Patrick
Số áo #8Midfielder
Brazil
Câu lạc bộ hiện tại
Remo
Clubhouse
Thông tin chi tiết (Wikipedia)
Ngài Patrick Stewart | |
|---|---|
Stewart vào năm 2023 | |
| Sinh | 13 tháng 7, 1940 Mirfield, Anh |
| Mất | 28 tháng 10, 2026 (86 tuổi) Los Angeles, California, Mỹ |
| Nghề nghiệp | Diễn viên |
| Năm hoạt động | 1959–2026 |
| Nổi tiếng vì | Phim: Star Trek: The Next Generation (vai Thuyền trưởng Jean-Luc Picard) X-Men (vai Giáo sư Charles Xavier) Sân khấu: Royal Shakespeare Company |
| Chương trình TV | Star Trek: The Next Generation |
| Phối ngẫu |
|
| Con cái | 2 |
| Website | www |
Ngài Patrick Stewart (13 tháng 7 năm 1940 – 28 tháng 10 năm 2026) là một nam diễn viên người Anh. Với sự nghiệp kéo dài hơn sáu thập kỷ trên màn ảnh, ông từng được đề cử các giải thưởng lớn xuyên suốt sự nghiệp của mình.
Stewart khởi nghiệp với quãng thời gian dài gắn bó cùng Royal Shakespeare Company. Năm 1979, ông giành Giải Laurence Olivier cho Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất nhờ vai diễn trong vở Antony và Cleopatra tại West End. Những vai diễn quan trọng đầu tiên của ông trên màn ảnh là trong các phim truyền hình của đài BBC vào giữa và cuối thập niên 1970, trong đó có Hedda và loạt phim I, Claudius.
Từ thập niên 1980, Stewart chuyển sang đóng phim truyền hình và điện ảnh Mỹ. Ông nổi tiếng nhất với vai Thuyền trưởng Jean-Luc Picard trong Star Trek: The Next Generation, các phim điện ảnh tiếp nối và loạt phim Star Trek: Picard. Khán giả còn nhớ đến ông qua vai Giáo sư Charles Xavier trong loạt phim siêu anh hùng X-Men, vai chính trong loạt phim hài Blunt Talk của đài Starz, cùng các vai lồng tiếng như Phó Giám đốc CIA Avery Bullock trong American Dad! và người dẫn chuyện trong Ted. Ông tái hiện vai Giáo sư X trong Vũ trụ Điện ảnh Marvel, và Avengers: Doomsday (2026) là bộ phim cuối cùng ông tham gia. Năm 2008, khi trở lại Royal Shakespeare Company, ông đóng vai Vua Claudius trong vở Hamlet tại West End và giành Giải Olivier thứ hai.
Năm 1993, tạp chí TV Guide vinh danh ông là nam diễn viên truyền hình xuất sắc nhất thập niên 1980. Ông được gắn sao trên Đại lộ Danh vọng Hollywood ngày 16 tháng 12 năm 1996. Năm 2010, ông được Nữ hoàng Elizabeth II phong tước Hiệp sĩ vì những đóng góp cho ngành kịch nghệ.
Stewart qua đời ngày 28 tháng 10 năm 2026 tại Los Angeles, hưởng thọ 86 tuổi, sau thời gian mắc bệnh Alzheimer và sa sút trí tuệ thể Lewy.
Đầu đời và giáo dục
Patrick Stewart sinh ngày 13 tháng 7 năm 1940 tại Mirfield, thuộc West Riding of Yorkshire, Anh. Ông là con của bà Gladys (nhũ danh Barrowclough), một thợ dệt, và ông Alfred Stewart, một thượng sĩ trong Quân đội Anh. Ông có hai người anh là Geoffrey (sinh năm 1925) và Trevor (sinh năm 1935).
Stewart lớn lên trong cảnh nghèo khó và phải chứng kiến bạo hành từ người cha, điều về sau ảnh hưởng đến quan điểm chính trị của ông. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2008, ông kể: "Cha tôi là một người rất mạnh mẽ, luôn đạt được điều mình muốn. Khi ông bước vào thao trường, dường như chim chóc cũng ngừng hót. Phải nhiều năm sau tôi mới nhận ra cha đã đi vào công việc diễn xuất của tôi như thế nào. Tôi từng để ria mép cho vai diễn trong vở Macbeth. Cha tôi không để ria, nhưng khi nhìn vào gương trước lúc lên sân khấu, tôi thấy gương mặt ông đang nhìn thẳng vào mình".
Stewart học tại trường tiểu học Crowlees Church of England. Tại đây, thầy giáo dạy tiếng Anh Cecil Dormand là người mở đường cho ông đến với diễn xuất. Theo lời Stewart, thầy "đặt một vở kịch của Shakespeare vào tay tôi và bảo: 'Giờ thì đứng lên và diễn đi'". Năm 1951, khi 11 tuổi, ông vào học trường Mirfield Secondary Modern School và tiếp tục học kịch. Năm 15 tuổi, ông rời ghế nhà trường và tham gia diễn tại một nhà hát địa phương. Ông cũng xin làm phóng viên cho tờ Mirfield & District Reporter. Một năm sau, chủ báo buộc ông phải chọn giữa diễn xuất và nghề báo, và ông chọn nghỉ việc. Theo lời anh trai Stewart, ông thường tranh thủ giờ làm để đi tập kịch, rồi bịa ra tin tức để nộp cho tòa soạn. Stewart cũng từng tập quyền Anh. Ông bị rụng hết tóc năm 18 tuổi. Những trải nghiệm đau buồn khiến Stewart trở nên nhút nhát, và ông coi diễn xuất là cách để thể hiện bản thân.
