnh phong trào Tây Sơn là Nguyễn Nhạc (Thái Đức Hoàng đế) cai quản miền trung đất nước với kinh đô đặt tại Quy Nhơn. Hoàng đế Quang Trung cai quản vùng đất phía bắc với kinh đô đóng tại Phú Xuân (Huế). Ở phía Nam, ông chính thức tài trợ tài chính và huấn luyện lực lượng Hải tặc Nam Trung Hoa, một trong những liên minh hải tặc hùng mạnh và đáng sợ bậc nhất thế giới vào cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19. Trong khi đó, Nguyễn Ánh được sự phò tá của nhiều hào kiệt phương Nam đã chiếm lại Gia Định (Sài Gòn) vào năm 1788 và xây dựng nơi đây thành một căn cứ địa vững chắc cho lực lượng của mình.

Nhiều tín hữu và giáo sĩ Công giáo đã tử vì đạo tại Đàng Ngoài và Đàng Trong qua các đợt bách hại tôn giáo. 64 vị tử đạo đã được tôn phong Chân phước vào năm 1900, trong đó có 54 vị là người bản địa; 26 vị thuộc Dòng Đa Minh.

Năm 1784, giữa lúc cuộc giao tranh giữa người thừa kế còn sống sót của các chúa Nguyễn là Nguyễn Ánh và triều đại Tây Sơn đang diễn ra quyết liệt, một giám mục người Pháp là Bá Đa Lộc (Pigneaux de Behaine) đã lên đường sang Pháp để tìm kiếm sự hỗ trợ quân sự cho Nguyễn Ánh. Tại cung đình của vua Louis XVI, Bá Đa Lộc đã làm trung gian đàm phán bản Hiệp ước Versailles (1787), theo đó Pháp hứa hẹn viện trợ quân sự để đổi lấy các đặc quyền tô nhượng lãnh thổ tại Việt Nam. Tuy nhiên, do cuộc Cách mạng Pháp bùng nổ, kế hoạch này đã không thể thực hiện trên thực tế. Bá Đa Lộc chuyển hướng đến thuộc địa Puducherry của Pháp tại Ấn Độ, tự mình quyên góp mua hai tàu chiến, tuyển mộ một trung đoàn lính Ấn Độ cùng một nhóm tình nguyện viên người Pháp và trở lại Việt Nam vào năm 1788. Một trong những tình nguyện viên của Bá Đa Lộc là Jean-Marie Dayot đã tổ chức lại lực lượng thủy quân của Nguyễn Ánh theo mô hình châu Âu và đánh bại quân thủy Tây Sơn tại Quy Nhơn vào năm 1792. Vài năm sau, quân Nguyễn Ánh củng cố vững chắc quyền kiểm soát Sài Gòn, nơi Bá Đa Lộc qua đời vào năm 1799. Một tình nguyện viên khác là Victor Olivier de Puymanel sau đó đã thiết kế xây dựng thành Quy kiên cố tại trung tâm Sài Gòn.[cần dẫn nguồn]

Sau khi vua Quang Trung đột ngột qua đời vào tháng 9 năm 1792, triều đình Tây Sơn rơi vào cảnh bất ổn nghiêm trọng khi các anh em còn lại nghi kỵ đánh lẫn nhau và thanh trừng những cận thần trung thành với người con nhỏ của Nguyễn Huệ. Người con trai 10 tuổi của Quang Trung là Nguyễn Quang Toản lên kế vị, lấy hiệu là Cảnh Thịnh Hoàng đế, trở thành vị vua thứ ba của nhà Tây Sơn. Ở phương Nam, chúa Nguyễn Ánh cùng các tướng lĩnh phò tá được sự hậu thuẫn của các lực lượng Pháp, người Hoa kiều, quân Xiêm và các tín đồ Kitô giáo đã mở các chiến dịch thủy bộ tiến quân ra bắc vào năm 1799, đánh chiếm pháo đài Quy Nhơn của Tây Sơn. Đến năm 1801, quân Nguyễn chiếm được kinh đô Phú Xuân (Huế) của Tây Sơn. Nguyễn Ánh cuối cùng đã giành thắng lợi trọn vẹn trong cuộc chiến vào năm 1802 khi vây hãm Thăng Long (Hà Nội) và xử tử Nguyễn Quang Toản cùng nhiều tướng lĩnh, hoàng tộc Tây Sơn. Nguyễn Ánh đăng cơ hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long. Chữ "Gia" lấy từ Gia Định, tên cũ của Sài Gòn; chữ "Long" lấy từ Thăng Long, tên cũ của Hà Nội. Niên hiệu Gia Long vì thế mang hàm nghĩa biểu trưng cho sự thống nhất trọn vẹn non sông. Vương triều Nguyễn cai trị đất nước cho đến khi vua Bảo Đại thoái vị vào năm 1945. Do các triều đại Trung Hoa suốt nhiều thế kỷ thường gọi Đại Việt là An Nam, Gia Long đã đề nghị Hoàng đế nhà Thanh đổi quốc hiệu từ An Nam thành Nam Việt. Để tránh nhầm lẫn giữa vương quốc của Gia Long với quốc gia cổ đại của Triệu Đà, Hoàng đế Mãn Thanh đã đảo ngược trật tự hai từ thành Việt Nam. Quốc hiệu Việt Nam từ đó chính thức được xác lập và sử dụng rộng rãi kể từ thời vua Gia Long. Dù vậy, các nhà sử học hiện đại đã phát hiện ra danh xưng này từng xuất hiện trong các trước tác cổ xưa hơn khi người Việt tự gọi bờ cõi của mình là Việt Nam.[cần dẫn nguồn]

Thời kỳ phân liệt đẫm máu với muôn vàn biến cố lịch sử thăng trầm đã trở thành nguồn cảm hứng lớn cho thi ca và đặt nền móng cho những kiệt tác văn học trường tồn của Việt Nam, tiêu biểu như tác phẩm truyện thơ kinh điển Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) của đại thi hào Nguyễn Du, thi phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm, cùng chùm thơ trào phúng, phong tình đầy phá cách của nữ thi sĩ tài hoa Hồ Xuân Hương.

Nhà Nguyễn (1802–1945)

Thời kỳ Việt Nam thống nhất (1802–1862)

Việt Nam thời nhà Nguyễn (1802–1945)
Phân cấp hành chính Việt Nam năm 1838
Cửa Ngọ Môn tại Kinh thành Huế, một Di sản thế giới của UNESCO.
Hoàng đế Gia Long (trị vì 1802–1820)
Kim ấn của Hoàng đế Gia Long

Sau khi đánh bại phong trào Tây Sơn, Gia Long đã thống nhất toàn bộ lãnh thổ Việt Nam dưới sự cai trị của triều Nguyễn vào năm 1802. Các hoàng đế sơ kỳ triều Nguyễn đã tiếp nối nhiều nỗ lực tái thiết đất nước của các triều đại tiền nhiệm: mở mang đường sá quan lộ, đào kênh rạch thủy lợi, ban hành bộ luật mới (Hoàng Việt luật lệ), tổ chức các khoa thi chọn hiền tài, lập viện tế bần chăm sóc người bệnh tật, khảo sát vẽ bản đồ và biên soạn các bộ quốc sử quy mô lớn, đồng thời xác lập ảnh hưởng chính trị và quân sự sâu rộng lên Campuchia và Ai Lao.

