Quay lại
Nicolas Binder

Nicolas Binder

Số áo #13

Forward

Quốc tịch Flag Austria
Tuổi 24
Chiều cao 6' 4"
Cân nặng 205 lbs

Câu lạc bộ hiện tại

Logo

SC Cambuur

Clubhouse

Thông tin chi tiết (Wikipedia)

AK-47
AK-47 loại 3
LoạiSúng trường tấn công/Súng tiểu liên
Nơi chế tạoLiên Xô
Lược sử hoạt động
Sử dụng bởiXem § Các quốc gia sử dụng
TrậnXem § Xung đột
Lược sử chế tạo
Người thiết kếMikhail Kalashnikov
Năm thiết kế1942–1947
Nhà sản xuấtTập đoàn Kalashnikov, Nhà máy Degtyaryov (Nga)
Norinco (Trung Quốc)
Nhà máy Z111 (Việt Nam)
...
Giai đoạn sản xuất1948–nay
Số lượng chế tạo75 triệu khẩu AK-47 và 100 triệu biến thể của AK-47
Các biến thểXem § Các biến thể
Thông số
Khối lượngKhông có đạn:
3,47 kg (7,7 lb)
Băng đạn rỗng:
0,43 kg (0,95 lb)
0,33 kg (0,73 lb) (thép)
0,25 kg (0,55 lb) (nhựa composite)
0,17 kg (0,37 lb) (hợp kim nhẹ)
Chiều dàiBáng gỗ: 880 mm (35 in)
Báng xếp: 645 mm (25,4 in)
Độ dài nòngChiều dài tổng thể:
415 mm (16,3 in)
Chiểu dài rãnh xoắn:
369 mm (14,5 in)

Đạn7,62×39mm
Cơ cấu lên đạnTrích khí dài
Khóa nòng xoay
Tốc độ bắnTốc độ bắn lý thuyết:
600 phát/phút
Tốc độ bắn chiến đấu:
Phát một 40 phát/phút
Điểm xạ 100 phát/phút
Sơ tốc đầu nòng715 m/s (2.350 ft/s)
Tầm bắn hiệu quả350 m (380 yd)
Chế độ nạpHộp tiếp đạn cong 10, 20, 30, 40 viên
Hộp tiếp đạn trống 75 và 100 viên (RPK)
Ngắm bắn100–800m với điểm ruồi

AK-47, tên chính thức là Avtomat Kalashnikova (tiếng Nga: Автомат Калашникова, n.đ. 'súng trường tự động Kalashnikov'; còn đựoc gọi là Kalashnikov hay đơn giản là AK), là một trong những súng trường tấn công (theo phân loại của NATO) hoặc súng tiểu liên (theo phân loại của khối xã hội chủ nghĩa) thông dụng nhất của thế kỷ XX, được thiết kế bởi Mikhail Kalashnikov. Theo phân loại của khối xã hội chủ nghĩa, AK-47 thuộc loại súng tiểu liên, họ súng máy. Theo phân loại của NATO, AK-47 thuộc loại súng trường tấn công, cũng thuộc họ súng máy.

Cho đến đầu thế kỷ XXI, dù đã có hơn 70 năm tuổi thọ nhưng AK-47 và các phiên bản của nó vẫn là thứ vũ khí được ưa chuộng nhất, được lựa chọn là vũ khí tiêu chuẩn bởi trên 50 quân đội, ngoài ra nó còn phục vụ rất nhiều các lực lượng vũ trang, du kích khác tại hơn 100 quốc gia trên thế giới. Chi phí sản xuất, chi phí bảo dưỡng đều rất thấp, độ tin cậy, hiệu quả, độ bền bỉ rất cao trong điều kiện chiến đấu khắc nghiệt của loại súng này làm cho nó trở thành loại vũ khí cá nhân thông dụng nhất thế giới. Tầm bắn hiệu quả nhất của AK-47 trong khoảng 400 m, chuyên dùng để tác chiến tầm ngắn và tầm trung., các phiên bản mới hơn có thể đạt tầm bắn hiệu quả xa hơn, khoảng 500 m.

Một số người vẫn cho rằng AK-47 đã chịu ảnh hưởng từ khẩu StG-44 của Đức Quốc xã, bởi 2 loại súng này có một số điểm giống nhau về ngoại hình. Nhưng thực ra, cơ chế hoạt động của 2 mẫu súng rất khác nhau: cơ chế trích khí của AK-47 khác biệt hoàn toàn, và AK-47 sử dụng khóa nòng xoay còn StG-44 dùng khóa nòng trượt. Cuộc thi thiết kế súng dẫn đến sự ra đời của AK-47 đã được tổ chức từ năm 1943, trước cả khi khẩu StG-44 xuất hiện.

Với những ảnh hưởng của mình, AK-47 được gọi là một biểu tượng trong quân sự, một thứ vũ khí làm thay đổi bộ mặt chiến tranh. Hiện tại súng AK-47 đang là vũ khí cá nhân tiêu chuẩn cho quân đội của hơn 60 quốc gia trên thế giới. Rất nhiều quốc gia khác nữa sử dụng AK-47 cho các lực lượng cảnh sát, biên phòng. AK-47 còn là lựa chọn của các lực lượng nổi dậy và tội phạm trên khắp thế giới do độ bền rất cao và giá thành lại rẻ. Ngay cả ở Hoa Kỳ, nơi chế tạo ra loại súng đối thủ là M16, AK-47 cùng với các biến thể của nó (như mẫu shotgun như Saiga 12K) vẫn bán rất chạy trên thị trường súng dân sự Mỹ với số lượng hàng triệu khẩu đã được bán, tương đương số lượng súng AK-47 và các biến thể của nó mà quân đội Nga và cảnh sát Nga đang sở hữu.

AK-47 là nền tảng để Liên Xô (sau này là Nga) nghiên cứu và phát triển thành các biến thể hiện đại hóa như: АKM, RPK, AK-74, RPK-74, AN-94, AK-103, AK-107, AK-12, RPK-16,... các phiên bản hiện đại hóa được làm bằng vật liệu nhẹ với công nghệ chế tạo hiện đại hơn và được trang bị thêm các phụ kiện như kính ngắm chấm đỏ, kính ngắm quang học, súng phóng lựu, nòng giảm thanh,.... Các quốc gia khác cũng phát triển một loạt mẫu súng mới dựa trên nền tảng của AK-47 như Galil ACE (Israel và Việt Nam), Rk 95 Tp (Phần Lan), Karabinek szturmowy wz. 1996 Beryl (Ba Lan), Zastava M21 (Serbia), K-56 (Trung Quốc và Việt Nam) và STL-1A, GK1, GK3 (Việt Nam).

Lịch sử

Bối cảnh

Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, mẫu súng trường Sturmgewehr 44 được lực lượng Đức Quốc xã sử dụng đã để lại ấn tượng sâu sắc đối với phía Liên Xô. Mẫu súng trường có chế độ chọn cách bắn này sử dụng loại đạn trung gian mới là 7,92×33mm Kurz, kết hợp hỏa lực của súng tiểu liên với tầm bắn và độ chính xác của súng trường. Vào ngày 15 tháng 7 năm 1943, một phiên bản đời đầu của Sturmgewehr đã được trình diễn trước Bộ Dân ủy Vũ khí Liên Xô. Phía Liên Xô bị ấn tượng bởi loại vũ khí này và ngay lập tức bắt tay vào việc phát triển một loại súng trường tự động hoàn toàn sử dụng cỡ đạn trung gian của riêng mình, nhằm thay thế súng tiểu liên PPSh-41 và súng trường lên đạn thủ công Mosin–Nagant lỗi thời vốn đang trang bị cho phần lớn Quân đội Liên Xô.