Sự nghiệp
Bắt đầu sự nghiệp (1966–1987)
Sau thời gian gắn bó với Nhà hát Thư viện Manchester, Stewart gia nhập Royal Shakespeare Company năm 1966 và ở lại đây đến năm 1982. Năm 1968, ông trở thành nghệ sĩ cộng tác của đoàn. Ông diễn cùng những tên tuổi như Ben Kingsley và Ian Richardson. Tháng 1 năm 1967, ông lần đầu xuất hiện trên truyền hình trong Coronation Street với vai một lính cứu hỏa. Năm 1969, ông có vai khách mời ngắn là Horatio, diễn cùng Hamlet của Ian Richardson, trong cảnh người đào mộ ở tập sáu của loạt phim tài liệu Civilisation do Kenneth Clark dẫn dắt. Ông ra mắt sân khấu Broadway với vai Snout trong vở Giấc mộng đêm hè nổi tiếng do Peter Brook dàn dựng, rồi chuyển sang Nhà hát Quốc gia Hoàng gia vào đầu thập niên 1980.
Trong nhiều năm, Stewart góp mặt trong nhiều phim truyền hình lớn nhưng chưa trở thành cái tên quen thuộc với khán giả. Ông đóng Vladimir Lenin trong Fall of Eagles, Sejanus trong I, Claudius, Karla trong Tinker Tailor Soldier Spy và Smiley's People, cùng vai Claudius trong bản chuyển thể Hamlet năm 1980 của BBC. Ông còn đảm nhận vai nam chính lãng mạn trong bản chuyển thể tiểu thuyết North and South của Elizabeth Gaskell năm 1975. Năm 1981, ông đóng vai chính là bác sĩ tâm thần Edward Roebuck trong loạt phim Maybury của BBC. Ông cũng có những vai nhỏ trên màn ảnh rộng như Vua Leondegrance trong Excalibur (1981) của John Boorman, Gurney Halleck trong Dune (1984) của David Lynch và Tiến sĩ Armstrong trong Lifeforce (1985) của Tobe Hooper.
Stewart vốn chuộng sân khấu cổ điển hơn các loại hình khác, đến mức từng hỏi nữ diễn viên Lalla Ward của Doctor Who vì sao cô lại đóng phim khoa học viễn tưởng hay phim truyền hình. Dù vậy, năm 1987, ông vẫn nhận lời sang Hollywood tham gia dự án hồi sinh Star Trek sau khi Robert H. Justman thấy ông trong một buổi đọc văn học tại UCLA. Khi đó, Stewart không hề biết Star Trek có sức ảnh hưởng và vị thế biểu tượng lớn đến mức nào trong văn hóa Mỹ. Ông miễn cưỡng ký bản hợp đồng tiêu chuẩn sáu năm. Cả ông, người đại diện lẫn những người ông hỏi ý kiến đều tin rằng loạt phim mới sẽ sớm thất bại, và ông sẽ quay về sân khấu London sau khi kiếm được một khoản tiền. Ở Hollywood, ông dùng thêm tên đệm "Hewes" để phân biệt với một Patrick Stewart khác đã là thành viên của Hiệp hội Diễn viên Màn ảnh.
Sự nghiệp điện ảnh và truyền hình (1987–2026)
Star Trek: The Next Generation

Khi Stewart được chọn vào vai Thuyền trưởng Jean-Luc Picard trong Star Trek: The Next Generation (1987–1994), tờ Los Angeles Times gọi ông là "một diễn viên kịch Shakespeare người Anh vô danh". Không tin loạt phim sẽ thành công, ông sống tạm bợ, chẳng buồn dỡ hành lý, và cũng không lường trước lịch quay dày đặc của truyền hình, bắt đầu từ 4 giờ 45 sáng mỗi ngày. Ban đầu, ông khó hòa nhập với các bạn diễn mà ông cho là thiếu kỷ luật. Ông kể rằng "tinh thần tôi thường chùng xuống" mỗi khi phải học thuộc và đọc những câu thoại đầy thuật ngữ kỹ thuật. Dần dần, ông hiểu rõ hơn sự khác biệt giữa văn hóa sân khấu và truyền hình, và câu thoại kỹ thuật ông thích nhất trở thành "sự liên tục không–thời gian". Ông vẫn giữ tình bạn thân thiết với các diễn viên Star Trek và đứng ra bênh vực họ trước nhà sản xuất khi cần. Marina Sirtis cho rằng Stewart đóng góp "ít nhất 50%, nếu không muốn nói là hơn" vào thành công của loạt phim, bởi những người khác đã noi theo sự chuyên nghiệp và tận tụy của ông.
Stewart kể về lúc nhận ra mình đã nổi tiếng.
Stewart bất ngờ trở nên giàu có nhờ thành công của loạt phim. Năm 1992, trong một đợt nghỉ quay, ông tính ra số tiền kiếm được trong đợt nghỉ ấy còn nhiều hơn 10 tuần diễn vở Woolf ở London. Từ năm 1994 đến năm 2002, ông tiếp tục đóng Picard trong các phim Star Trek Generations (1994), Star Trek: First Contact (1996), Star Trek: Insurrection (1998) và Star Trek: Nemesis (2002), cũng như trong tập mở đầu "Emissary" của Star Trek: Deep Space Nine. Năm 1995, ông được đề cử Giải thưởng của Hiệp hội Diễn viên Màn ảnh cho Nam diễn viên chính xuất sắc trong phim truyền hình chính kịch.