Vua Gia Long thi hành chính sách bao dung đối với Công giáo và trọng dụng một số người phương Tây trong triều đình làm quan cố vấn. Tuy nhiên, các vị vua kế vị ông lại là những nhà Nho bảo thủ hơn và kiên quyết cưỡng lại các luồng ảnh hưởng phương Tây hóa. Minh Mạng bắt đầu củng cố thể chế quân chủ trung ương tập quyền nghiêm ngặt theo các nguyên lý Tống Nho và tìm cách vô hiệu hóa ảnh hưởng của đạo Công giáo. Vua Minh Mạng, cùng với các vị vua nối nghiệp là Thiệu Trị và Tự Đức, đã thi hành chính sách đàn áp Công giáo gay gắt và thực thi đường lối bế quan tỏa cảng nghiêm ngặt do coi người phương Tây là mối đe dọa an ninh, đặc biệt là sau các biến cố như cuộc Khởi nghĩa Lê Văn Khôi khi giáo sĩ người Pháp Joseph Marchand (Cố Du) bị cáo buộc đã kích động các tín hữu Công giáo địa phương nổi dậy nhằm mưu lập một hoàng đế theo đạo. Người Công giáo, bao gồm cả giáo dân Việt Nam lẫn các giáo sĩ ngoại quốc, đều phải gánh chịu những cuộc bắt bớ, bách hại khốc liệt. Các cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình nhà Nguyễn bùng nổ liên miên, với hàng trăm cuộc nổi dậy được ghi chép trong sử sách thời kỳ này. Hoạt động ngoại thương với phương Tây bị ngưng trệ và suy giảm rõ rệt. Những chính sách bế quan tỏa cảng và các đợt đàn áp tôn giáo này nhanh chóng bị thực dân Pháp lợi dụng làm cái cớ để nổ súng xâm lược Việt Nam.

Quan hệ với Trung Hoa

Theo một nghiên cứu năm 2018 đăng trên tạp chí Journal of Conflict Resolution nghiên cứu về quan hệ Việt Nam – Trung Hoa giai đoạn từ 1365 đến 1841, mối quan hệ bang giao giữa hai nước có thể được đặc trưng như một "hệ thống triều cống tôn ti thứ bậc". Nghiên cứu chỉ ra rằng "triều đình Việt Nam công khai thừa nhận vị thế bất bình đẳng của mình trong mối quan hệ bang giao với Trung Hoa thông qua một loạt các định chế và quy phạm nghi lễ ngoại giao. Giới cầm quyền Việt Nam cũng dành rất ít sự chú ý về mặt quân sự đối với biên giới phía bắc giáp Trung Hoa. Thay vào đó, các nhà lãnh đạo Việt Nam rõ ràng quan tâm nhiều hơn đến việc dẹp yên tình trạng bất ổn triền miên trong nội bộ đất nước và xử lý quan hệ ngoại giao với các vương quốc láng giềng ở phía nam và phía tây."

Thời kỳ Pháp thuộc (1862–1945)

Pháp xâm lược Việt Nam (1858–1887)

Quá trình Pháp xâm lược Việt Nam (1858–1885)
Liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công Sài Gòn, tháng 2 năm 1859
Lính Zouave giao tranh với quân Việt tại vùng ngoại vi Sài Gòn, 1859
Liên quân Pháp – Tây Ban Nha đánh chiếm thành Vĩnh Long, tháng 3 năm 1862
Quân Pháp đánh chiếm Hà Nội, tháng 11 năm 1873
Pháo binh Pháp chuẩn bị công phá cổng thành Hà Nội, tháng 4 năm 1882
Quân Thanh xung phong trong trận vây hãm Tuyên Quang, Chiến tranh Pháp – Thanh, tháng 2 năm 1885

Đế quốc thực dân Pháp can dự sâu sắc vào tình hình Việt Nam từ thế kỷ 19; các hành động can thiệp quân sự của Pháp thường được tiến hành dưới chiêu bài bảo vệ hoạt động truyền giáo của Hội Thừa sai Paris tại bản địa. Nhằm đáp trả hàng loạt vụ việc các thừa sai Công giáo bị bắt bớ, ngược đãi và thậm chí bị xử tử, đồng thời mưu toan bành trướng tầm ảnh hưởng của Pháp tại châu Á, Napoléon III đã lệnh cho Đô đốc Charles Rigault de Genouilly chỉ huy 14 chiến hạm nổ súng tấn công cảng Đà Nẵng (Tourane) vào năm 1858. Cuộc tiến công gây ra nhiều thiệt hại vật chất nặng nề nhưng quân viễn chinh không thể mở rộng được bàn đạp chiếm đóng, lại bị hao tổn binh lực vì khí hậu ẩm thấp cùng bệnh dịch nhiệt đới. De Genouilly quyết định chuyển hướng hải trình xuống phía nam và đánh chiếm tòa thành có lực lượng phòng thủ mỏng manh là thành Gia Định (Sài Gòn). Kể từ năm 1859 trong trận vây hãm Sài Gòn cho tới năm 1867, quân viễn chinh Pháp đã mở rộng quyền kiểm soát lên toàn bộ sáu tỉnh Nam Kỳ (Nam Kỳ lục tỉnh) và thiết lập nên một xứ thuộc địa mang tên Nam Kỳ (Cochinchina).

Vài năm sau đó, quân Pháp đổ bộ lên miền Bắc (nơi họ gọi là Tonkin) và hai lần đánh chiếm Hà Nội vào các năm 1873 và 1882. Thực dân Pháp đã duy trì được thế kìm kẹp tại Bắc Kỳ dù cả hai viên chỉ huy tối cao của họ là Francis Garnier và Henri Rivière đều trúng phục kích tử trận khi giao chiến với đội quân Cờ Đen do triều đình thuê mướn. Triều đình nhà Nguyễn cuối cùng đã đầu hàng Pháp qua Hiệp ước Quý Mùi (1883), đánh dấu kỷ nguyên thuộc địa (1883–1954) trong lịch sử Việt Nam. Nước Pháp xác lập quyền kiểm soát trên toàn cõi Việt Nam sau Chiến dịch Bắc Kỳ (1883–1886). Liên bang Đông Dương được thành lập vào tháng 10 năm 1887 bao gồm An Nam (Trung Kỳ), Bắc Kỳ và thuộc địa Nam Kỳ, sau đó sáp nhập thêm Campuchia và Lào vào năm 1893. Trong cơ cấu Liên bang Đông Dương, Nam Kỳ giữ quy chế thuộc địa trực trị, trong khi Trung Kỳ và Bắc Kỳ trên danh nghĩa là hai xứ bảo hộ của Pháp, nơi triều đình nhà Nguyễn trên pháp lý (de jure) vẫn giữ ngai vàng cai trị.

Quân kỳ triều Nguyễn trong thời kỳ Pháp thuộc, 1920–1945.

Sau khi triều đình nhà Nguyễn để mất Gia Định, đảo Côn Lôn và ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ vào tay Pháp thông qua Hiệp ước Sài Gòn ký kết giữa triều đình Huế với Pháp và Tây Ban Nha năm 1862, nhiều phong trào kháng chiến ở phương nam đã khước từ việc thi hành hiệp ước và kiên quyết tiếp tục đánh giặc. Một số phong trào do các cựu quan lại triều đình lãnh đạo như Trương Định, một số khác do nông dân và quần chúng lao động khởi xướng như nghĩa quân của Nguyễn Trung Trực, người đã dùng lối đánh du kích tập kích đánh chìm chiến hạm L'Espérance của Pháp. Ở miền Bắc, phần lớn các phong trào do tầng lớp sĩ phu lãnh đạo và lực lượng nghĩa binh xuất thân từ đông đảo quần chúng nông thôn. Tinh thần chống ngoại xâm sục sôi sâu rộng khắp các làng quê, nơi tập trung tới hơn 90% dân số cả nước bởi thực dân Pháp đã vơ vét thu gom phần lớn lúa gạo xuất khẩu, gây nên nạn đói kém suy dinh dưỡng triền miên từ thập niên 1880 trở đi. Hơn thế nữa, truyền thống quật cường chống ngoại xâm hàng ngàn năm là cội nguồn sức mạnh khiến tuyệt đại đa số quần chúng đứng lên chống lại ách xâm lăng của thực dân Pháp. Dẫu vậy, Việt Nam vẫn bị biến thành hai xứ bảo hộ dưới quyền cai trị của Pháp thông qua Hiệp ước năm 1883, được tái khẳng định bằng Hiệp ước Patenôtre (1884).