Liên Xô sớm phát triển loại đạn 7,62×39mm M43, được sử dụng cho súng carbine bán tự động SKS và súng máy hạng nhẹ RPD. Ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Liên Xô đã phát triển súng trường AK-47, loại vũ khí nhanh chóng thay thế SKS trong biên chế quân đội. Được giới thiệu vào năm 1959, AKM là phiên bản thép dập nhẹ hơn và là biến thể phổ biến nhất của toàn bộ dòng súng AK. Vào những năm 1960, Liên Xô đã giới thiệu súng máy hạng nhẹ RPK, một loại vũ khí kiểu AK với thân súng (hộp khóa nòng) chắc chắn hơn, nòng nặng dài hơn và có giá súng hai chân, cuối cùng đã thay thế súng máy hạng nhẹ RPD.

Ý tưởng thiết kế

Mikhail Timofeyevich Kalashnikov bắt đầu sự nghiệp của mình với tư cách là một nhà thiết kế vũ khí vào năm 1941 khi đang hồi phục sau một vết thương ở vai trong Trận Bryansk. Chính Kalashnikov đã kể lại: "Tôi đang ở trong bệnh viện, và một người lính ở giường bên cạnh hỏi: 'Tại sao binh sĩ của chúng ta chỉ có một khẩu súng trường cho hai hoặc ba người trong khi quân Đức có súng tự động?' Vì vậy tôi đã thiết kế một khẩu. Tôi là một người lính, và tôi đã tạo ra một khẩu súng máy cho người lính. Nó được gọi là Avtomat Kalashnikova, vũ khí tự động của Kalashnikov - AK và nó mang năm sản xuất đầu tiên là 1947."

AK-47 được mô tả chính xác nhất là một sự kết hợp từ các cải tiến công nghệ súng trường trước đó. "Kalashnikov quyết định thiết kế một khẩu súng trường tự động kết hợp những tính năng tốt nhất của khẩu M1 Garand của Mỹ và StG 44 của Đức." Nhóm của Kalashnikov có quyền tiếp cận những vũ khí này và không cần phải "phát minh lại bánh xe". Chính Kalashnikov đã nhận xét: "Rất nhiều binh sĩ Quân đội Nga hỏi tôi làm thế nào để trở thành một nhà chế tạo, và vũ khí mới được thiết kế như thế nào. Đây là những câu hỏi rất khó. Mỗi nhà thiết kế dường như có con đường riêng, những thành công và thất bại riêng. Nhưng có một điều rõ ràng: trước khi cố gắng tạo ra thứ gì đó mới, điều quan trọng là phải có sự đánh giá thấu đáo về tất cả những gì đã tồn tại trong lĩnh vực này. Bản thân tôi đã có nhiều trải nghiệm xác nhận điều đó là đúng."

Các thiết kế sơ khai

Kalashnikov bắt đầu làm việc trên thiết kế súng tiểu liên vào năm 1942 và thiết kế súng máy hạng nhẹ vào năm 1943. Đầu năm 1944, Kalashnikov được cấp một số viên đạn 7,62×39mm M43 và được thông báo rằng các nhà thiết kế khác đang nghiên cứu vũ khí cho loại đạn cỡ nhỏ mới này của Liên Xô. Người ta gợi ý rằng một loại vũ khí mới có thể dẫn đến những thành tựu lớn lao hơn. Sau đó, ông bắt tay vào nghiên cứu loại súng trường mới. Năm 1944, ông tham gia một cuộc thi thiết kế với mẫu súng carbine bán tự động, vận hành bằng trích khí với piston hành trình dài sử dụng đạn 7,62×39mm, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ khẩu M1 Garand của Mỹ. Mẫu súng trường mới này cùng phân khúc với súng carbine SKS-45, với hộp tiếp đạn cố định và ống dẫn khí phía trên nòng súng. Tuy nhiên, thiết kế mới của Kalashnikov đã thua thiết kế của Simonov.

Năm 1946, một cuộc thi thiết kế mới được khởi xướng để phát triển một loại súng trường mới. Kalashnikov đã đệ trình một mẫu súng trường vận hành bằng trích khí với piston hành trình ngắn phía trên nòng súng, cơ chế khóa nòng tương tự như mẫu súng carbine năm 1944 của ông và một hộp tiếp đạn cong 30 viên. Các mẫu súng của Kalashnikov, bao gồm AK-1 (với hộp khóa nòng phay) và AK-2 (với hộp khóa nòng dập), đã chứng tỏ là những vũ khí đáng tin cậy và được chấp nhận vào vòng thi thứ hai cùng với các thiết kế khác.

Các mẫu nguyên mẫu này (còn được gọi là AK-46) có khóa nòng xoay, thân súng gồm hai phần với cụm cò riêng biệt, bộ điều khiển kép (chốt an toàn và cần chọn chế độ bắn riêng biệt), và tay kéo khóa nòng không chuyển động theo khóa nòng nằm ở bên trái vũ khí. Thiết kế này có nhiều điểm tương đồng với StG 44(mặc dù StG 44 sử dụng khóa nòng nghiêng kín). Cuối năm 1946, khi các khẩu súng đang được thử nghiệm, một trong những trợ lý của Kalashnikov là Aleksandr Zaitsev đã đề xuất một cuộc thiết kế lại lớn để cải thiện độ tin cậy. Ban đầu Kalashnikov còn do dự vì khẩu súng của họ vốn đã thể hiện tốt hơn các đối thủ. Tuy nhiên, cuối cùng Zaitsev đã thuyết phục được Kalashnikov.

Vũ khí nguyên mẫu thử nghiệm với hộp tiếp đạn bằng thép phẳng.

Vào tháng 11 năm 1947, các mẫu nguyên mẫu mới (AK-47) đã được hoàn thành. Khẩu súng sử dụng hệ thống piston khí hành trình dài phía trên nòng súng. Thân trên và thân dưới được kết hợp thành một khối duy nhất. Cần chọn chế độ bắn và chốt an toàn được kết hợp thành một lẫy điều khiển duy nhất kiêm nắp chắn bụi ở bên phải súng, và tay kéo khóa nòng được gắn liền với bệ khóa nòng. Điều này làm đơn giản hóa thiết kế và sản xuất. Đợt thử nghiệm quân đội đầu tiên bắt đầu vào đầu năm 1948. Khẩu súng mới tỏ ra đáng tin cậy trong nhiều điều kiện khác nhau và có đặc tính sử dụng thuận tiện. Năm 1949, nó được Quân đội Liên Xô chính thức tiếp nhận với tên gọi "súng trường Kalashnikov 7,62 mm (AK)".

Phát triển thêm

Một khẩu AKMS với hộp khóa nòng Loại 4B súng bằng thép dập (trên) và một khẩu AK-47 với hộp khóa nòng Loại 2A phay (dưới).

Đã có nhiều khó khăn trong giai đoạn sản xuất ban đầu. Những mẫu sản xuất đầu tiên có hộp khóa nòng bằng thép tấm dập với khối đỡ nòng và hốc gắn báng súng được phay, cùng phần thân dập. Các khó khăn nảy sinh trong việc hàn các rãnh dẫn hướng và rãnh hất vỏ đạn, gây ra tỷ lệ phế phẩm cao. Thay vì tạm dừng sản xuất, một thân súng gia công cơ khí (phay) nặng hơn đã được thay thế cho thân súng bằng thép tấm. Mặc dù việc sản xuất những khẩu súng trường thân phay này bắt đầu vào năm 1951, chúng được gọi chính thức là AK-49 dựa trên ngày bắt đầu phát triển, nhưng chúng được biết đến rộng rãi trong giới sưu tầm và thị trường thương mại hiện nay với tên gọi "AK-47 Loại 2". Đây là một quy trình tốn kém hơn, nhưng việc sử dụng thân súng phay đã đẩy nhanh tốc độ sản xuất vì các công cụ và nhân lực từ việc sản xuất thân súng phay của súng trường Mosin–Nagant trước đó có thể dễ dàng thích nghi. Một phần do những vấn đề này, Liên Xô đã không thể phân phối số lượng lớn súng trường mới cho binh sĩ cho đến năm 1956. Trong thời gian này, việc sản xuất súng trường SKS tạm thời vẫn tiếp tục.