– Phỏng vấn, The Times
Năm 2011, khi được hỏi về dấu mốc đáng nhớ nhất trong sự nghiệp, ông chọn Star Trek: The Next Generation vì "nó đã thay đổi mọi thứ [với tôi]". Ông cũng tự hào về vai diễn này nhờ những thông điệp xã hội và giá trị giáo dục mà loạt phim mang lại cho khán giả trẻ. Khi được hỏi vai diễn này có ý nghĩa thế nào so với sự nghiệp kịch Shakespeare lừng lẫy của mình, ông nói: "Thực ra, tất cả những năm tháng ở Royal Shakespeare Company, đóng đủ các vị vua, hoàng đế, hoàng tử và anh hùng bi kịch, chẳng qua chỉ là sự chuẩn bị để tôi ngồi vào ghế thuyền trưởng của tàu Enterprise." Năm 1992, độc giả tạp chí TV Guide bình chọn ông cùng Cindy Crawford, người mà ông chưa từng nghe tên, là cặp nam nữ "quyến rũ nhất" trên truyền hình. Trong cuộc phỏng vấn với Michael Parkinson, ông bày tỏ lòng biết ơn trước câu trả lời của Gene Roddenberry dành cho một phóng viên. Khi người này nói: "Chắc chắn đến thế kỷ 24 người ta đã chữa được chứng hói đầu", Roddenberry đáp: "Đến thế kỷ 24, người ta sẽ chẳng bận tâm chuyện đó nữa."
Ngày 4 tháng 8 năm 2018, CBS và Stewart cùng thông báo ông sẽ trở lại vai Jean-Luc Picard trong một loạt phim Star Trek mới. Trong một tuyên bố soạn sẵn, Stewart cho biết ông và các nhà sản xuất sẽ cố gắng "một lần nữa mang đến một câu chuyện mới mẻ, bất ngờ và hợp thời".
Loạt phim X-Men

Thành công của Star Trek: The Next Generation trên truyền hình lẫn điện ảnh khiến Stewart bị gắn chặt với hình ảnh Picard, và ông khó nhận được những vai khác. Ông cũng thấy khó trở lại sân khấu sau thời gian dài vắng bóng. Ông từng nói rằng nếu biết loạt phim kéo dài bảy năm, ông đã không bao giờ tham gia: "Không, không. KHÔNG. Giờ nhìn lại, tôi vẫn hơi sợ khi nghĩ rằng một phần lớn cuộc đời mình đã dành trọn cho Star Trek mà gần như không có gì khác."
Tuy vậy, cuối thập niên 1990, ông nhận vai chính trong loạt phim kinh phí lớn X-Men với vai Giáo sư Charles Xavier, người sáng lập và dẫn dắt nhóm siêu anh hùng, một vai có nhiều nét giống Picard. Ban đầu ông ngần ngại khi phải gắn bó với thêm một thương hiệu phim, nhưng mong muốn làm việc cùng đạo diễn Bryan Singer đã thuyết phục ông. Stewart đóng vai này trong bảy phim (X-Men, X2, X-Men: The Last Stand, X-Men Origins: Wolverine, The Wolverine, X-Men: Days of Future Past và Logan) và lồng tiếng nhân vật trong một số trò chơi điện tử (X-Men Legends, X-Men Legends II và X-Men: Next Dimension). Ông tuyên bố rời loạt phim X-Men sau Logan, bộ phim đánh dấu lần cuối ông đóng vai này trong loạt phim.
Năm 2022, ông trở lại với vai Giáo sư X của Trái Đất-838 trong Doctor Strange in the Multiverse of Madness thuộc Vũ trụ Điện ảnh Marvel (MCU).
Phim tài liệu
Năm 2011, Stewart xuất hiện trong phim tài liệu The Captains do William Shatner, người đóng Thuyền trưởng James Kirk trong Star Trek, viết kịch bản và đạo diễn. Trong phim, Shatner phỏng vấn những diễn viên từng đóng vai thuyền trưởng trong loạt phim Star Trek. Phim dành nhiều thời lượng cho các cuộc trò chuyện giữa Shatner và Stewart tại nhà riêng của Stewart ở Oxfordshire và tại hội nghị Star Trek ở Las Vegas, Nevada. Tại đây, Stewart chia sẻ những nỗi sợ và thất bại cá nhân trong thời gian làm thuyền trưởng Starfleet, cũng như những thành công lớn mà ông tin là đến cùng vai Picard. Năm 2016, ông dẫn chuyện cho Connected Universe, phim tài liệu gây quỹ cộng đồng của đạo diễn Malcolm Carter, dựa trên ý tưởng của Nassim Haramein, người tự nhận là nhà vật lý.
Phim và truyền hình khác
Các vai diễn điện ảnh và truyền hình khác của Stewart gồm Sterling, một người đồng tính hào hoa trong phim Jeffrey (1995), và Vua Henry II trong The Lion in Winter. Ông vào vai Thuyền trưởng Ahab trong phim truyền hình Moby Dick năm 1998 và được đề cử cả Giải Emmy lẫn Giải Quả cầu vàng. Cùng năm, ông đóng vai chính trong phim Safe House. Năm 1999, ông đóng vai Scrooge trong phiên bản truyền hình A Christmas Carol của Charles Dickens và nhận đề cử Giải thưởng của Hiệp hội Diễn viên Màn ảnh.
Cuối năm 2003, trong mùa thứ 11 và cũng là mùa cuối của Frasier trên kênh NBC, Stewart xuất hiện trong vai một đạo diễn opera đồng tính có tiếng ở Seattle, người lầm tưởng Frasier là đối tượng hẹn hò. Tháng 7 năm 2003, ông góp mặt trong tập 9 mùa 2 của Top Gear ở phần "Ngôi sao trên chiếc xe giá phải chăng", lập thời gian 1 phút 50 giây với chiếc Liana. Năm 2005, ông được chọn vào vai Giáo sư Ian Hood trong Eleventh Hour, loạt phim kinh dị bốn tập của đài ITV do Stephen Gallagher thực hiện. Tập đầu tiên lên sóng ngày 19 tháng 1 năm 2006. Cũng trong năm 2005, ông đóng Thuyền trưởng Nemo trong bản chuyển thể hai phần The Mysterious Island. Stewart còn tự trào khi đóng một phiên bản phóng đại của chính mình, lúc nào cũng nghĩ đến cảnh khỏa thân, trong loạt phim Extras của Ricky Gervais và Stephen Merchant. Năm 2019, ông đóng John Bosley trong phim hài hành động Charlie's Angels, ra rạp ngày 15 tháng 11.