Một số phong trào kháng chiến đã kiên trì chiến đấu suốt nhiều thập niên, tiêu biểu như cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo tại miền Trung kéo dài đến năm 1896, hay tại vùng núi non hiểm trở phía Bắc, nghĩa quân Yên Thế dưới sự chỉ huy của Đề Thám (Hoàng Hoa Thám) đã kiên cường kháng cự tới tận năm 1911. Thậm chí vị hoàng đế trẻ tuổi của triều Nguyễn là Hàm Nghi đã rời khỏi Hoàng thành Huế vào năm 1885 cùng Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết, ban bố chiếu Cần Vương kêu gọi bách tính đứng lên giúp vua cứu nước. Ông bị phản bội bắt giữ vào tháng 11 năm 1888 và bị thực dân Pháp đày sang Algérie thuộc Pháp.

Tại Campuchia, vùng lãnh thổ cũng sáp nhập vào Đông Dương cùng với Việt Nam, người Pháp đã khôi phục lại Vương quốc Campuchia dưới quy chế Xứ bảo hộ thoát khỏi ách kiểm soát của kẻ xâm chiếm trước đó là Thái Lan, quốc gia từng nhiều lần xâm lấn và tàn phá xứ sở này. Động thái này cũng hoàn tất lời hứa lịch sử của chính quyền Philippines thuộc Tây Ban Nha về việc hỗ trợ khôi phục nền quân chủ Campuchia, một cam kết sau cùng đã được hiện thực hóa bởi các lực lượng Pháp và người Việt, khi cả hai nhóm cộng đồng này phần lớn đều theo Công giáo. Đến năm 1887, các xứ bảo hộ và thuộc địa tại Việt Nam chính thức trở thành các thực thể cấu thành của Liên bang Đông Dương.

Nghĩa quân của phong trào Văn Thân và Cần Vương đã sát hại khoảng một phần ba số tín đồ Công giáo tại Việt Nam trong các cuộc giao tranh kháng chiến. Nhiều thập niên sau đó, thêm hai vị vua yêu nước khác của triều Nguyễn là Thành Thái và Duy Tân cũng bị phế truất và lưu đày sang châu Phi vì có tư tưởng chống Pháp. Vua Thành Thái bị truất ngôi với cái cớ mắc bệnh tâm thần, trong khi vua Duy Tân bị bắt giữ khi tham gia mưu đồ khởi nghĩa cùng chí sĩ Trần Cao Vân. Dù vậy, sự thiếu thốn vũ khí trang bị hiện đại đã khiến các phong trào khởi nghĩa vũ trang truyền thống không thể đối đầu trực diện lâu dài với quân đội viễn chinh Pháp. Các cuộc nổi dậy chống Pháp do tầng lớp quan lại, văn thân khởi xướng về căn bản vẫn mang mục tiêu khôi phục lại trật tự xã hội phong kiến cũ. Tuy nhiên, bước sang những năm 1900, một thế hệ trí thức người Việt mới bắt đầu trưởng thành, những người chưa từng sống trong xã hội tiền thuộc địa. Những nhà hoạt động trẻ tuổi này nung nấu ý chí giành lại độc lập không kém các bậc tiền nhân, nhưng họ nhận thức sâu sắc rằng việc quay trở lại chế độ phong kiến là bất khả thi, và đất nước đòi hỏi phải tiếp thu khoa học kỹ thuật hiện đại cùng các thể chế chính trị tân tiến. Chịu ảnh hưởng từ các trào lưu tư tưởng triết học phương Tây, họ hướng tới mục tiêu thiết lập một thể chế cộng hòa sau khi giành độc lập, đoạn tuyệt với tư tưởng quân chủ trung quân của phong trào Cần Vương. Một số sĩ phu đã lập ra các hội kín yêu nước tại Nhật Bản, quốc gia bấy giờ được coi là hình mẫu lý tưởng (một quốc gia châu Á duy tân hiện đại hóa thành công mà vẫn bảo tồn vẹn nguyên bản sắc văn hóa và định chế truyền thống).[cần dẫn nguồn]

Liên bang Đông Dương và phong trào dân tộc Việt Nam (1887–1945)

Phan Bội Châu (ngồi) và Kỳ Ngoại hầu Cường Để tại Nhật Bản, khoảng năm 1907
Phan Châu Trinh, nhà lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc theo đường lối cải cách dân chủ hòa bình

Vào đầu thế kỷ 20, hai phong trào duy tân cải cách đã xuất hiện song hành. Phong trào thứ nhất là phong trào Đông Du do chí sĩ Phan Bội Châu khởi xướng vào năm 1905. Kế sách của Phan Bội Châu là đưa các thanh niên Việt Nam ưu tú sang Đế quốc Nhật Bản du học để tiếp thu tri thức hiện đại, nhằm đào tạo lực lượng nòng cốt lãnh đạo cuộc khởi nghĩa vũ trang đánh đuổi thực dân Pháp trong tương lai. Cùng với Kỳ Ngoại hầu Cường Để, ông đã thành lập hai tổ chức cách mạng tại Nhật Bản: Duy Tân hội và Việt Nam Công Hiến Hội. Dưới sức ép ngoại giao nặng nề từ phía Pháp, chính quyền Nhật Bản sau đó đã trục xuất Phan Bội Châu cùng các du học sinh Việt Nam. Trong khi đó, chí sĩ Phan Châu Trinh, người chủ trương đấu tranh ôn hòa bất bạo động để giành độc lập, đã dẫn dắt phong trào thứ hai mang tên Phong trào Duy Tân, tập trung vào việc khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, mở mang kinh tế thương mại, thúc đẩy sự hiểu biết hòa giải giữa người Pháp và người Việt, đồng thời hướng tới sự chuyển giao quyền lực trong hòa bình. Năm 1907, ông cùng các đồng chí như Lương Văn Can, Nguyễn Quyền thành lập trường học yêu nước đổi mới tại Hà Nội cho thanh thiếu niên nam nữ người Việt. Ngôi trường mang tên Đông Kinh Nghĩa Thục, sử dụng các tài liệu tân thư được dịch thuật như Đại đồng thư của Khang Hữu Vi và Ẩm Băng thất tùng thư của Lương Khải Siêu. Phan Châu Trinh tham gia giảng dạy tại trường, đồng thời các tác phẩm của Sào Nam (Phan Bội Châu) cũng được đưa vào giảng huấn. Lương Văn Can đảm trách chức Hiệu trưởng, Nguyễn Quyền giữ cương vị Giám học. Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Duy Tốn chịu trách nhiệm đứng tên xin giấy phép mở trường. Tôn chỉ hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục là mở mang dân trí mà không thu học phí. Tư tưởng của nhà trường lên án chế độ thực dân Pháp tàn bạo nhưng đồng thời chủ trương học tập văn minh hiện đại hóa từ phương Tây. Nhà trường khuyến khích giới trí thức từ bỏ lối học tầm chương trích cú hủ Nho để hòa mình học hỏi từ quần chúng nhân dân, đồng thời đem lại cho tầng lớp bình dân nền giáo dục hiện đại. Giai đoạn đầu thế kỷ 20 cũng chứng kiến sự khẳng định vị thế vững chắc của hệ chữ viết Latinh hóa Chữ Quốc ngữ. Các nhà ái quốc nhận thức rõ tiềm năng to lớn của chữ Quốc ngữ như một công cụ đắc lực để xóa nạn mù chữ và giáo dục đại chúng trong thời gian ngắn. Chữ Hán truyền thống hay chữ Nôm dần bị xem là quá rườm rà và khó tiếp thu đối với số đông. Văn xuôi hiện đại trong văn học cũng phát triển bùng nổ với sự ra đời của hàng loạt tiểu thuyết mới; tiêu biểu nhất là các trước tác của nhóm văn bút Tự Lực văn đoàn.[cần dẫn nguồn]