Khi các khó khăn trong sản xuất thân súng không phải dạng phay đã được khắc phục, một phiên bản thiết kế lại mang tên AKM (M viết tắt của "hiện đại hóa" hoặc "nâng cấp"; tiếng Nga: Автомат Калашникова Модернизированный [Avtomat Kalashnikova Modernizirovanniy]) đã được giới thiệu vào năm 1959. Mẫu mới này sử dụng thân súng bằng thép tấm dập và có bộ phận bù giật đầu nòng vát chéo ở cuối nòng súng để bù đắp hiện tượng nảy nòng khi giật. Ngoài ra, một bộ phận làm chậm búa đập đã được thêm vào để ngăn vũ khí khai hỏa khi khóa nòng chưa đóng hết (chưa khóa hoàn toàn), trong khi bắn nhanh hoặc bắn tự động. Bộ phận này đôi khi cũng được gọi là "bộ giảm tốc độ bắn", hoặc đơn giản là "bộ giảm tốc", vì nó cũng có tác dụng làm giảm số phát bắn mỗi phút khi bắn tự động. Khẩu súng trường này cũng nhẹ hơn khoảng một phần ba so với mẫu trước đó.

Loại thân súng Mô tả
Loại 1A/B Thân súng dập nguyên bản của AK-47 được sản xuất lần đầu vào năm 1948 và được tiếp nhận vào năm 1949. Loại 1B được sửa đổi cho báng gấp dưới với một lỗ lớn ở mỗi bên để lắp đặt các phụ kiện cho báng gấp.
Loại 2A/B Thân súng phay đầu tiên được làm từ thép rèn. Nó được đưa vào sản xuất năm 1951 và kết thúc sản xuất năm 1957. Loại 2A có một "đế" kim loại đặc trưng kết nối báng súng với thân súng và rãnh phay giảm trọng lượng ở các bên chạy song song với nòng súng.
Loại 3A/B Phiên bản "cuối cùng" của thân súng AK phay được làm từ thép thanh. Nó được đưa vào sản xuất từ khoảng năm 1953–1954 cho đến khi AKM được giới thiệu. Đây là ví dụ phổ biến nhất của thân súng AK phay. Rãnh phay giảm trọng lượng ở các bên nằm nghiêng so với trục nòng súng.
Loại 4A/B Thân súng AKM được dập từ một tấm thép phẳng dày 1,0 mm (0,04 in) được gia cố bằng các chốt và đinh tán. Nó được đưa vào sản xuất năm 1959. Nhìn chung, đây là thiết kế được sử dụng nhiều nhất trong việc chế tạo các loại súng trường dòng AK.

Hầu hết các hoạt động sản xuất súng trường tấn công Kalashnikov có bản quyền và không có bản quyền ở nước ngoài đều thuộc biến thể AKM, một phần do việc sản xuất thân súng dập dễ dàng hơn nhiều. Mẫu này là loại thường gặp nhất, được sản xuất với số lượng lớn hơn nhiều. Tất cả các loại súng trường dựa trên thiết kế Kalashnikov thường được gọi một cách thông tục là "AK-47" ở phương Tây và một số vùng của châu Á, mặc dù điều này chỉ đúng khi áp dụng cho các loại súng trường dựa trên ba loại thân súng nguyên bản đầu tiên. Ở hầu hết các quốc gia thuộc khối Đông Âu cũ, vũ khí này được gọi đơn giản là "Kalashnikov" hoặc "AK". Sự khác biệt giữa thân súng phay và thân súng dập bao gồm việc sử dụng đinh tán thay vì các mối hàn trên thân súng dập, cũng như việc đặt một vết lõm nhỏ phía trên hốc tiếp đạn để giữ ổn định hộp tiếp đạn.

Thiết kế

AK-47 được thiết kế để trở thành một loại súng trường tự động hoàn toàn đơn giản, đáng tin cậy, có thể được sản xuất nhanh chóng và rẻ tiền, sử dụng các phương pháp sản xuất hàng loạt tiên tiến nhất tại Liên Xô trong cuối thập niên 1940. AK-47 sử dụng hệ thống trích khí hành trình dài thường đi kèm với độ tin cậy cao trong các điều kiện khắc nghiệt. Piston khí lớn, khoảng hở rộng giữa các bộ phận chuyển động và thiết kế vỏ đạn hình côn cho phép súng chịu được một lượng lớn dị vật và bụi bẩn mà không bị kẹt đạn.

Cỡ đạn

Đặc điểm vết thương của đạn dược vũ khí bộ binh Nga được Tiến sĩ Martin Fackler tổng hợp thay mặt cho quân đội Hoa Kỳ.

AK bắn loại đạn 7,62×39mm với sơ tốc đầu nòng là 715 m/s (2.350 ft/s). Trọng lượng viên đạn là 16,3 g (0,6 oz), và trọng lượng đầu đạn là 7,9 g (122 gr). Các đầu đạn M43 nguyên bản của Liên Xô là loại đạn đuôi thon 123-grain với vỏ thép mạ đồng, lõi thép lớn và một ít chì giữa lõi và vỏ. AK có khả năng xuyên thấu tuyệt vời khi bắn xuyên qua bụi rậm dày, tường hoặc thân kim loại của các loại xe thông thường vào đối phương đang cố gắng sử dụng những thứ đó làm vật che chắn. Đầu đạn 7,62×39mm M43 thường không bị vỡ vụn khi bắn trúng đối phương và có xu hướng giữ nguyên hình dạng một cách bất thường ngay cả sau khi tiếp xúc với xương. Viên đạn 7,62×39mm gây ra vết thương nghiêm trọng trong trường hợp đầu đạn bị đảo trục (lộn nhào) trong mô, nhưng gây ra vết thương tương đối nhẹ nếu viên đạn xuyên ra ngoài trước khi bắt đầu đảo trục.< Nếu không có hiện tượng đảo trục, viên đạn M43 có thể xuyên thẳng qua mô với rất ít tổn thương.

Hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả, đạn 7,62×39mm tìm thấy ngày nay là loại M67 nâng cấp. Loại này đã loại bỏ lõi thép, đẩy trọng tâm về phía sau và cho phép đầu đạn mất ổn định (hoặc đảo trục) ở khoảng 3,3 in (8,4 cm), sớm hơn gần 6,7 in (17 cm) trong mô so với đạn M43. Thay đổi này cũng làm giảm khả năng xuyên thấu trong gel đạn đạo xuống còn ~25 in (64 cm) đối với đạn M67 mới so với ~29 in (74 cm) của đạn M43 cũ. Tuy nhiên, khả năng gây thương tích của M67 chủ yếu giới hạn ở kênh vết thương vĩnh viễn nhỏ do chính viên đạn tạo ra, đặc biệt là khi viên đạn đảo trục.

Cơ chế vận hành

Cơ chế vận hành bằng trích khí của một khẩu K56 (Type 56) của Trung Quốc do Norinco sản xuất.

Để bắn, người sử dụng lắp một hộp tiếp đạn đã nạp đầy, kéo tay kéo khóa nòng về phía sau rồi thả ra, sau đó bóp cò. Ở chế độ bán tự động, súng chỉ bắn một lần, yêu cầu phải thả cò và bóp lại lần nữa cho phát bắn tiếp theo. Ở chế độ tự động hoàn toàn, súng trường tiếp tục bắn, tự động nạp các viên đạn mới vào buồng đạn cho đến khi hộp tiếp đạn hết đạn hoặc người bắn thả tay khỏi cò.

Sau khi hạt nổ và thuốc phóng của viên đạn bắt đầu cháy, các khí thuốc giãn nở nhanh chóng được dẫn vào ống dẫn khí phía trên nòng súng thông qua một lỗ thoát gần đầu nòng. Áp suất khí tích tụ bên trong ống dẫn khí đẩy piston hành trình dài và bệ khóa nòng về phía sau; một rãnh dẫn hướng được gia công ở mặt dưới của bệ khóa nòng, cùng với một mấu hất vỏ đạn trên rãnh dẫn hướng bệ khóa nòng, làm khóa nòng xoay khoảng 35° và mở khóa khỏi phần kéo dài của nòng súng thông qua một chốt cam trên khóa nòng. Cụm bộ phận chuyển động có khoảng chạy tự do khoảng 5,5 mm (0,2 in) tạo ra độ trễ giữa xung lực giật ban đầu của piston và quá trình mở khóa của khóa nòng, cho phép áp suất khí giảm xuống mức an toàn trước khi buồng đạn và khóa nòng tách rời nhau.