Sân khấu (1990–2026)
Công việc khác
Nổi tiếng với chất giọng mạnh mẽ và đầy uy lực, Stewart đã góp giọng cho nhiều dự án. Ông đọc lời dẫn cho các bản thu âm Peter và chó sói của Prokofiev (đoạt giải Grammy), Bốn mùa của Vivaldi (William Shatner cũng từng dẫn chuyện tác phẩm này), The Last Battle của C. S. Lewis (phần cuối của bộ Biên niên sử Narnia) và Return to the Centre of the Earth của Rick Wakeman, cùng nhiều chương trình truyền hình như High Spirits with Shirley Ghostman. Stewart dẫn chuyện cho Nine Worlds, chương trình du hành thiên văn qua Hệ Mặt Trời, và các phim tài liệu thiên nhiên như The Secret of Life on Earth và Mountain Gorilla. Ông lồng tiếng Chiếc gương thần trong chương trình biểu diễn trực tiếp Snow White – An Enchanting Musical tại Disneyland. Ông cũng là người dẫn chuyện cho phim Dragons: A Fantasy Made Real phát hành tại Mỹ, và cho hai chương trình chiếu vòm MarsQuest và The Voyager Encounters do Loch Ness Productions sản xuất và phân phối.
Ông lồng tiếng cho các phim hoạt hình The Prince of Egypt, Jimmy Neutron: Boy Genius, Chicken Little, The Pagemaster và The Emoji Movie, cũng như lồng tiếng Anh cho hai phim hoạt hình Nhật Bản Nausicaä of the Valley of the Wind của Hayao Miyazaki và Steamboy của Katsuhiro Otomo. Năm 1999, ông ủng hộ thị trấn quê nhà Dewsbury ở West Yorkshire bằng cách lồng tiếng cho một loạt video giới thiệu về thị trấn. Ông lồng tiếng chú lợn Napoleon trong bản chuyển thể truyền hình Trại súc vật của George Orwell, và đóng khách mời vai Số Một trong tập "Homer the Great" của The Simpsons. Stewart từng thu âm lời dẫn cho phần mở đầu và kết thúc của The Nightmare Before Christmas của Tim Burton, nhưng bản phim cuối cùng lại dùng giọng của người khác. Lời dẫn của ông chỉ xuất hiện trong ấn bản đầu tiên của album nhạc phim.
Ông lồng tiếng định kỳ cho nhân vật Phó Giám đốc CIA Avery Bullock trong loạt phim hoạt hình American Dad!, không chỉ góp giọng mà còn cho mượn cả hình dáng của mình. Ông cũng nhiều lần đóng khách mời với nhiều vai khác nhau trong Family Guy. Stewart là người dẫn chuyện trong Ted (2012), bộ phim đầu tay của đạo diễn Seth MacFarlane. Năm 2006, ông lồng tiếng cho cha của Bambi, Đại hoàng tử của khu rừng, trong Bambi II, phần tiếp theo phát hành thẳng dưới dạng video của Disney.
Ông tái hiện vai Picard qua giọng lồng tiếng trong các trò chơi Star Trek do Activision sản xuất như Star Trek: Armada, Armada II, Star Trek: Starfleet Command III, Star Trek: Invasion, Bridge Commander và Elite Force II. Ông cũng trở lại vai Picard trong Star Trek: Legacy trên PC và Xbox 360, cùng bốn thuyền trưởng Starfleet "chính" khác từ các loạt phim Star Trek.
Ngoài các nhân vật trong Star Trek và X-Men, Stewart còn lồng tiếng cho những trò chơi không liên quan đến hai thương hiệu này như Castlevania: Lords of Shadow, Forgotten Realms: Demon Stone, Lands of Lore: The Throne of Chaos và The Elder Scrolls IV: Oblivion. Năm 2006, vai Hoàng đế Uriel Septim trong Oblivion mang về cho ông Giải thưởng Trò chơi điện tử Spike TV. Ông cũng góp giọng trong một số phiên bản của bộ bách khoa toàn thư tương tác Compton's Interactive Encyclopedia.
Giọng nói của ông còn xuất hiện trong nhiều quảng cáo, như quảng cáo truyền hình tại Anh cho dịp tái ra mắt của ngân hàng TSB, chất tẩy rửa Domestos và trang Moneysupermarket.com, quảng cáo nhiên liệu Shell và quảng cáo thuốc kê đơn Crestor tại Mỹ. Ông cũng lồng tiếng cho quảng cáo truyền hình tại Anh và Úc của phiên bản PAL trò chơi Final Fantasy XII.
Năm 1996, Stewart lồng tiếng cho quảng cáo xe Pontiac, Porsche và thẻ MasterCard Gold. Năm 2004, ông lồng tiếng quảng cáo cho lốp Goodyear Assurance. Ông cũng lồng tiếng quảng cáo cho TV RCA. Tháng 3 năm 2007, ông lồng tiếng nhân vật Max Winters trong phim TMNT. Năm 2008, ông lồng tiếng cho quảng cáo truyền hình của chuỗi Currys và bia Stella Artois. Ông cũng xuất hiện trong các quảng cáo truyền hình của hãng cho thuê xe National Car Rental.
Ông dẫn chuyện cho trò chơi The Sims Medieval của Electronic Arts, gồm đoạn phim mở đầu và đoạn giới thiệu, phát hành ngày 22 tháng 3 năm 2011. Ông cũng lồng tiếng cho phần cốt truyện và đoạn giới thiệu của trò chơi trực tuyến nhiều người chơi LEGO Universe, và làm người dẫn chuyện trong My Memory of Us.
Từ thiện và các hoạt động xã hội
Đời tư
Các mối quan hệ và con cái
Stewart và người vợ đầu Sheila Falconer ly hôn năm 1990 sau 24 năm chung sống. Họ có hai con là con trai Daniel và con gái Sophia. Daniel là diễn viên sân khấu và màn ảnh. Anh từng đóng cùng cha trong phim truyền hình Death Train (1993), loạt phim hài Blunt Talk và tập "The Inner Light" (1992) của Star Trek: The Next Generation, trong vai con trai của nhân vật do cha mình thủ vai.