Vũ Hồng Khanh, nhà cách mạng quốc gia và là một lãnh tụ của VNQDĐ, khoảng năm 1927

Trước sự đàn áp khốc liệt của chính quyền thực dân đối với cả hai phong trào cải cách, cùng với việc chứng kiến làn sóng cách mạng bùng nổ tại Trung Quốc và Nga, các nhà cách mạng Việt Nam bắt đầu chuyển hướng sang những phương thức đấu tranh quyết liệt hơn. Phan Bội Châu thành lập Việt Nam Quang phục Hội tại Quảng Châu, lên kế hoạch đấu tranh vũ trang đánh đuổi thực dân Pháp. Năm 1925, mật thám Pháp bắt cóc ông tại Thượng Hải và áp giải về Việt Nam. Nhờ uy tín và làn sóng phản đối mạnh mẽ của quần chúng, Phan Bội Châu thoát án tử hình và bị đưa về giam lỏng tại Bến Ngự (Huế) cho đến khi qua đời vào năm 1940. Năm 1927, Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) được thành lập theo mô hình của Quốc dân Đảng Trung Quốc. Đảng này đã phát động cuộc Khởi nghĩa Yên Bái bằng vũ lực vào năm 1930 tại Bắc Kỳ, nhưng phong trào thất bại khiến Chủ tịch đảng là Nguyễn Thái Học cùng nhiều lãnh tụ cốt cán khác bị thực dân Pháp bắt giữ và đưa lên máy chém hành quyết.

Chủ nghĩa Marx cũng bắt đầu thâm nhập vào Việt Nam với sự xuất hiện của ba tổ chức cộng sản riêng rẽ: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, cùng phong trào Trot-kít do Tạ Thu Thâu dẫn đầu. Năm 1930, Quốc tế Cộng sản (Comintern) cử Nguyễn Ái Quốc tới Hồng Kông để chủ trì hội nghị hợp nhất các tổ chức này thành Đảng Cộng sản Việt Nam, với Trần Phú được bầu làm Tổng Bí thư đầu tiên. Sau đó, đảng đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương do Quốc tế Cộng sản dưới thời Stalin không chủ trương đề cao các khuynh hướng dân tộc biệt lập. Là một nhà cách mạng cánh tả hoạt động tại Pháp từ năm 1911, Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) từng tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và đến năm 1924 sang Liên Xô làm việc cho Quốc tế Cộng sản. Cuối thập niên 1920, ông hoạt động với tư cách phái viên của Quốc tế Cộng sản nhằm gây dựng và chỉ đạo phong trào cộng sản tại Đông Nam Á. Lực lượng cộng sản đã phát động các cuộc nổi dậy quy mô lớn như phong trào Xô Viết Nghệ – Tĩnh (1930–1931) và cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940 chống lại ách thống trị thực dân Pháp, nhưng đều bị dìm trong biển máu.

Chiến tranh thế giới thứ hai và Tuyên ngôn Độc lập

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, quân đội Nhật Bản đã tiến vào xâm chiếm Đông Dương vào tháng 9 năm 1940, nhưng vẫn duy trì bộ máy hành chính thuộc địa của Pháp Vichy như một chính quyền bù nhìn phục vụ cho quân đội chiếm đóng. Năm 1941, Hồ Chí Minh bí mật trở về miền Bắc Việt Nam và thành lập Mặt trận Việt Minh. Mặc dù được thành lập như một liên minh rộng rãi tập hợp mọi tầng lớp nhân dân đấu tranh vì nền độc lập dân tộc và một nhà nước dân chủ cộng hòa, Mặt trận Việt Minh trên thực tế (de facto) do Đảng Cộng sản lãnh đạo toàn diện. Việt Minh từng bước xây dựng các đơn vị vũ trang cách mạng ban đầu và trong suốt thời gian chiến tranh đã phối hợp với Cơ quan Tình báo Chiến lược Hoa Kỳ (OSS) để chia sẻ tin tức tình báo về hoạt động của quân Nhật.

Hồ Chí Minh (thứ ba từ trái sang, đứng) chụp cùng các nhân viên tình báo OSS của Hoa Kỳ năm 1945
Cờ của Đại Việt Quốc dân Đảng và Việt Nam Quốc Dân Đảng

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân đội Nhật Bản tiến hành cuộc đảo chính quân sự, tước bỏ toàn bộ quyền cai trị của chính quyền Pháp Vichy tại Đông Dương. Dưới sự bảo hộ chiếm đóng của quân đội Nhật, Hoàng đế Bảo Đại tuyên bố thành lập chính thể ngắn ngủi mang tên Đế quốc Việt Nam, bổ nhiệm học giả Trần Trọng Kim làm Thủ tướng chính phủ. Trong giai đoạn 1944–1945, một thảm họa nạn đói nghiêm trọng đã bùng phát tại miền Bắc và miền Trung, cướp đi sinh mạng của từ 600.000 đến 2.000.000 người dân.

Sự thất trận đầu hàng của Đế quốc Nhật Bản trước Khối Đồng Minh đã tạo ra một khoảng trống quyền lực to lớn, tạo thời cơ cho các phong trào dân tộc Việt Nam vùng lên giành chính quyền vào tháng 8 năm 1945, buộc Hoàng đế Bảo Đại phải thoái vị và đặt dấu chấm hết cho triều đại Nhà Nguyễn vào ngày 25 tháng 8. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại vườn hoa Ba Đình (nay là Quảng trường Ba Đình), Chủ tịch Hồ Chí Minh đại diện cho Mặt trận Việt Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, chính thức khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Thời kỳ hiện đại (1945–nay)

Chiến tranh Đông Dương (1945–1954)

Sự hình thành các phe đối địch

Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến lâm thời giữa Việt Minh và các phe phái quốc gia đầu năm 1946 tại miền Bắc Việt Nam.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) tại Hà Nội. Cùng ngày hôm đó, Nhật Bản ký văn kiện đầu hàng trước phe Đồng Minh, đánh dấu sự kết thúc chính thức của Chiến tranh thế giới thứ hai. Tuy nhiên, liên quân Anh – Pháp đã tiến quân chiếm đóng Việt Nam từ phía nam vĩ tuyến 16. Người Pháp nuôi ý định tái lập quyền kiểm soát thuộc địa, trong khi các lực lượng người Việt cộng sản và không cộng sản rơi vào các cuộc xung đột nội bộ gay gắt. Vùng miền Bắc Việt Nam bị quân đội Trung Hoa Dân Quốc do tướng Lư Hán chỉ huy chiếm đóng, nhưng sau đó Pháp đạt được thỏa thuận với chính phủ Trung Hoa để đưa quân ra Bắc, buộc chính phủ Việt Minh phải ký hiệp ước hòa hoãn với Pháp và chấp thuận cho quân Pháp trở lại. Việc quân đội Anh và Trung Hoa Dân Quốc tiến vào giải giáp quân Nhật và mở đường cho Pháp quay lại Đông Dương vốn đã được các cường quốc Đồng Minh phê chuẩn từ trước. Cho tới trước năm 1950, chưa có bất kỳ quốc gia nào công nhận chính phủ VNDCCH do Việt Minh lãnh đạo.