AK-47 không có van điều chỉnh khí; khí thuốc dư thừa được thông hơi qua một loạt các lỗ thoát xuyên tâm trong ống dẫn khí. Không giống như nhiều nền tảng súng trường khác (ví dụ như AR-15), các mấu khóa nòng của hệ thống Kalashnikov được vát cạnh cho phép thực hiện quá trình trích xuất sơ khởi khi khóa nòng xoay, giúp việc nạp đạn và hất vỏ đạn diễn ra tin cậy hơn, mặc dù lực này không quá mạnh do khoảng cách ngắn mà bệ khóa nòng di chuyển trước khi tác động lên mấu khóa. Hệ thống Kalashnikov sau đó sử dụng một móc văng đạn cùng với bộ phận hất vỏ đạn hình vây để đẩy vỏ đạn đã sử dụng ra ngoài.

Nòng súng

Nòng súng AK-47 và cụm trích khí đặc trưng với một hàng lỗ thoát khí nằm ngang

Súng được trang bị nòng súng với lòng nòng mạ crôm và bốn rãnh xoắn về phía bên phải với tỷ lệ xoắn khương tuyến là 240 mm (1 vòng trong 9,45 inch) hoặc 31,5 lần cỡ nòng. Cụm trích khí chứa một đường dẫn khí được lắp đặt ở một góc nghiêng so với trục lòng nòng. Đầu nòng được tiện ren để lắp đặt các thiết bị đầu nòng khác nhau như bộ phận bù giật hoặc thiết bị hỗ trợ bắn đạn mã tử.

Cụm trích khí

Cụm trích khí của AK-47 có bộ phận giữ thông nòng hoặc vòng móc dây đeo. Các lỗ thoát khí giúp giảm bớt áp suất khí được đặt nằm ngang thành một hàng trên ống dẫn khí.

Cần chọn chế độ bắn

Cần chọn chế độ bắn là một lẫy lớn nằm ở bên phải của súng trường; nó đóng vai trò như một nắp chắn bụi và ngăn không cho tay kéo khóa nòng bị kéo hết về phía sau khi đang ở chế độ an toàn. Nó được vận hành bằng các ngón tay trỏ bên phải của người bắn và có ba nấc cài đặt: an toàn (trên cùng), tự động hoàn toàn (giữa), và bán tự động (dưới cùng). Lý do cho thiết kế này là một người lính khi đang chịu áp lực sẽ đẩy lẫy chọn xuống với một lực rất mạnh, khiến nó bỏ qua nấc tự động ở giữa và đưa súng thẳng về chế độ bán tự động. Để cài đặt AK-47 sang chế độ tự động hoàn toàn, người lính cần một hành động có chủ ý để đưa lẫy về vị trí chính giữa.

Để vận hành lẫy chọn chế độ bắn, những người bắn thuận tay phải phải tạm thời rời bàn tay phải khỏi tay cầm súng, điều này không tối ưu về mặt công thái học. Một số loại súng kiểu AK cũng có một lẫy chọn truyền thống hơn ở phía bên trái thân súng (hộp khóa nòng), ngay phía trên tay cầm. Lẫy này được vận hành bằng ngón tay cái bên phải của người bắn và có ba nấc cài đặt: an toàn (phía trước), tự động hoàn toàn (giữa), và bán tự động (phía sau).

Hệ thống ngắm

Thước ngắm sau của một khẩu K56 Trung Quốc, với các mức cài đặt từ 100 đến 800 m (109 đến 875 yd) và không có nấc ngắm chiến đấu

AK-47 sử dụng thước ngắm cơ khí dạng lá có khe ngắm, được hiệu chỉnh theo các vạch chia 100 m trong khoảng từ 100 m (109 yd) đến 100 đến 800 m (109 đến 875 yd). Đầu ngắm là một cọc ngắm có thể điều chỉnh độ cao (tầm) ngay tại thực địa. Việc điều chỉnh theo phương ngang đòi hỏi một dụng cụ đóng chuyên dụng và thường được thực hiện tại kho vũ khí trước khi cấp phát, hoặc do thợ quân khí thực hiện khi cần thiết sau khi cấp phát.

Đường ngắm cao hơn trục lòng nòng khoảng 48,5 mm (1,9 in). over the bore axis. Nấc ngắm chiến đấu "tầm bắn thẳng" ký hiệu là 'П', (viết tắt của постоянная - nghĩa là 'không đổi') trên thước ngắm của AK-47 cỡ đạn 7,62×39mm tương ứng với điểm ngắm 300 m (328 yd). Các thiết lập này mô phỏng theo súng trường Mosin–Nagant và SKS mà AK-47 đã thay thế vai trò.

Đối với AK-47 sử dụng đạn tiêu chuẩn, nấc ngắm chiến đấu 300 m giới hạn "độ cao đường đạn" biểu kiến trong khoảng từ −5 đến +31 cm (−2,0 đến 12,2 in) so với đường ngắm. Binh sĩ được huấn luyện để bắn vào bất kỳ mục tiêu nào trong tầm này bằng cách đơn giản là đặt thước ngắm vào trọng tâm mục tiêu (thường là khóa thắt lưng, theo học thuyết của Nga và Liên Xô cũ). Mọi sai số trong việc ước lượng khoảng cách đều không quan trọng về mặt chiến thuật, vì một phát bắn chuẩn xác vẫn sẽ trúng vào thân người đối phương. Một số loại súng kiểu AK có đầu ngắm tích hợp điểm phát quang lật lên được hiệu chỉnh ở mức 50 m 50 m (55 yd) để cải thiện khả năng chiến đấu ban đêm.

Ốp lót và báng súng

AK-47 ban đầu được trang bị báng súng, ốp lót tay dưới và ốp cách nhiệt phía trên làm từ gỗ nguyên khối. Với sự ra đời của thân súng Loại 3, các bộ phận này được sản xuất từ gỗ dán ép bạch dương. Loại gỗ kỹ thuật này bền hơn và chống cong vênh tốt hơn so với các mẫu gỗ nguyên khối truyền thống, không yêu cầu thời gian chờ gỗ già lâu và có giá thành rẻ hơn. Các bộ phận bằng gỗ được hoàn thiện bằng quy trình đánh bóng shellac màu hổ phách của Nga. Các mẫu AKS và AKMS có báng sắt gấp dưới tương tự như súng tiểu liên MP40 của Đức, nhằm sử dụng trong không gian hạn chế của xe chiến đấu bộ binh BMP cũng như dành cho lính nhảy dù. Tất cả các dòng AK series 100 đều sử dụng phụ kiện bằng nhựa với báng gấp hông.

Hộp tiếp đạn

Hộp tiếp đạn bằng nhựa 30 viên cỡ 7,62×39mm gia cường bằng thép, màu "Bakelite" (gỉ sắt). Ba hộp có dấu của nhà máy vũ khí Izhmash (hình mũi tên trong hình tam giác) ở góc dưới bên phải. Hộp còn lại có dấu của nhà máy Tula (hình ngôi sao)

Dung lượng hộp tiếp đạn tiêu chuẩn là 30 viên. Ngoài ra còn có các loại hộp tiếp đạn thẳng 10, 20 và 40 viên, cũng như hộp tiếp đạn tròn 75 viên.

Hộp tiếp đạn 30 viên tiêu chuẩn của AK-47 có độ cong rõ rệt, giúp nạp đạn vào buồng đạn một cách trơn tru. Cấu trúc thép dày kết hợp với "môi tiếp đạn" (các bề mặt ở phía trên hộp tiếp đạn nhằm kiểm soát góc viên đạn đi vào buồng đạn) được gia công từ một phôi thép duy nhất khiến chúng có khả năng chống hư hỏng rất cao. Những hộp tiếp đạn này bền đến mức "binh sĩ được biết đến là đã sử dụng chúng như búa, và thậm chí là đồ khui nắp chai". Điều này góp phần làm cho hộp tiếp đạn AK-47 đáng tin cậy hơn nhưng cũng khiến nó nặng hơn so với hộp tiếp đạn của Mỹ và NATO.