Năm 1997, Stewart đính hôn với Wendy Neuss, một trong những nhà sản xuất Star Trek: The Next Generation. Hai người kết hôn ngày 25 tháng 8 năm 2000 và ly hôn ba năm sau đó.
Bốn tháng trước khi ly hôn Neuss, Stewart đóng cùng nữ diễn viên Lisa Dillon trong vở The Master Builder. Hai người có quan hệ tình cảm đến năm 2007.
Năm 2008, Stewart bắt đầu hẹn hò Sunny Ozell, ca sĩ kiêm nhạc sĩ sống ở Brooklyn, New York. Ông gặp cô khi diễn vở Macbeth tại Học viện Âm nhạc Brooklyn. Tháng 8 năm 2012, ông mua nhà ở khu Park Slope, Brooklyn và chuyển đến sống cùng Ozell. Tháng 3 năm 2013, có tin hai người đã đính hôn, và họ kết hôn vào tháng 9 cùng năm với Ian McKellen làm chủ lễ. Năm 2020, Stewart tiết lộ đám cưới ở Nevada thực ra không có giá trị pháp lý vì tư cách chủ lễ của McKellen không được công nhận tại bang này. Ngay sau đó, cặp đôi đã tổ chức một buổi lễ thứ hai, ngẫu hứng nhưng hợp pháp, do McKellen chủ trì tại một nhà hàng Mexico ở Los Angeles.
Quan điểm, hoạt động và sở thích
Stewart từng nói quan điểm chính trị của ông bắt nguồn từ niềm tin vào "công bằng" và "bình đẳng". Ông tự nhận là người theo chủ nghĩa xã hội và là đảng viên Công Đảng Anh. Ông nói: "Cha tôi là một người công đoàn rất kiên định, và những giá trị cốt lõi của Công Đảng đã ăn sâu vào tôi." Ông phản đối Chiến tranh Iraq và chỉ trích các đạo luật về tự do dân sự của chính phủ Anh, đặc biệt là kế hoạch kéo dài thời gian tạm giam không cần khởi tố đối với nghi phạm khủng bố lên 42 ngày. Tháng 3 năm 2008, ông ký một thư ngỏ phản đối đề xuất này. Tháng 8 năm 2018, tờ Daily Telegraph cùng nhiều báo khác dẫn lời ông và đưa tin ông rời Công Đảng vì lo ngại về sự lãnh đạo của Jeremy Corbyn. Ông sau đó lên Twitter khẳng định mình bị trích dẫn sai và phủ nhận việc rời đảng.
Stewart là người vô thần và là người bảo trợ của tổ chức Humanists UK. Ông cũng tự nhận là một nhà nữ quyền. Ông công khai ủng hộ quyền được hỗ trợ chết. Tháng 1 năm 2011, ông trở thành người bảo trợ của tổ chức Dignity in Dying, nơi vận động thông qua luật hỗ trợ người bệnh giai đoạn cuối kết thúc sự sống tại Anh.
Tháng 8 năm 2014, Stewart là một trong 200 người nổi tiếng ký thư gửi báo The Guardian, bày tỏ mong muốn Scotland bỏ phiếu ở lại Vương quốc Anh trong cuộc trưng cầu dân ý diễn ra vào tháng 9 năm đó.
Năm 2016, Stewart cùng Benedict Cumberbatch dẫn đầu hơn 280 nhân vật trong giới nghệ thuật kêu gọi bỏ phiếu ở lại Liên minh châu Âu trong cuộc trưng cầu dân ý cùng năm.
Ngày 2 tháng 3 năm 2017, Stewart cho biết ông sẽ nộp đơn xin nhập quốc tịch Mỹ để phản đối chính quyền Trump. Tuy nhiên, khi trả lời phỏng vấn Hiệp hội Báo chí tại dạ tiệc gây quỹ của Viện Phim Anh ngày 3 tháng 10 năm 2017, ông chỉ bày tỏ mong muốn Mỹ siết chặt luật kiểm soát súng mà không nhắc lại ý định trở thành công dân Mỹ.
Stewart là cổ động viên trung thành của câu lạc bộ quê nhà Huddersfield Town. Năm 2017, ông có mặt tại Sân vận động Wembley khi đội bóng giành quyền lên chơi ở hạng đấu cao nhất lần đầu tiên kể từ năm 1972. Từ năm 2010, ông giữ cương vị chủ tịch Học viện Huddersfield Town, dự án phát hiện và đào tạo tài năng trẻ của câu lạc bộ.
Trong cuộc phỏng vấn với tạp chí American Theatre, ông nói: "Có những lúc tôi mơ được trở thành một nghệ sĩ dương cầm hòa nhạc. Nhiều năm qua, tôi may mắn được làm việc rất gần gũi với nghệ sĩ vĩ đại Emanuel Ax. Tôi đã nói với anh ấy rằng nếu được đổi chỗ với bất kỳ ai, tôi sẽ chọn anh ấy."
Năm 2015, Stewart gây tranh cãi trên mạng xã hội khi lên tiếng bênh vực một tiệm bánh của những người theo đạo Cơ Đốc ở Belfast. Tiệm bánh này bị phạt vì phân biệt đối xử sau khi từ chối làm chiếc bánh có dòng chữ "Ủng hộ hôn nhân đồng giới". Trên trang Facebook cá nhân, Stewart giải thích rằng dù vẫn phản đối tôn giáo có tổ chức, ông đứng về phía tiệm bánh: "Họ không phản đối vì đó là một cặp đồng tính, cũng không phải vì họ đang kỷ niệm một cuộc hôn nhân hay một sự gắn kết nào đó. Điều họ phản đối là chính dòng chữ trên chiếc bánh, vì họ thấy nó xúc phạm. Tôi ủng hộ quyền của họ được nói: 'Không, điều này đi ngược niềm tin cá nhân của tôi, tôi sẽ không làm.'" Tiệm bánh cuối cùng thắng kiện trong một phán quyết mang tính bước ngoặt của Tòa án Tối cao Vương quốc Anh, gần như cùng lúc với một vụ việc tương tự tại Hoa Kỳ.