Ngày 6 tháng 3 năm 1946, một bản hiệp định sơ bộ được ký kết giữa đại diện Việt Minh và Pháp, theo đó Pháp công nhận VNDCCH là một quốc gia tự do nằm trong Khối Liên hiệp Pháp, trong khi Nam Kỳ vẫn tạm thời dưới quyền cai trị của Pháp. Khối Liên hiệp Pháp chính thức được thành lập vào ngày 27 tháng 10 năm 1946 khi nước Pháp thông qua bản hiến pháp mới. Bản hiệp định sơ bộ quy định quân đội Pháp chỉ được đồn trú tại Việt Nam trong thời hạn tối đa 5 năm. Phía Việt Minh sau đó yêu cầu độc lập hoàn toàn và thống nhất đất nước trong khuôn khổ Khối Liên hiệp Pháp, song phe hữu của de Gaulle chỉ chấp thuận nền tự trị danh nghĩa cho Việt Nam, đồng thời lập luận rằng địa vị quy chế của Nam Kỳ phải được định đoạt qua một cuộc trưng cầu dân ý. Việt Minh cùng tồn tại tạm thời với người Pháp, và sau khi quân đội Trung Hoa rút đi, đã phối hợp với phía Pháp để trấn áp các lực lượng dân tộc chủ nghĩa chống cộng đối lập; ước tính khoảng 15.000 người thuộc các phe phái quốc gia đã bị thanh trừng trên khắp miền Bắc trong mùa hè năm 1946. Nhiều phe phái người Việt kịch liệt lên án việc Pháp lập ra chính thể Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ. Quân đội Việt Minh cũng kiên quyết không chịu đặt dưới quyền chỉ huy của quân Pháp, dẫn tới các vụ đụng độ rải rác và việc dựng chướng ngại vật chiến lũy tại Hà Nội.

Trung Quốc viện trợ cho lực lượng Việt Minh nhiều xe tải GAZ-51 do Liên Xô chế tạo trong cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất.
Binh lính Pháp bị bắt sau trận Điện Biên Phủ, dưới sự áp giải của bộ đội Việt Minh, trên đường tới trại tù binh năm 1954

Tháng 1 năm 1946, Việt Nam tổ chức cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên. Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội biểu quyết thông qua vào đầu tháng 11 năm 1946.[cần dẫn nguồn]

Chiến tranh bùng nổ toàn diện

Vào cuối năm 1946, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về từ Pháp, quân đội Pháp đã nổ súng bắn phá Hải Phòng khiến hơn 6.000 người thiệt mạng. Chính phủ VNDCCH sau đó đã phát động tấn công các vị trí đồn trú của Pháp tại Hà Nội, chính thức mở đầu cuộc Chiến tranh Đông Dương vào ngày 19 tháng 12 năm 1946. Trong Chiến dịch Léa năm 1947, quân Pháp đã gây nhiều tổn thất cho lực lượng Việt Minh. Tuy nhiên, chiến dịch không đạt được mục tiêu chiến lược do thất bại trong việc vây bắt cơ quan đầu não kháng chiến cũng như không thể tiêu diệt lực lượng vũ trang chủ lực của Việt Minh. Năm 1947, sau khi Việt Minh từ chối các điều kiện đầu hàng, chính quyền Pháp xúc tiến tìm kiếm một giải pháp chính trị chống cộng đối trọng với Việt Minh. Nước Pháp quyết định đưa cựu hoàng Bảo Đại quay trở lại chính trường. Các phe phái chống cộng người Việt đã thành lập một liên minh chính trị tại Nam Kinh vào tháng 2 năm 1947, ủng hộ thỏa hiệp hợp tác với Pháp qua "Giải pháp Bảo Đại". Chính phủ Trung ương lâm thời Việt Nam được thành lập vào tháng 5 năm 1948 và sau đó ký hiệp ước sơ bộ với Pháp trên Vịnh Hạ Long vào ngày 5 tháng 6, tái hợp nhất một phần các xứ bảo hộ Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Sau quá trình đàm phán giữa chính phủ cánh tả mới của Pháp với các chính khách chống cộng người Việt do Bảo Đại đứng đầu, Pháp đã công nhận nền độc lập trên danh nghĩa của Việt Nam trong khuôn khổ Khối Liên hiệp Pháp và từ bỏ quy chế thuộc địa đối với Nam Kỳ qua Hiệp ước Élysée ngày 8 tháng 3 năm 1949, dẫn tới sự ra đời của Quốc gia Việt Nam với thủ đô đặt tại Sài Gòn. Hiệp định chính thức có hiệu lực vào ngày 14 tháng 6 năm 1949. Văn bản này được Quốc hội Pháp phê chuẩn vào ngày 29 tháng 1 năm 1950 và được Tổng thống Pháp Vincent Auriol ký ban hành vào ngày 2 tháng 2, bãi bỏ hoàn toàn hiệu lực của Hiệp ước Patenôtre (1884).

Cuộc chiến chống thực dân chuyển hóa trong Chiến tranh Lạnh

Áp phích tuyên truyền chống cộng của Quốc gia Việt Nam: "Đây là [chân chính] quốc kỳ của Việt Nam", năm 1951.

Việc thành lập một nhà nước chống cộng tại Việt Nam đã biến cuộc chiến tranh thuộc địa của Pháp thành một phần của cục diện Chiến tranh Lạnh; người Pháp tìm cách tái chiếm Đông Dương dưới chiêu bài chống cộng và hậu thuẫn cho Quốc gia Việt Nam. Hoa Kỳ chính thức công nhận Quốc gia Việt Nam vào ngày 3 tháng 2 năm 1950 và thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 17 tháng 2. Ngày 7 tháng 9 năm 1951, Hoa Kỳ ký hiệp ước với Quốc gia Việt Nam nhằm viện trợ kinh tế trực tiếp, trong khi viện trợ quân sự vẫn được chuyển qua đầu mối quân đội Pháp cho đến tháng 2 năm 1955. Nước Pháp chấp nhận nền độc lập tương lai của Việt Nam với điều kiện các lợi ích của Pháp phải được bảo đảm thông qua Khối Liên hiệp Pháp. Dù trên thực tế vẫn bị Pháp chi phối, Việt Nam đã có quyền tự trị lớn hơn trước. Lãnh thổ Nam Kỳ được sáp nhập trở lại sau các thủ tục pháp lý vào tháng 6 năm 1949, và Quốc gia Việt Nam chính thức tuyên bố thành lập vào tháng 7 với Bảo Đại giữ cương vị Quốc trưởng. Ngày 8 tháng 12 năm 1950, Quốc gia Việt Nam được phép thành lập lực lượng quân đội riêng (Quân đội Quốc gia Việt Nam), tham chiến sát cánh cùng quân viễn chinh Pháp chống lại lực lượng Việt Minh. Về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, kể từ khi được công nhận ngoại giao vào năm 1950, chính phủ đã nhận được sự viện trợ vũ khí, trang thiết bị quân sự và hậu cần to lớn từ Trung Quốc và Liên Xô.

Do ngày càng rơi vào thế bất lợi trên chiến trường, Pháp buộc phải đẩy nhanh quá trình chuyển giao quyền lực cho chính quyền Quốc gia Việt Nam. Sau cùng, thất bại mang tính quyết định trước lực lượng Việt Minh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 đã buộc Pháp phải chấp nhận từ bỏ các thuộc địa tại Đông Dương. Ngày 30 tháng 12 năm 1954, Liên bang Đông Dương chính thức bị giải thể hoàn toàn. Đến tháng 12 năm 1955, Quốc gia Việt Nam chính thức rút lui khỏi Khối Liên hiệp Pháp.