Các loại hộp tiếp đạn 30 viên bằng thép thành phẳng đời đầu của AK-47 có thân bằng thép tấm dày 1 mm (0,039 in) và nặng 430 g (0,95 lb) khi rỗng. Các hộp tiếp đạn 30 viên bằng thép sau này của AKM có thân bằng thép tấm nhẹ hơn với các gờ gia cường nổi bật, nặng 0,33 kg (0,73 lb) rỗng. Để giảm trọng lượng hơn nữa, một loại hộp tiếp đạn nhẹ có thân bằng nhôm với họa tiết gân hình bánh waffle nổi bật nặng 0,19 kg (0,42 lb) đã được phát triển cho AKM, nhưng chúng tỏ ra quá mỏng manh và số lượng ít ỏi được cấp phát đã nhanh chóng bị rút khỏi biên chế.

Để thay thế, các hộp tiếp đạn 30 viên bằng nhựa cỡ 7,62×39mm gia cường bằng thép đã được giới thiệu. Những hộp tiếp đạn màu gỉ sắt này nặng 0,24 kg (0,53 lb) khi rỗng và thường bị xác định nhầm là làm từ Bakelite (một loại nhựa phenolic), nhưng thực tế chúng được chế tạo từ hai phần hợp chất đúc AG-S4 (một loại composite liên kết phenol-formaldehyde gia cường bằng sợi thủy tinh), được lắp ráp bằng keo nhựa epoxy. Nổi tiếng về độ bền, tuy nhiên những hộp tiếp đạn này làm ảnh hưởng đến khả năng ngụy trang của súng và thiếu các gờ gia cường nhỏ nằm ngang chạy dọc hai bên thân hộp tiếp đạn gần phía trước (vốn đã được thêm vào trên tất cả các thế hệ hộp tiếp đạn nhựa sau này).

Thế hệ thứ hai của hộp tiếp đạn 30 viên 7,62×39mm bằng nhựa ABS gia cường bằng thép màu nâu sẫm (màu sắc thay đổi từ đỏ sẫm, màu mận đến gần như đen) được giới thiệu vào đầu thập niên 1980. Thế hệ thứ ba tương tự như thế hệ thứ hai nhưng có màu tối hơn và bề mặt nhám không phản quang. Loại đang được cấp phát hiện nay là hộp tiếp đạn 30 viên 7,62×39mm bằng nhựa ABS màu đen tuyền, bề mặt nhám không phản quang, nặng 0,25 kg (0,55 lb) khi rỗng.

Hộp tiếp đạn AK-47 bằng thép đời đầu dài 9,75 in (248 mm) ; các hộp tiếp đạn AKM bằng thép có gờ sau này và các hộp tiếp đạn nhựa 7,62×39mm mới hơn ngắn hơn khoảng 1 in (25 mm).

Việc chuyển đổi từ hộp tiếp đạn thép sang nhựa chủ yếu mang lại sự giảm trọng lượng đáng kể, cho phép binh sĩ mang theo nhiều đạn hơn với cùng một mức trọng lượng.

Súng trường Loại đạn Trọng lượng hộp tiếp đạn rỗng Trọng lượng hộp tiếp đạn đầy Lượng đạn mang theo tối đa, định mức 10,12 kg (22,3 lb)*
AK-47 (1949) 7,62×39mm Thép thành phẳng
430 g (0,95 lb)
30 viên
916 g (2,019 lb)
11 hộp (330 viên)
10,08 kg (22,2 lb)
AKM (1959) Thép dập có gờ
330 g (0,73 lb)
30 viên
819 g (1,806 lb)
12 hộp (360 viên)
9,83 kg (21,7 lb)
AK-103 (1994) Nhựa gia cường thép
250 g (0,55 lb)
30 viên
739 g (1,629 lb)
13 hộp (390 viên)
9,61 kg (21,2 lb)

Tất cả các hộp tiếp đạn AK cỡ 7,62×39mm đều có khả năng tương thích ngược với các biến thể AK cũ hơn. Hầu hết các hộp tiếp đạn của Nam Tư được chế tạo với bộ phận nâng đạn có chức năng giữ khóa nòng mở khi hết đạn.

Phụ kiện

Lưỡi lê 6H2 của AK-47 và vỏ bao
AK-47 với ống phóng lựu Kalashnikov gắn ở đầu nòng

Các phụ kiện đi kèm với súng bao gồm lưỡi lê 6H3 dài 387 mm (15,2 in) với lưỡi dao kiểu mũi giáo dà 200 mm (7,9 in). Lưỡi lê AK-47 được lắp bằng cách luồn vòng gắn đầu nòng đường kính 17,7 mm (0,70 in) quanh nòng súng và chốt tay cầm vào mấu gắn lưỡi lê dưới bệ đầu ngắm.

Tất cả các mẫu súng trường AKM hiện tại đều có thể gắn súng phóng lựu kẹp nòng 40 mm như GP-25 và các biến thể của nó, có thể bắn tới 20 quả mỗi phút và có tầm bắn hiệu quả lên tới 400 mét. Loại đạn chính là lựu đạn mảnh VOG-25 (VOG-25M) có bán kính sát thương từ 6 m đến 9 m. Biến thể VOG-25P/VOG-25PM ("lựu đạn nhảy") sẽ phát nổ ở độ cao 0,5–1 mét (1,6–3,3 ft) so với mặt đất.

AK-47 cũng có thể gắn một loại súng phóng lựu dạng cốc (hiếm khi được sử dụng) gọi là súng phóng lựu Kalashnikov, bắn các loại lựu đạn cầm tay tiêu chuẩn RGD-5 của Liên Xô. Tầm bắn hiệu quả tối đa xấp xỉ 150 mét. Ống phóng này cũng có thể được sử dụng để bắn lựu đạn hơi cay và lựu đạn chống bạo động.

Tất cả các dòng AK hiện nay (series 100) và một số mẫu cũ hơn đều có gá bên hông để gắn nhiều loại kính ngắm và thiết bị quan sát, chẳng hạn như kính ngắm bắn tỉa quang học PSO-1. Các rãnh bên hông cho phép tháo rời và lắp lại các phụ kiện quang học mà không làm ảnh hưởng đến việc hiệu chỉnh kính ngắm (lấy lại điểm không). Tuy nhiên, báng gấp hông của series 100 không thể gấp lại khi đang gắn kính ngắm.

Các biến thể

Đạn 7,62×39mm từ Nga, Trung Quốc và Pakistan

Giai đoạn đầu (7,62×39mm)

  • Phiên bản 1948/49 (Loại 1): Những mẫu đời đầu nhất, sử dụng hộp khóa nòng bằng thép tấm dập, hiện nay rất hiếm.
  • Phiên bản 1951 (Loại 2): Có hộp khóa nòng phay. Nòng súng và buồng đạn được mạ crôm để chống ăn mòn.
  • Phiên bản 1954/55 (Loại 3): Biến thể hộp khóa nòng phay được làm nhẹ. Trọng lượng súng là 3,47 kg (7,7 lb).
  • AKS (AKS-47): Sử dụng hộp khóa nòng Loại 1, 2 hoặc 3: Có báng kim loại gấp dưới tương tự như MP 40 để sử dụng trong không gian hạn chế của xe chiến đấu bộ binh BMP và lính dù.
  • AKN (AKSN): Có rãnh gắn kính ngắm ban đêm.