Stewart là người mê xe hơi và thường có mặt tại Silverstone vào dịp Grand Prix Anh. Ông từng phỏng vấn ba tay đua về đích đầu tiên trên bục trao giải tại Grand Prix Canada 2017. Trong lần xuất hiện trên Top Gear năm 2003, ông lập thời gian 1 phút 50 giây ở phần "Ngôi sao trên chiếc xe giá phải chăng". Ông có giấy phép thi đấu của Motorsport UK và từng tham gia cuộc đua Silverstone Classic Celebrity Challenge 2012, về thứ chín, kém người thắng cuộc Kelvin Fletcher 3 phút 2,808 giây. Năm 2012, Stewart gặp thần tượng đua xe Stirling Moss trong phim tài liệu Racing Legends của kênh BBC Two.
Qua đời
Stewart qua đời ngày 28 tháng 10 năm 2026 tại Los Angeles, hưởng thọ 86 tuổi. Nguyên nhân là bệnh Alzheimer và chứng sa sút trí tuệ thể Lewy. Kelly Bush Novak, người phụ trách truyền thông của ông, công bố tin buồn vào ngày hôm sau.
Danh sách phim tham gia
Điện ảnh
| Năm | Phim | Vai diễn | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| 1975 | Hedda | Ejlert Løvborg | |
| Hennessy | Tilney | ||
| 1981 | Excalibur | Leondegrance | |
| 1982 | The Plague Dogs | Major | Lồng tiếng |
| 1984 | Dune | Gurney Halleck | |
| Uindii (tên dịch: Windy Story) | Charles Duffner | ||
| 1985 | Code Name: Emerald | Đại tá Peters | |
| The Doctor and the Devils | Giáo sư Macklin | ||
| Lifeforce | Dr. Armstrong | ||
| Wild Geese II | Tướng Nga | ||
| 1986 | Lady Jane | Henry Grey, Công tước thứ nhất xứ Suffolk | |
| 1991 | L.A. Story | Mr. Perdue, quản lý nhà hàng L'Idiot | |
| 1993 | Gunmen | Loomis | |
| Robin Hood: Men in Tights | Richard I của Anh | ||
| 1994 | The Pagemaster | Adventure | Lồng tiếng |
| Star Trek Generations | Jean-Luc Picard | ||
| 1995 | Jeffrey | Sterling | |
| Let It Be Me | John | ||
| 1996 | Star Trek: First Contact | Jean-Luc Picard | |
| 1997 | Conspiracy Theory | Dr. Jonas | |
| Masterminds | Rafe Bentley | ||
| 1998 | Dad Savage | Dad Savage | |
| The Prince of Egypt | Seti | Lồng tiếng | |
| Safe House | Mace Sowell | ||
| Star Trek: Insurrection | Jean-Luc Picard | Nhà sản xuất liên kết | |
| 2000 | X-Men | Giáo sư Charles Xavier | |
| 2001 | Jimmy Neutron: Boy Genius | King Goobot | Lồng tiếng |
| 2002 | Star Trek: Nemesis | Jean-Luc Picard | |
| 2003 | X2 | Giáo sư Charles Xavier | |
| 2004 | Boo, Zino & the Snurks | Albert Drollinger | Lồng tiếng Anh |
| 2005 | Chicken Little | Mr. Woolensworth | Lồng tiếng |
| The Game of Their Lives | Dent McSkimming lúc lớn tuổi | ||
| Nausicaä of the Valley of the Wind | Lord Yupa | Lồng tiếng Anh | |
| Steamboy | Lloyd Steam | ||
| 2006 | Bambi II | Đại hoàng tử | Lồng tiếng; video |
| X-Men: The Last Stand | Giáo sư Charles Xavier | ||
| 2007 | TMNT | Winters | Lồng tiếng |
| 2009 | X-Men Origins: Wolverine | Giáo sư Charles Xavier | Khách mời không ghi tên |
| 2011 | Gnomeo & Juliet | William Shakespeare | Lồng tiếng |
| 2012 | Ice Age: Continental Drift | Ariscratle | |
| Ted | Người dẫn chuyện | ||
| 2013 | Hunting Elephants | Lord Michael Simpson | |
| Legends of Oz: Dorothy's Return | Tugg | Lồng tiếng | |
| The Wolverine | Giáo sư Charles Xavier | Khách mời không ghi tên | |
| 2014 | Match | Tobi Powell | |
| A Million Ways to Die in the West | Guardian Sheep | Lồng tiếng; không ghi tên | |
| Sinbad: The Fifth Voyage | Người dẫn chuyện | Lồng tiếng | |
| X-Men: Days of Future Past | Giáo sư Charles Xavier | ||
| 2015 | Christmas Eve | Harris | |
| Green Room | Darcy | ||
| Ted 2 | Người dẫn chuyện | Lồng tiếng | |
| 2016 | Spark: A Space Tail | The Captain | |
| 2017 | Dragonheart: Battle for the Heartfire | Drago | |
| The Emoji Movie | Poop | ||
| Logan | Giáo sư Charles Xavier | ||
| The Wilde Wedding | Harold | ||
| 2018 | Postcards from the 48% | Chính mình | Phim tài liệu |
| 2019 | Charlie's Angels | John Bosley | |
| Coda | Henry Cole | ||
| The Kid Who Would Be King | Merlin lúc già | ||
| 2020 | Dragon Rider | Nettlebrand | Lồng tiếng |
| 2022 | Doctor Strange in the Multiverse of Madness | Giáo sư Charles Xavier |
Truyền hình
| Năm | Tiêu đề | Vai | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| 1967 | Coronation Street | Nhân viên cứu hỏa | Tập: "#1.638" |
| 1969 | Civilisation | Horatio | Tập: "Protest and Communication" |
| 1973 | Play of the Month: The Love-Girl and the Innocent | Gurvich | Phim truyền hình |