Thời kỳ chia cắt và Chiến tranh Việt Nam (1954–1975)

Miền Bắc và miền Nam Việt Nam (1954–1975)

Sự chia cắt kéo dài

Phó Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon B. Johnson thăm một nhà máy dệt tại Sài Gòn, miền Nam Việt Nam, tháng 5 năm 1961

Tại Trung Quốc, lực lượng cộng sản dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông đã lập nên nhà nước mới vào tháng 10 năm 1949 sau thắng lợi trong cuộc nội chiến. Liên Xô công nhận chính phủ Việt Minh vào đầu năm 1950. Dưới sức ép từ Stalin, phong trào Việt Minh chính thức công khai bản chất là một tổ chức cộng sản. Bất chấp những viện trợ quân sự từ Hoa Kỳ từ năm 1950 trở đi, người Pháp buộc phải từ bỏ quyền kiểm soát Đông Dương sau khi bị quân đội Việt Minh với sự chi viện đắc lực từ Trung Quốc từ năm 1950 đánh bại hoàn toàn vào năm 1954. Sự viện trợ của Trung Quốc đã giúp kiện toàn bộ máy chính quyền cũng như tăng cường đáng kể năng lực tác chiến của quân đội Việt Minh. Hoa Kỳ chuyển hướng sang ủng hộ chính thể tư bản chống cộng của Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại đứng đầu. Ngày 21 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Genève được ký kết giữa đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp, tạm thời chia cắt Việt Nam tại vĩ tuyến 17; chính phủ VNDCCH của Chủ tịch Hồ Chí Minh quản lý miền Bắc với thủ đô đặt tại Hà Nội, trong khi chính quyền Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại quản lý miền Nam với thủ đô đặt tại Sài Gòn. Tháng 10 năm 1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tiến hành phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, biến Quốc gia Việt Nam thành Việt Nam Cộng hòa (miền Nam Việt Nam) và trở thành Tổng thống đầu tiên của chính thể tư bản chống cộng này.

Vào tháng 10 năm 1956, Việt Nam Cộng hòa (VNCH) thành lập Quốc hội riêng và ban hành bản hiến pháp đầu tiên. Ngày 28 tháng 4 năm 1956, những đơn vị quân đội Pháp cuối cùng rời khỏi miền Nam Việt Nam dưới sức ép từ phía Hoa Kỳ và chính quyền Ngô Đình Diệm. Theo tinh thần của Hiệp định Genève năm 1954, một cuộc tổng tuyển cử tự do trên quy mô toàn quốc nhằm thống nhất đất nước dự kiến sẽ được tổ chức vào tháng 7 năm 1956. Phía chính quyền Quốc gia Việt Nam chống cộng phản đối việc chia cắt đất nước, lên án Bộ Tổng chỉ huy quân đội Pháp vì đã nhượng lại miền Bắc cho lực lượng cộng sản và tự ý ấn định thời hạn tổng tuyển cử. Hoa Kỳ chỉ đơn thuần "ghi nhận" các thỏa thuận đình chiến và tuyên bố sẽ "kiềm chế, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực để cản trở các thỏa thuận này". Lo ngại chính thể Việt Nam Cộng hòa non trẻ sẽ thất thủ trước làn sóng cộng sản, Hoa Kỳ đã tăng cường các nỗ lực ngăn chặn sự bành trướng của khối xã hội chủ nghĩa từ phương Bắc và hạn chế ảnh hưởng của Liên Xô. Để bảo vệ đồng minh trước nguy cơ bị kiểm soát, Hoa Kỳ đã tái cơ cấu Đoàn Cố vấn Viện trợ Quân sự (MAAG) tại Đông Dương thành các đơn vị chuyên biệt cho từng quốc gia, và MAAG Việt Nam chính thức được thành lập vào ngày 1 tháng 11 năm 1955. Sự chia cắt chính thức có hiệu lực đi kèm thời hạn 300 ngày theo quy định của Hiệp định Genève cho phép người dân tự do di cư giữa hai miền. Gần một triệu người miền Bắc (chủ yếu là đồng bào Công giáo) đã di cư vào miền Nam trong Chiến dịch Con đường đến Tự do, trong khi có khoảng từ 14.000 đến 45.000 thường dân cùng xấp xỉ 100.000 cán bộ, chiến sĩ Việt Minh tập kết ra miền Bắc.

Các tù binh Việt Cộng chờ được trực thăng chuyển về tuyến sau sau Chiến dịch Starlite của quân đội Mỹ, ngày 18–24 tháng 8 năm 1965.

Trong giai đoạn 1953–1956, chính phủ VNDCCH đã triển khai nhiều đợt cải cách ruộng đất tại nông thôn, bao gồm các đợt "giảm tô" và "cải cách ruộng đất", dẫn tới việc xử tử nhiều địa chủ. Nhà nghiên cứu Balazs Szalontai ghi nhận rằng theo các tài liệu giải mật từ các nhà ngoại giao Hungary có mặt tại miền Bắc thời kỳ đó, ước tính có tối thiểu 1.337 địa chủ bị xử bắn và 23.748 người bị phạt tù trong giai đoạn 1 và 2 của chiến dịch, song không có số liệu ước tính cụ thể cho giai đoạn 3 vào đầu năm 1956, giai đoạn được cho là có số người chết cao hơn các đợt trước. Học giả Edwin E. Moïse ước tính tổng số người thiệt mạng vào khoảng 13.500 người, bao gồm cả những trường hợp tự sát sau khi bị bắt bớ.

Ở miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm thẳng tay đàn áp các lực lượng đối lập chính trị và tôn giáo, giam giữ hoặc tiêu diệt hàng ngàn người qua các chiến dịch Tố Cộng diệt Cộng. Phía VNCH chưa từng ký kết bản Hiệp định Genève 1954 và khước từ việc tiến hành hiệp thương tổng tuyển cử với miền Bắc, với lập luận rằng chế độ miền Bắc không thể bảo đảm một cuộc bầu cử tự do và công bằng. Tổng thống Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower từng nhận định trong hồi ký năm 1954: "Tôi chưa từng nói chuyện hay trao đổi thư từ với bất kỳ ai am hiểu tình hình Đông Dương mà lại không đồng ý rằng nếu một cuộc tổng tuyển cử được tổ chức vào thời điểm chiến sự diễn ra, có thể tới 80% dân số sẽ bỏ phiếu cho vị lãnh tụ cộng sản Hồ Chí Minh…".

Hàng vạn dân thường đã thiệt mạng trong các đợt ném bom rải thảm của không quân Hoa Kỳ xuống miền Bắc Việt Nam trong Chiến dịch Sấm Rền (1965–1968).

Chiến tranh leo thang

Sau khi các nỗ lực đàm phán hiệp thương tổng tuyển cử bị phía miền Nam bác bỏ, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) đã ra quyết định chỉ đạo các lực lượng vũ trang bí mật ở miền Nam chuyển sang phát động chiến tranh vũ trang lật đổ chính quyền Diệm vào năm 1959 qua Nghị quyết Trung ương 15.

Kết quả của cuộc Chiến tranh Việt Nam (1955–1975) là Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) phối hợp cùng Quân Giải phóng miền Nam đã đánh bại Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH), khép lại bằng sự sụp đổ của Sài Gòn và non sông thu về một mối dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản. Trong cuộc xung đột điển hình của thời kỳ Chiến tranh Lạnh này, cả VNDCCH lẫn VNCH đều tự khẳng định mình là đại diện hợp pháp duy nhất cho toàn thể dân tộc Việt Nam. Ngọn lửa chiến tranh cũng nhanh chóng lan rộng sang cả Lào và Campuchia. Chính thể VNCH nhận được sự can thiệp quân sự trực tiếp từ các đồng minh nước ngoài, trọng tâm là Hoa Kỳ. Sự hiện diện quân sự của quân đội viễn chinh Mỹ tại miền Nam đạt đỉnh điểm vào tháng 4 năm 1969, với quân số lên tới 543.000 binh sĩ đồn trú. Phía VNDCCH cũng nhận được sự hỗ trợ to lớn từ các nước trong khối xã hội chủ nghĩa, chủ yếu là Trung Quốc và Liên Xô. Quân đội VNCH luôn phải căng mình đối phó với các cuộc tiến công quy mô lớn của QĐNDVN từ phía Bắc, trong khi Hoa Kỳ và VNCH mở các chiến dịch không kích rải bom tàn phá dữ dội miền Bắc để đáp trả. Sau cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của QĐNDVN, một bản hiệp định mang lại nhiều bất lợi cho VNCH đã được ký kết giữa Hoa Kỳ và VNDCCH.