Hiện đại hóa (7,62×39mm)

  • AKM: Một phiên bản đơn giản hóa, nhẹ hơn của AK-47; hộp khóa nòng Loại 4 được làm từ thép tấm dập và tán đinh. Một thiết bị đầu nòng vát chéo được thêm vào để giảm hiện tượng nảy nòng khi bắn tự động. Trọng lượng súng là 3,1 kg (6,8 lb) nhờ hộp khóa nòng nhẹ hơn. Đây là biến thể phổ biến nhất của dòng AK-47.
    • AKMS: Phiên bản báng gấp dưới của AKM dành cho lính dù.
    • AKMN (AKMSN): Rãnh gắn kính ngắm ban đêm.
    • AKML (AKMSL): Bộ phận che lửa dạng rãnh và gá gắn kính ngắm ban đêm.
  • RPK: Phiên bản súng máy hạng nhẹ cầm tay với nòng dài hơn và giá súng. Các biến thể-RPKS, RPKN (RPKSN), RPKL (RPKSL)-tương ứng với các biến thể của AKM. Các biến thể "S" có báng gỗ gấp hông.

Các biến thể nước ngoài (7,62×39mm)

Quốc gia Các biến thể
Albania Automatiku Shqiptar 1978 mẫu 56 (ASH-78 Tip-1) sản xuất tại Nhà mãy vũ khí Poliçan (bản sao của Type 56 dựa trên AKM); mẫu 56 Tip-2 (bản sao RPK); mẫu 56 Tip-3 bản lai đa năng có khả năng gắn súng phóng lựu; mẫu 1982 (ASH-82) bản sao AKMS. Nhiều phiên bản AKMS nòng ngắn tương tự AKS-74U được sản xuất cho đặc nhiệm, tổ lái và cảnh sát. Bản ASh-82 cải tiến với phụ kiện SOPMOD dành cho lực lượng đặc nhiệm RENEA.
Algeria PM-89 và PM-89-1.
Armenia K-3 (thiết kế bullpup dùng đạn 5.45×39mm)
Azerbaijan Khazri (AK-74M)
Bangladesh Sử dụng mẫu Type 56 của Trung Quốc.
Bulgaria AKK/AKKS (AK-47 Loại 3/báng gấp hông); AKKMS (AKMS); AKKN-47 (có mấu gắn kính ngắm đêm); AK-47M1 (Loại 3 với phụ kiện polymer đen); AK-47MA1/AR-M1 (giống M1 nhưng dùng đạn 5,56×45mm NATO); AKS-47M1 (AKMS dùng đạn 5,56mm NATO); AR-SF (bản ngắn dùng đạn 5,56mm NATO); RKKS (RPK); AKT-47 (súng huấn luyện đạn .22).
Cambodia Type 56(Trung Quốc), AK-47 (Liên Xô) và AKM.
Trung Quốc Type 56
Colombia Galil ACE, Galil Córdova
Croatia APS-95
Cuba AKM
Đông Đức MPi-K/MPi-KS (AK-47/AKS); MPi-KM (AKM, báng gỗ hoặc nhựa); MPi-KMS-72 (báng gấp hông); MPi-KMS-K (súng carbine nòng ngắn); MPi-AK-74N (AK-74).
Ai Cập AK-47, súng trường tấn công Misr (AKMS), Maadi ARM (AKM).
Ethiopia AK-47, AK-103 (sản xuất trong nước tại Tổ hợp Kỹ thuật Vũ khí Gafat với tên gọi Et-97/1).
Phần Lan Rk 62, Valmet M76, Valmet M78 (súng máy hạng nhẹ), Rk 95 Tp
Hungary AK-55 (sản xuất trong nước theo mẫu AK-47 Loại 2); AKM-63 (AK-55 hiện đại hóa); AMD-65M (nòng ngắn, báng gấp hông); AMP-69 (có khả năng phóng lựu); AK-63F/D (tên khác là AMM/AMMSz), AK-63MF (bản hiện đại hóa); NGM-81 (5,56×45mm NATO)
Ấn Độ INSAS (báng cố định và gấp hông), KALANTAK (carbine), súng máy hạng nhẹ INSAS; một phiên bản không giấy phépvới phụ kiện sợi carbon tên là AK-7; và súng trường tấn công Trichy.
Iran KLS/KLF (AK-47/AKS), KLT (AKMS)
Iraq Súng bắn tỉa Tabuk, súng trường Tabuk (bản sao của dòng M70 Nam Tư), Tabuk nòng ngắn.
Israel IMI Galil: AR (súng trường chiến đấu), ARM (súng trường/súng máy nhẹ), SAR (carbine), MAR (carbine siêu gọn), Sniper (súng bắn tỉa); và Galil ACE.
Italy Bernardelli VB-STD/VB-SR (Galil AR/SAR)
Nigeria Sản xuất bởi DICON với tên gọi OBJ-006.
Bắc Triều Tiên Type 58A/B (AK-47 Loại 3/báng thép gấp); Type 68 (AKM/AKMS); Type 88 (AK-74/AKS-74 với báng gấp ngược lên trên).
Pakistan Các bản sao sản xuất thủ công tại vùng đèo Khyber; gần đây Nhà máy Vũ khí Pakistan bắt đầu sản xuất bản sao AK-47/AKM tên là PK-10.
Ba Lan PmK (kbk AK) / PmKS (kbk AKS), súng tiểu liên Kalashnikov đổi tên thành Kbk AK, súng carbine Kalashnikov trong thập niên 1960 (AK-47/AKS); kbkg wz. 1960 (súng trường phóng lựu), kbkg wz. 1960/72 (hiện đại hóa); kbk AKM / kbk AKMS (AKM/AKMS); kbk wz. 1988 Tantal (5.45×39mm), skbk wz. 1989 Onyks (carbine nhỏ gọn); kbs wz. 1996 Beryl (5,56×45mm), kbk wz. 1996 Mini-Beryl (carbine nhỏ gọn)
Romania PM md. 63/65 (AKM/AKMS), PM md. 80, PM md. 90, được xuất khẩu dưới tên gọi chung là AIM hoặc AIMS; PA md. 86 (AK-74) xuất khẩu dưới tên AIMS-74; PM md. 90 nòng ngắn, PA md. 86 nòng ngắn xuất khẩu dưới tên AIMR; PSL (súng bắn tỉa chỉ định; các tên gọi khác bao gồm PSL-54C, Romak III, FPK và SSG-97)
Nam Phi Súng trường R4, Truvelo Raptor, Vektor CR-21 (thiết kế bullpup)
Sudan MAZ (dựa trên mẫu Type 56)
Syria Súng trường Type 68 được sản xuất theo giấy phép bởi Établissement Industriel de la Défense (EID)/Defense Laboratories Corporation (DLC).
Thổ Nhĩ Kỳ SAR 15T, SAR 308 Dağlıoğlu AK-47
Ukraine Vepr (thiết kế bullpup, 5.45×39mm), Malyuk (thiết kế bullpup)
Hoa Kỳ Century Arms: C39 (biến thể AK-47), RAS47 (biến thể AKM), và C39v2 (biến thể AK-47); InterOrdnance: AKM247 (biến thể AKM), M214 (súng ngắn); Palmetto State Armory: PSAK-47 (biến thể AKM); Arsenal Inc: SA M-7 (biến thể AK-47); Destructive Devices Industries: DDI 47S (biến thể AKM), DDI 47M (biến thể AK-47); Rifle Dynamics: RD700 và các mẫu súng AK / AKM tùy chỉnh khác.
Việt Nam AKM-1 (AKM), TUL-1 (RPK), Galil Ace 31/32, súng trường STV
Venezuela Đã được cấp giấy phép, nhà máy hiện đang trong quá trình xây dựng.
Nam Tư/Serbia M64, M70, M72, M76, M77, M80, M82, M85, M90, M91, M92, M99, M21

Theo tập đoàn Kalashnikov Concern (trước đây là Izhmash), hầu hết các loại súng trường kiểu AK do nước ngoài sản xuất đều không có giấy phép.