| 1974 | Antony and Cleopatra | Enobarbus | Phim truyền hình |
| Fall of Eagles | Vladimir Lenin | 3 tập | |
| The Gathering Storm | Clement Attlee | Phim truyền hình | |
| 1975 | Joby | Reg Weston | Phim truyền hình |
| North & South | John Thornton | 4 tập | |
| 1976 | I, Claudius | Sejanus | 4 tập |
| 1977 | Jackanory | Người dẫn chuyện | 5 tập, đọc truyện Annerton Pit của Peter Dickinson |
| 1979 | Tinker Tailor Soldier Spy | Karla | Tập: "How It All Fits Together" |
| 1980 | The Anatomist by James Bridie | Dr. Knox | Phim truyền hình |
| Hamlet, Prince of Denmark | Claudius | Phim truyền hình | |
| Little Lord Fauntleroy | Wilkins | Phim truyền hình | |
| 1981–1983 | Maybury | Edward Roebuck | 20 tập |
| 1982 | Smiley's People | Karla | Tập #1.6 |
| 1984 | Pope John Paul II | Wladyslaw Gomulka | Phim truyền hình |
| 1987–1994 | Star Trek: The Next Generation | Jean-Luc Picard | Vai chính |
| 1988 | Reading Rainbow | Chính mình | Tập: "The Bionic Bunny Show" |
| 1993 | Death Train | Malcolm Philpott | Phim truyền hình; còn có tên Detonator |
| Star Trek: Deep Space Nine | Jean-Luc Picard | Tập: "Emissary" | |
| 1994 | In Search of Dr. Seuss | Trung sĩ Mulvaney | Lồng tiếng; phim truyền hình |
| Saturday Night Live | Chính mình | Người dẫn chương trình; tập: "Patrick Stewart / Salt-N-Pepa" | |
| 1995 | 500 Nations | Nhiều vai lồng tiếng | 8 tập |
| 1995; 2013 | The Simpsons | Number One (lồng tiếng) | 2 tập |
| 1996 | The Canterville Ghost | Sir Simon de Canterville | Phim truyền hình |
| 1998 | Moby Dick | Thuyền trưởng Ahab | 3 tập |
| 1999 | Animal Farm | Napoleon | Lồng tiếng; phim truyền hình |
| A Christmas Carol | Ebenezer Scrooge | Phim truyền hình | |
| 2002 | King of Texas | John Lear | Phim truyền hình |
| 2003 | Frasier | Alastair Burke | Tập: "The Doctor Is Out" |
| The Lion in Winter | Vua Henry II | Phim truyền hình | |
| 2004 | The Last Dragon | Người dẫn chuyện | Lồng tiếng; phim truyền hình |
| 2005 | Extras | Chính mình | Tập: "Patrick Stewart" |
| Mysterious Island | Nemo | Phim truyền hình | |
| The Snow Queen | The Raven | Lồng tiếng; phim truyền hình | |
| 2005–2014, 2018 | Family Guy | Nhiều vai lồng tiếng | Lồng tiếng; vai định kỳ |
| 2005–2026 | American Dad! | Avery Bullock / Nhiều vai lồng tiếng | Lồng tiếng; vai định kỳ |
| 2006 | Eleventh Hour | Ian Hood | 4 tập |
| 2009 | Hamlet | Claudius / The Ghost | Phim truyền hình |
| 2010 | Macbeth | Macbeth | Phim truyền hình |
| 2012 | The Daily Show | Chính mình | Phóng viên; 7 tập |
| Futurama | Huntmaster | Lồng tiếng; tập: "31st Century Fox" | |
| Richard II | John of Gaunt | Phim truyền hình | |
| 2012, 2014 | Robot Chicken | Lồng tiếng phụ | Lồng tiếng; 3 tập |
| 2014 | Cosmos: A Spacetime Odyssey | William Herschel | Lồng tiếng; tập: "A Sky Full of Ghosts" |
| 2015–2016 | Blunt Talk | Walter Blunt | Vai chính |
| 2015 | Oscar's Hotel for Fantastical Creatures | Albert | Lồng tiếng; tập: "Fishy Business" |
| 2016 | Unbreakable Kimmy Schmidt | Chính mình | Lồng tiếng; tập: "Kimmy Kidnaps Gretchen!" |
| 2019 | Breakthrough: The Ideas That Changed the World | Người dẫn chuyện | Lồng tiếng; phim tài liệu |
| 2020–2023 | Star Trek: Picard | Jean-Luc Picard | Vai chính; kiêm giám đốc sản xuất |
| 2020 | The Ready Room | Chính mình | Chương trình bình luận sau tập phim; 2 tập |
Trò chơi điện tử
| Năm | Tiêu đề | Vai lồng tiếng |
|---|---|---|
| 1994 | Lands of Lore: The Throne of Chaos | Richard, Ruler of Gladstone |
| 1995 | Star Trek: The Next Generation - A Final Unity | Jean-Luc Picard |
| 1997 | Star Trek Generations | |
| 1999 | Star Trek: Hidden Evil | |
| 2000 | Star Trek: Invasion | |
| Star Trek: Armada | Jean-Luc Picard / Locutus of Borg clone | |
| 2001 | Star Trek: Armada II | Jean-Luc Picard |
| 2002 | Star Trek: Bridge Commander | |
| Star Trek: Starfleet Command III | ||
| X-Men: Next Dimension | Charles Xavier | |
| 2003 | X2: Wolverine's Revenge | |
| Star Trek: Elite Force II | Jean-Luc Picard | |
| 2004 | Forgotten Realms: Demon Stone | Khelban "Blackstaff" Arunsun |
| X-Men Legends | Charles Xavier | |
| 2005 | X-Men Legends II: Rise of Apocalypse | |
| 2006 | The Elder Scrolls IV: Oblivion | Hoàng đế Uriel Septim VII |
| X-Men: The Official Game | Charles Xavier | |
| Star Trek: Legacy | Jean-Luc Picard | |