Hồi kết của cuộc chiến

Các cuộc đụng độ lẻ tẻ vẫn tiếp diễn ngay sau khi hiệp định được ký kết, trước khi chuyển thành một chiến dịch tổng tiến công quy mô lớn vào miền Nam của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tận dụng ưu thế chiến lược, QĐNDVN tiếp tục duy trì áp lực chiến trường và tăng cường chi viện vũ khí, nhân lực vào chiến trường miền Nam sau khi hiệp định có hiệu lực. Phía Hoa Kỳ đã rút toàn bộ lực lượng chiến đấu mặt đất về nước vào năm 1973 theo đúng cam kết trong hiệp định, đồng thời cắt giảm mạnh viện trợ kinh tế, quân sự cho VNCH và không còn ý định can thiệp quân sự trở lại do cuộc chiến quá tốn kém và bị dư luận trong nước phản đối kịch liệt, nhất là khi quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Trung Quốc đang ấm lên nhằm cô lập Liên Xô. Cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu năm 1973 càng khiến nền kinh tế–xã hội của miền Nam kiệt quệ. Hai năm sau khi người lính Mỹ cuối cùng rời đi vào tháng 3 năm 1973, chính quyền VNCH hoàn toàn sụp đổ trước đợt tiến công như vũ bão của QĐNDVN vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Thất bại của VNCH cũng đánh dấu sự khởi đầu của phong trào đối lập lưu vong chống lại chính quyền cộng sản. Trong khoảng một năm sau ngày 30 tháng 4, miền Nam được quản lý hành chính bởi chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam dưới sự chỉ đạo của VNDCCH, trước khi hai miền chính thức thống nhất thành một quốc gia duy nhất dưới chế độ xã hội chủ nghĩa vào năm 1976.

Chiến tranh đã tàn phá đất nước Việt Nam nặng nề, với tổng số người thiệt mạng ước tính dao động từ 966.000 đến 3,8 triệu người, cùng hàng trăm ngàn người khác mang thương tật vĩnh viễn do bom đạn và chất độc hóa học như Chất độc da cam. Chính phủ Việt Nam công bố có khoảng 4 triệu người bị phơi nhiễm chất độc da cam, bao gồm cả thế hệ con cháu của các nạn nhân, và có tới 3 triệu người phải gánh chịu các di chứng bệnh tật hiểm nghèo. Hội Chữ thập đỏ Việt Nam ước tính có tới 1 triệu người bị tàn tật hoặc gặp các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng do hậu quả của chất độc da cam/dioxin. Phía chính phủ Hoa Kỳ từng cho rằng các con số thống kê này chưa thực sự chuẩn xác.

Giai đoạn hậu chiến, thống nhất và tập trung hóa (1975–1986)

Chiến tranh biên giới Việt – Trung, đầu năm 1979
Bản vẽ phác thảo Căn cứ hải quân Cam Ranh thời kỳ Liên Xô sử dụng tại miền Trung Việt Nam, năm 1985

Ngày 2 tháng 7 năm 1976, hai miền Nam–Bắc chính thức hợp nhất thành một nhà nước xã hội chủ nghĩa thống nhất mang tên Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội cũng quyết định đổi tên thành phố Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh để tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã qua đời vào năm 1969.

Mối quan hệ ngày càng thắt chặt giữa Việt Nam và Liên Xô khiến giới lãnh đạo Trung Quốc quan ngại sâu sắc do lo sợ bị Liên Xô "bao vây". Nước Việt Nam thống nhất chính thức gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế (Comecon) vào ngày 28 tháng 6 năm 1978. Viện trợ quân sự của Liên Xô dành cho Việt Nam tăng vọt từ 75–125 triệu USD vào năm 1977 lên 600–800 triệu USD vào năm 1978. Ngày 3 tháng 11 năm 1978, Việt Nam và Liên Xô ký kết Hiệp ước liên minh tương trợ chính thức. Dù đã thống nhất đất nước về mặt chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn phải đối mặt với bài toán hội nhập kinh tế và xã hội cho miền Nam. Các nhà hoạch định chính sách của Đảng vấp phải sức cản của nền kinh tế tự do cũ trước quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa, cùng với những khác biệt văn hóa, lịch sử và tâm lý xã hội tích tụ giữa hai miền. Sau chiến tranh, dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Lê Duẩn, đã không diễn ra các cuộc thanh trừng đẫm máu quy mô lớn đối với những người từng phục vụ cho quân đội Mỹ hay chính quyền Sài Gòn như phương Tây từng quan ngại. Tuy nhiên, có tới khoảng 300.000 sĩ quan, binh lính và viên chức của chính quyền VNCH đã bị tập trung vào các trại cải tạo. Nhà nước cũng ban hành và triển khai chính sách xây dựng các vùng kinh tế mới. Trong giai đoạn từ năm 1975 đến 1980, hơn 1 triệu người từ miền Bắc đã di cư vào các tỉnh miền Nam và miền Trung từng thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam Cộng hòa. Chương trình này cũng đã điều động từ khoảng 750.000 đến hơn 1 triệu cư dân đô thị miền Nam rời khỏi nơi cư trú cũ để đi khai hoang tại các vùng rừng núi, trung du. Nhiều người dân miền Nam thời kỳ này đã tìm đường vượt biên bằng đường biển ra nước ngoài.

Vào cuối thập niên 1970, chính quyền Khmer Đỏ tại Campuchia bắt đầu tiến hành hàng loạt vụ khiêu khích, pháo kích và thảm sát thường dân tại các làng mạc Việt Nam dọc dải biên giới Tây Nam. Xung đột biên giới leo thang đỉnh điểm đã dẫn tới việc QĐNDVN mở chiến dịch phản công sang Campuchia vào cuối năm 1978, nhanh chóng đánh hạ thủ đô Phnom Penh và lật đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ. Để trả đũa, Trung Quốc xua quân tấn công ồ ạt các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam vào đầu năm 1979 nhằm "dạy cho Việt Nam một bài học". Quan hệ ngoại giao song phương giữa hai nước vốn đã rạn nứt nghiêm trọng từ trước đó. Những tranh chấp lãnh thổ dọc tuyến biên giới đất liền cũng như trên Biển Đông từng tạm lắng trong Chiến tranh Việt Nam nay lại bùng phát trở lại; chiến dịch của Hà Nội nhằm kiểm soát kinh tế tư nhân đối với tầng lớp thương nhân người Hoa (Nạn kiều) sau chiến tranh đã vấp phải phản ứng gay gắt từ Bắc Kinh. Trung Quốc cũng kịch liệt phản đối việc Việt Nam liên minh thân cận với Liên Xô sau sự kiện chia rẽ Trung–Xô. Trong suốt một thập kỷ đóng quân làm nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia (1979–1989), tình trạng bị cô lập ngoại giao quốc tế của Việt Nam còn mở rộng sang cả quan hệ với Hoa Kỳ. Phía Mỹ, bên cạnh việc lấy cớ Việt Nam chưa hợp tác tích cực trong việc tìm kiếm hài cốt quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh (MIA) làm rào cản bình thường hóa quan hệ, đã kiên quyết phản đối việc xúc tiến ngoại giao chừng nào quân đội Việt Nam còn hiện diện tại Campuchia. Washington đồng thời tiếp tục duy trì lệnh bao vây cấm vận thương mại khắc nghiệt đối với Việt Nam vốn áp đặt từ khi cuộc chiến kết thúc năm 1975.[cần dẫn nguồn]