Độ chính xác

Phương pháp của quân đội Hoa Kỳ

Độ chính xác của AK-47 nhìn chung là đủ để bắn trúng thân người trưởng thành ở khoảng cách khoảng 300 m (328 yd), mặc dù ngay cả những chuyên gia khi bắn từ tư thế nằm hoặc tì súng trên giá ở cự ly này cũng gặp khó khăn trong việc bắn trúng đích mười viên đạn liên tiếp.Các thiết kế sau này cũng không cải thiện đáng kể độ chính xác của súng. Một khẩu AK có thể bắn một cụm 10 phát với độ phân tán 5,9 in (15 cm) ở khoảng cách 100 m (109 yd), và 17,5 in (44 cm) ở khoảng cách 300 m (328 yd). Các mẫu AKM có thân súng bằng thép dập mới hơn, mặc dù bền bỉ hơn và ít bị mỏi kim loại hơn, nhưng lại kém chính xác hơn so với thân súng phay tiện của các thế hệ tiền nhiệm: những khẩu AK-47 thân đúc có khả năng bắn các cụm từ 3 đến 5 in (8 đến 13 cm) ở khoảng cách 100 yd (91 m), trong khi AKM thân dập chỉ có khả năng bắn các cụm từ 4 đến 6 in (10 đến 15 cm) ở cùng cự ly 100 yd (91 m).

Những tay súng giỏi nhất có thể bắn trúng mục tiêu kích thước người ở khoảng cách 800 m (875 yd) trong vòng năm phát bắn (tư thế nằm hoặc tì giá) hoặc mười phát bắn (tư thế đứng).

Xác suất trúng đích phát một trên Bia hình người kiểu E của NATO (hình bóng nửa thân trên và đầu người) của AK-47 và các loại súng phát triển sau này như AK-74, M16A1 và M16A2 đã được quân đội Hoa Kỳ đo lường trong điều kiện bãi tập lý tưởng vào những năm 1980 như sau:

Bia hình người kiểu E của NATO
Xác suất trúng đích phát một trên bia hình người đang khom (Kiểu E NATO)
Súng trường Cỡ đạn Xác suất trúng đích (Không có lỗi ước tính tầm xa hoặc lỗi ngắm)
50 m 100 m 200 m 300 m 400 m 500 m 600 m 700 m 800 m
AK-47 (1949) 7,62×39mm 100% 100% 99% 94% 82% 67% 54% 42% 31%
AK-74 (1974) 5.45×39mm 100% 100% 100% 99% 93% 81% 66% 51% 34%
M16A1 (1967) 5,56×45mm NATO M193 100% 100% 100% 100% 96% 87% 73% 56% 39%
M16A2 (1982) 5,56×45mm NATO SS109/M855 100% 100% 100% 100% 98% 90% 79% 63% 43%

Trong điều kiện diễn tập thực địa xấu nhất, xác suất trúng đích của tất cả các loại súng thử nghiệm đều bị giảm mạnh, từ 34% ở khoảng cách 50m xuống còn 3–4% ở khoảng cách 600m và không có sự khác biệt đáng kể giữa các loại vũ khí ở mỗi cự ly.

Phương pháp của Nga

Bảng sau đây thể hiện phương pháp xác suất sai số vòng của Nga để xác định độ chính xác, bao gồm việc vẽ hai hình tròn trên mục tiêu, một cho độ phân tán dọc tối đa của các phát bắn và một cho độ phân tán ngang tối đa. Sau đó, họ loại bỏ các phát bắn ở phần bên ngoài của mục tiêu và chỉ tính một nửa số phát bắn (50% hoặc R50) ở phần bên trong của các hình tròn. Điều này làm giảm đáng kể đường kính tổng thể của các cụm bắn. Sau đó, họ sử dụng cả phép đo dọc và ngang của các cụm đã giảm để đo độ chính xác. Khi kết quả R50 được nhân đôi, xác suất trúng đích tăng lên 93,7%.

Ví dụ về phân phối xác suất sai số vòng của 20 phát bắn
Độ phân tán khi bắn bán tự động và loạt ngắn của AK-47 với đạn quân dụng lõi thép 57-N-231
Cự ly Độ chính xác dọc (R50) bán tự động Độ chính xác ngang (R50) bán tự động Độ chính xác dọc (R50) loạt ngắn Độ chính xác ngang (R50) loạt ngắn Năng lượng đạn còn lại Vận tốc đạn còn lại
0 m
(0 yd)
0 cm (0,0 in) 0 cm (0,0 in) 0 cm (0,0 in) 0 cm (0,0 in) 2.036 J (1.502 ft⋅lbf) 718 m/s (2.356 ft/s)
100 m (110 yd) 8 cm (3,1 in) 4 cm (1,6 in) 9 cm (3,5 in) 11 cm (4,3 in) 1.540 J (1.140 ft⋅lbf) 624 m/s (2.047 ft/s)
200 m (219 yd) 11 cm (4,3 in) 8 cm (3,1 in) 18 cm (7,1 in) 22 cm (8,7 in) 1.147 J (846 ft⋅lbf) 539 m/s (1.768 ft/s)
300 m (330 yd) 17 cm (6,7 in) 12 cm (4,7 in) 27 cm (10,6 in) 33 cm (13,0 in) 843 J (622 ft⋅lbf) 462 m/s (1.516 ft/s)
400 m (440 yd) 23 cm (9,1 in) 16 cm (6,3 in) 31 cm (12,2 in) 44 cm (17,3 in) 618 J (456 ft⋅lbf) 395 m/s (1.296 ft/s)
500 m (550 yd) 29 cm (11,4 in) 20 cm (7,9 in) 46 cm (18,1 in) 56 cm (22,0 in) 461 J (340 ft⋅lbf) 342 m/s (1.122 ft/s)
600 m (656 yd) 35 cm (13,8 in) 24 cm (9,4 in) 56 cm (22,0 in) 67 cm (26,4 in) 363 J (268 ft⋅lbf) 303 m/s (994 ft/s)
700 m (770 yd) 42 cm (16,5 in) 29 cm (11,4 in) 66 cm (26,0 in) 78 cm (30,7 in) 314 J (232 ft⋅lbf) 282 m/s (925 ft/s)
800 m (870 yd) 49 cm (19,3 in) 34 cm (13,4 in) 76 cm (29,9 in) 89 cm (35,0 in) 284 J (209 ft⋅lbf) 268 m/s (879 ft/s)
  • R50 có nghĩa là 50% số phát bắn gần nhất sẽ nằm trong một hình tròn có đường kính đã đề cập.

Độ lệch trung bình theo chiều dọc và chiều ngang (R50) với đạn quân dụng ở khoảng cách 800 m (875 yd) đối với các dòng AK là:

Độ phân tán của SKS, AK-47, AKM và AK-74 ở khoảng cách 800 m (875 yd)
Súng trường Chế độ bắn Độ chính xác dọc (R50) Độ chính xác ngang (R50)
SKS (1945) bán tự động 38 cm (15,0 in) 29 cm (11,4 in)
AK-47 (1949) bán tự động 49 cm (19,3 in) 34 cm (13,4 in)
AK-47 (1949) loạt ngắn 76 cm (29,9 in) 89 cm (35,0 in)
AKM (1959) loạt ngắn 64 cm (25,2 in) 90 cm (35,4 in)
AK-74 (1974) loạt ngắn 48 cm (18,9 in) 64 cm (25,2 in)

Sự phổ biến và ảnh hưởng văn hóa

Một chiến sĩ Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam với khẩu AK-47 trong tay
Bản vẽ của một đặc vụ CIA về lần đầu tiên người phương Tây được cho là đã nhìn thấy AK-47 vào năm 1953.
"Về cơ bản, đó là cái mác 'chống phương Tây' của nó... Và bạn biết đấy, người này coi là khủng bố thì người kia lại coi là chiến sĩ tự do, vì vậy tất cả chúng ta đều có cảm giác kiểu như: ồ, mình cũng có một chút chất Che Guevara trong người vậy. Điều này lý giải cho sự phổ biến của (AK-47). Thêm vào đó, tôi nghĩ rằng ở Hoa Kỳ, nó được coi là biểu tượng của văn hóa phản kháng, điều mà người dân nước này vốn dĩ khá ưa thích... Nó giống như một hành động 'chọc gậy bánh xe' hay thách thức chính quyền, nếu bạn muốn hiểu theo cách đó."