| 2010 | Castlevania: Lords of Shadow | Zobek / Death |
| Lego Universe | Người dẫn chuyện | |
| 2011 | The Sims Medieval | |
| War of the Worlds | ||
| 2014 | Castlevania: Lords of Shadow 2 | Zobek |
| Family Guy: The Quest for Stuff | Chính mình / Jean-Luc Picard | |
| 2015 | Leonardo's Cat | Leonardo da Vinci |
| 2018 | My Memory of Us | Người dẫn chuyện |
| 2019 | Shadow Point | |
| Felix the Reaper |
Sân khấu
| Năm | Tiêu đề | Vai diễn | Nhà viết kịch | Địa điểm |
|---|---|---|---|---|
| 1965–1966 | Hamlet | Player King | William Shakespeare | Royal Shakespeare Theatre, London |
| 1968 | King Lear | Công tước xứ Cornwall | William Shakespeare | Royal Shakespeare Theatre, London |
| 1969 | Bartholomew Fair | Lantern Leatherhead | Ben Jonson | Aldwych Theatre, London |
| 1970–1971 | Two Gentlemen of Verona | Launce | John Guare, Mel Shapiro | Aldwych Theatre, London
Royal Shakespeare Theatre |
| 1971 | A Midsummer's Night Dream | Tom Snout | William Shakespeare | Billy Rose Theatre, Broadway |
| 1975 | Hedda Gabler | Eilert Lovborg | Henrik Ibsen | Royal Shakespeare Theatre (lưu diễn Úc) |
| 1977–1978 | A Midsummer's Night Dream | Oberon | William Shakespeare | Aldwych Theatre
Royal Shakespeare Theatre |
| 1978 | A Miserable Lonely Death | Đại tá Goosen | Norman Fenton, Ron Blair | Royal Shakespeare Theatre
Aldwych Theatre |
| 1981–1982 | Two Gentlemen of Verona | Sir Eglamour | John Guare, Mel Shapiro | Royal Shakespeare Theatre |
| 1982 | Every Good Boy Deserves Favour | Bác sĩ | Tom Stoppard | Royal Festival Hall |
| 1995 | The Tempest | Prospero | William Shakespeare | New York Shakespeare Festival
Broadhurst Theatre, Broadway |
| 1997 | Othello | Othello | William Shakespeare | The Lansburgh Theatre, Washington, D.C. |
| 1998 | The Ride Down Mt. Morgan | Lyman Felt | Arthur Miller | The Public Theatre, Off-Broadway
Ambassador Theatre, Broadway |
| 2001 | Who's Afraid of Virginia Woolf? | George | Edward Albee | Guthrie, Minneapolis |
| Johnson Over Jordan | Robert Johnson | J. B. Priestley | West Yorkshire Playhouse, Leeds | |
| 2003 | The Master Builder | Halvard Solness | Henrik Ibsen | Albery Theatre, London |
| The Caretaker | Davies | Harold Pinter | American Airlines Theatre, Broadway | |
| 2006 | The Tempest | Prospero | William Shakespeare | Royal Shakespeare Theatre
Novello Theatre, London |
| Antony and Cleopatra | Mark Antony | William Shakespeare | Swan Theatre, Royal Shakespeare Company | |
| 2007 | A Christmas Carol | Diễn độc vai | Charles Dickens | Albery Theatre, West End of London |
| Twelfth Night | Malvolio | William Shakespeare | Chichester Festival Theatre | |
| 2007–2008 | Macbeth | Macbeth | William Shakespeare | Gielgud Theatre, London
Brooklyn Academy of Music, New York City Lyceum Theatre, Broadway |
| 2008–2009 | Hamlet | Claudius / The Ghost | William Shakespeare | Royal Shakespeare Company
Novello Theatre, London |
| 2009 | Waiting for Godot | Vladimir | Samuel Beckett | Theatre Royal Haymarket, West End (lưu diễn Anh) |
| 2010 | A Life in the Theatre | Mr. Robert | David Mamet | Gerald Schoenfeld Theatre, Broadway |
| Bingo: Scenes of Money and Death | William Shakespeare | Edward Bond | Chichester Festival Theatre
Young Vic Theatre | |
| 2011 | The Merchant of Venice | Shylock | William Shakespeare | Royal Shakespeare Company |
| 2013 | No Man's Land | Hirst | Harold Pinter | Berkeley Repertory Theatre, California |
| 2013–2014 | Waiting for Godot / No Man's Land | Vladimir/Hirst | Samuel Beckett / Harold Pinter | Cort Theatre, Broadway |
| 2016 | No Man's Land | Hirst | Harold Pinter | Lyceum Theatre, Sheffield
Theatre Royal, Newcastle |
Tham khảo
Liên kết ngoài
- Patrick Stewart tại Internet Broadway Database
- Patrick Stewart trên IMDb
- Patrick Stewart trên trang TCM Movie Database
- Patrick Stewart tại AllMovie
- sirpatstew Patrick Stewart trên Twitter/X
- Trek star's space travel unease BBC interview
- Interview with Sue Lawley on Desert Island Discs
- "Hardtalk Sir Patrick Stewart". BBC. ngày 25 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2012.
- "Family Detective" ngày 12 tháng 1 năm 2007 Daily Telegraph. A genealogy of Patrick Stewart's family from 1851
- Patrick Stewart interview (www.independent.co.uk)
- Patrick Stewart at Emmys.com
Thống kê chỉ số