Suốt những năm 1980, Việt Nam tiếp nhận gần 3 tỷ USD mỗi năm viện trợ kinh tế và quân sự từ Liên Xô, đồng thời phần lớn kim ngạch xuất nhập khẩu đều gắn liền với thị trường Liên Xô và các nước thành viên Khối Comecon. Tháng 12 năm 1986, tại Đại hội Đảng lần thứ VI, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã chính thức phát động công cuộc đổi mới toàn diện đất nước (Đổi Mới). Đường lối mới mang tính đột phá về thử nghiệm kinh tế và chính trị tương tự như tiến trình cải tổ diễn ra cùng thời điểm tại Liên Xô. Trên tinh thần hòa hợp dân tộc, Việt Nam từng bước đóng cửa các trại cải tạo. Nhà nước dần xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp và mô hình hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ. Nông dân được giao khoán đất canh tác lâu dài theo mô hình kinh tế hộ gia đình song song với đất công, và đến năm 1990 chính phủ đã ban hành luật khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân. Sau khi hoàn thành mục tiêu bảo vệ biên giới và hỗ trợ chính quyền bạn ổn định cục diện, Việt Nam đã chính thức rút toàn bộ quân tình nguyện khỏi Campuchia vào năm 1989.

Đổi Mới và thời kỳ đương đại (1986–nay)

Cả Việt Nam và Trung Quốc đã lên kế hoạch bình thường hóa quan hệ song phương thông qua hội nghị cấp cao bí mật tại Thành Đô vào tháng 9 năm 1990, và chính thức bình thường hóa quan hệ vào ngày 5 tháng 11 năm 1991, ngay trước thời điểm Liên Xô tan rã vào tháng sau đó. Đến tháng 2 năm 1994, Hoa Kỳ chính thức dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam, và vào tháng 7 năm 1995, hai nước tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Sau chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Mỹ Bill Clinton vào tháng 11 năm 2000, một kỷ nguyên mới trong quan hệ giữa hai quốc gia đã mở ra. Chưa từng có một nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đương nhiệm nào tới thăm Hà Nội trước đó và Clinton là vị Tổng thống đầu tiên đến Việt Nam kể từ khi chiến tranh kết thúc. Việt Nam ngày càng trở thành điểm đến hấp dẫn cho phát triển kinh tế và đầu tư nước ngoài. Theo thời gian, Việt Nam dần khẳng định vị thế và đóng vai trò ngày một quan trọng trên trường quốc tế. Những thành tựu đổi mới kinh tế đã làm thay đổi sâu sắc diện mạo xã hội và nâng cao uy tín của Việt Nam trong các vấn đề khu vực châu Á cũng như toàn cầu. Bên cạnh đó, nhờ vị trí địa chính trị chiến lược nằm gần giao điểm giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, nhiều cường quốc trên thế giới đã bắt đầu thể hiện lập trường cởi mở và thiện chí hơn nhiều đối với Việt Nam.[cần dẫn nguồn]

Vào ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO (Tổ chức Thương mại Thế giới). Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đã trở thành một câu chuyện thành công điển hình về phát triển kinh tế. Công cuộc cải cách kinh tế kể từ khi khởi xướng Đổi Mới vào cuối năm 1986 đã giúp chuyển hóa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới trở thành một nền kinh tế có thu nhập trung bình chỉ trong vòng một thế hệ.

Dẫu vậy, Việt Nam vẫn đối mặt với các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ yếu với Campuchia dọc tuyến biên giới đất liền, và đặc biệt là với Trung Quốc trên Biển Đông. Năm 2016, Tổng thống Barack Obama trở thành nguyên thủ Hoa Kỳ thứ ba đến thăm Việt Nam. Chuyến thăm lịch sử này đã góp phần làm sâu sắc hơn quá trình bình thường hóa quan hệ song phương. Sự phát triển trong quan hệ Việt – Mỹ tiếp tục ghi dấu mốc quan trọng với việc Hoa Kỳ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương, tạo điều kiện cho chính phủ Việt Nam mua sắm trang thiết bị quốc phòng tân tiến và hiện đại hóa quân đội.

Vào ngày 27–28 tháng 2 năm 2019, Hội nghị thượng đỉnh Triều Tiên – Hoa Kỳ đã diễn ra tại Hà Nội giữa Lãnh đạo tối cao Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên Kim Jong-un và Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump.

Việt Nam đã vươn lên thành một quốc gia công nghiệp mới và là một cường quốc tầm trung trong khu vực. Đất nước được xếp vào nhóm nền kinh tế Next Eleven (11 nền kinh tế mới nổi), thuật ngữ chỉ 11 quốc gia có tiềm năng nối gót nhóm BRIC cạnh tranh vị thế kinh tế với các nước khối G7.

Năm 2021, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng tái đắc cử nhiệm kỳ thứ ba liên tiếp, trở thành nhà lãnh đạo quyền lực nhất Việt Nam trong nhiều thập niên trở lại đây.

Vào năm 2023, hệ thống chính trị Việt Nam vận hành dưới sự lãnh đạo tập thể với các vị trí chủ chốt: Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng (từ năm 2023), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính (từ năm 2021) và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng (từ năm 2011).

Trong chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam vào ngày 10 tháng 9 năm 2023, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden đã hội đàm với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Sau cuộc hội đàm, hai bên đã chính thức nâng cấp quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ lên mức "Đối tác Chiến lược Toàn diện", nhấn mạnh tầm quan trọng chiến lược ngày càng gia tăng trong liên kết song phương giữa hai quốc gia.

Tháng 7 năm 2024, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từ trần và người kế nhiệm cương vị người đứng đầu Đảng là Tô Lâm. Đến tháng 1 năm 2026, tại Đại hội Đảng toàn quốc, đồng chí Tô Lâm được bầu tái đắc cử giữ chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam cho nhiệm kỳ 5 năm tiếp theo.

Xem thêm

Chú thích

Ghi chú

  1. ^ Nay thuộc Bạch Hạc, Phú Thọ
  2. ^ Nay là Cổ Loa, Hà Nội
  3. ^ Có sách nói là em vợ.

Tham khảo

Tài liệu

Đọc thêm

Chuyên khảo
Tuyển tập biên khảo
Nguồn sơ cấp

Liên kết ngoài

Lịch sử các nước Đông Nam Á

Brunei | Campuchia | Đông Timor | Indonesia | Lào | Malaysia | Myanmar | Philippines | Singapore | Thái Lan | Việt Nam

Thống kê chỉ số

Số trận 1 (0)
Bàn thắng 0
Kiến tạo 0
Cú sút 1
Thẻ vàng 0
Thẻ đỏ 0
NL
✦ Đối Tác Công Nghệ Số
Ngọc Lợi Digital
Kỹ Sư Giải Pháp Số & Marketing Toàn Diện
🏆
500+
Dự án
⚡
<1.5s
Tốc độ web
🏛
100%
BCT duyệt
🔧
24/7
Hỗ trợ KT
🎁 Tư vấn miễn phí còn
15 GIỜ : 42 PHÚT : 09 GIÂY
Tư Vấn Ngay → 0388 810 316
QUẢNG CÁO

0388 810 316 Tư vấn miễn phí
NL