-Larry Kahaner, tác gia của cuốn AK-47: The Weapon That Changed the Face of War

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, cũng như Hoa Kỳ và các quốc gia NATO khác, đã cung cấp vũ khí và kiến thức kỹ thuật cho nhiều quốc gia và lực lượng nổi dậy trên toàn thế giới. Trong thời gian này, các nước phương Tây sử dụng các loại súng trường tự động tương đối đắt tiền như FN FAL, HK G3, M14 và M16. Ngược lại, người Nga và người Trung Quốc sử dụng AK-47; chi phí sản xuất thấp và sự đơn giản trong chế tạo cho phép họ sản xuất AK với số lượng khổng lồ.

Tại các quốc gia thân cộng sản, AK-47 trở thành biểu tượng của cuộc cách mạng ở Thế giới thứ ba. Chúng được sử dụng trong Nội chiến Campuchia và Chiến tranh Campuchia – Việt Nam. Trong những năm 1980, Liên Xô trở thành nhà cung cấp vũ khí chính cho các quốc gia bị phương Tây cấm vận, bao gồm các quốc gia Trung Đông như Libya và Syria. Sau khi Liên Xô tan rã, AK-47 được bán công khai lẫn trên thị trường đen cho bất kỳ nhóm nào có tiền mặt, bao gồm cả các băng đảng ma túy và các quốc gia độc tài. Gần đây hơn, chúng được thấy trong tay các nhóm phiến quân Hồi giáo như Al-Qaeda, ISIL, Taliban, hay các nhóm vũ trang cánh tả như FARC và ELN ở Colombia.

Tại Nga, Kalashnikov là một nguồn tự hào dân tộc to lớn. Gia đình của Mikhail Kalashnikov đã cho phép công ty kỹ thuật MMI của Đức sử dụng cái tên nổi tiếng này trên nhiều loại hàng hóa "không gây chết người". Những năm gần đây, Vodka Kalashnikov đã được tiếp thị với các chai lưu niệm có hình dáng của khẩu súng AK-47. Ngoài ra còn có đồng hồ, ô dù, và dao.

Bảo tàng Kalashnikov (còn gọi là bảo tàng AK-47) khai trương ngày 4 tháng 11 năm 2004 tại Izhevsk, Cộng hòa Udmurt. Bảo tàng ghi lại tiểu sử của Tướng Kalashnikov và tư liệu về việc phát minh ra AK-47, thu hút khoảng 10.000 khách tham quan mỗi tháng. Giám đốc bảo tàng, Nadezhda Vechtomova, cho biết mục đích của bảo tàng là vinh danh sự khéo léo của nhà sáng chế và để "tách biệt vũ khí với tư cách là công cụ giết người khỏi những người sản xuất ra nó và kể lại lịch sử của nó tại đất nước chúng tôi".

Vào ngày 19 tháng 9 năm 2017, một tượng đài Kalashnikov cao 9 mét (30 ft) mét đã được khánh thành tại trung tâm Moscow. Một người biểu tình sau đó đã bị cảnh sát bắt giữ khi cố gắng giương biểu ngữ có nội dung: "kẻ tạo ra vũ khí là kẻ tạo ra cái chết"..

Sự phổ biến của loại vũ khí này không chỉ được phản ánh qua những con số. AK-47 được đưa vào quốc kỳ và quốc huy của Mozambique, như một sự thừa nhận rằng quốc gia này đã giành được độc lập phần lớn nhờ vào việc sử dụng hiệu quả súng AK-47. Nó cũng được tìm thấy trong quốc huy của Đông Timor, Zimbabwe và Burkina Faso thời kỳ cách mạng, cũng như trong lá cờ của Hezbollah, Kháng chiến Syria , FARC-EP, Quân đội Nhân dân Mới (New People's Army), TKP/TIKKO và Lực lượng Du kích Nhân dân Cách mạng Quốc tế.

Hoa Kỳ và các quốc gia Tây Âu thường gắn liền AK-47 với kẻ thù của họ, cả trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh lẫn hiện tại. Ví dụ, các tác phẩm hư cấu của phương Tây (phim ảnh, truyền hình, tiểu thuyết, trò chơi điện tử) thường khắc họa tội phạm, thành viên băng đảng, quân nổi dậy và khủng bố sử dụng AK-47 làm vũ khí lựa chọn hàng đầu. Ngược lại, trên khắp thế giới đang phát triển, AK-47 có thể được nhìn nhận một cách tích cực gắn liền với các nhà cách mạng chống lại sự chiếm đóng của nước ngoài, chủ nghĩa đế quốc hoặc chủ nghĩa thực dân.

Ở Ireland, AK-47 gắn liền với thời kỳ xung đột The Troubles do lực lượng bán quân sự cộng hòa sử dụng rộng rãi trong giai đoạn này. Năm 2013, một khẩu AK-47 đã ngừng hoạt động đã được đưa vào bộ sưu tập "Lịch sử Ireland qua 100 hiện vật".

AK-47 đã xuất hiện trong văn hóa đại chúng Mỹ như một trọng tâm lặp đi lặp lại trong bộ phim Lord of War (2005) của Nicolas Cage. Nhiều đoạn độc thoại trong phim tập trung vào loại vũ khí này, cũng như ảnh hưởng của nó đối với các cuộc xung đột toàn cầu và thị trường buôn lậu súngt.

Tại Iraq và Afghanistan, các nhà thầu của các công ty quân sự tư nhân từ Vương quốc Anh và các quốc gia khác đã sử dụng AK-47 và các biến thể của nó cùng với các loại súng phương Tây như AR-15.[cần số trang]

Năm 2006, nhạc sĩ kiêm nhà hoạt động hòa bình người Colombia César López đã chế tạo ra "escopetarra", một khẩu AK được chuyển đổi thành đàn guitar. Một chiếc đã được bán với giá 17.000 USD trong một buổi gây quỹ nhằm hỗ trợ các nạn nhân của mìn nhân đạo, trong khi một chiếc khác được trưng bày tại Hội nghị Giải trừ Quân bị của Liên Hợp Quốc.

Tại Mexico, AK-47 được gọi là "Cuerno de Chivo" (nghĩa đen là "Sừng dê") vì thiết kế băng đạn cong của nó. Đây là một trong những loại vũ khí lựa chọn hàng đầu của các băng đảng ma túy Mexico. Nó đôi khi được nhắc đến trong lời các bài hát dân gian Mexico.

Biểu tượng của quốc gia có hình khẩu AK-47

Các quốc gia sử dụng

Bản đồ các quốc gia sử dụng AK-47 (các quốc gia sử dụng biến thể và phiên bản hiện đại hóa được tô màu cam và tím)

Hiện tại

Các tổ chức phi quốc gia hiện tại

Trước đây

Các tổ chức phi quốc gia trước đây

Xung đột

Thập niên 1940
Thập niên 1950
Thập niên 1960
Thập niên 1970
Thập niên 1980
Thập niên 1990
Thập niên 2000
Thập niên 2010
Sau năm 2020

Xem thêm

Vũ khí dòng AK

Khác

Ghi chú

  1. ^ 2,6 lb được phay từ khối thép 6 lb. Khối lượng này nặng hơn khoảng 2,2 lb so với thân súng dập.
  2. ^ "Một quan niệm sai lầm khá phổ biến là có nhiều binh sĩ Bồ Đào Nha đã sử dụng các loại vũ khí kiểu AK-47 thu giữ được, nhưng điều này chỉ diễn ra ở một số ít đơn vị tinh nhuệ cho các nhiệm vụ đặc biệt".

Chú thích

Tham khảo

Liên kết ngoài

Thống kê chỉ số

Số trận 2 (3)
Bàn thắng 1
Kiến tạo 2
Cú sút 5
Thẻ vàng 0
Thẻ đỏ 0
NL
✦ Đối Tác Công Nghệ Số
Ngọc Lợi Digital
Kỹ Sư Giải Pháp Số & Marketing Toàn Diện
🏆
500+
Dự án
⚡
<1.5s
Tốc độ web
🏛
100%
BCT duyệt
🔧
24/7
Hỗ trợ KT
🎁 Tư vấn miễn phí còn
18 GIỜ : 18 PHÚT : 00 GIÂY
Tư Vấn Ngay → 0388 810 316
QUẢNG CÁO

0388 810 316 Tư vấn miễn phí
NL