Tijjani Reijnders
Số áo #14Midfielder
Netherlands
Câu lạc bộ hiện tại
Al Qadsiah
Clubhouse
Thông tin chi tiết (Wikipedia)
|
Reijnders trong màu áo Manchester City vào năm 2025 | |||
| Thông tin cá nhân | |||
|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Tijjani Martinus Jan Reijnders | ||
| Ngày sinh | 29 tháng 7, 1998 | ||
| Nơi sinh | Zwolle, Hà Lan | ||
| Chiều cao | 1,85 m | ||
| Vị trí | Tiền vệ | ||
| Thông tin đội | |||
Đội hiện nay | Al-Qadsiah | ||
| Số áo | 14 | ||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||
| Năm | Đội | ||
| 2003–2007 | WVF Zwolle | ||
| 2007–2011 | FC Zwolle | ||
| 2011–2015 | FC Twente | ||
| 2015–2016 | CSV '28 | ||
| 2016–2017 | PEC Zwolle | ||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 2017 | PEC Zwolle | 1 | (0) |
| 2017–2021 | Jong AZ | 92 | (19) |
| 2018–2023 | AZ | 93 | (7) |
| 2020 | → RKC Waalwijk (mượn) | 8 | (0) |
| 2023–2025 | AC Milan | 73 | (13) |
| 2025–2026 | Manchester City | 28 | (5) |
| 2026– | Al-Qadsiah | 3 | (1) |
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia‡ | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 2018–2019 | U-20 Hà Lan | 3 | (0) |
| 2023– | Hà Lan | 35 | (7) |
|
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 23:15, 30 tháng 8 năm 2026 (UTC) ‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 07:45, 26 tháng 6 năm 2026 (UTC) | |||
Tijjani Martinus Jan Reijnders (phát âm tiếng Hà Lan: [tiˈdʒani ˈrɛi̯ndərs], sinh ngày 29 tháng 7 năm 1998) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Hà Lan hiện đang thi đấu ở vị trí Tiền vệ cho câu lạc bộ Al-Qadsiah tại Saudi Pro League và Đội tuyển bóng đá quốc gia Hà Lan.
Reijnders bắt đầu sự nghiệp tại câu lạc bộ quê nhà PEC Zwolle sau khi khoác áo nhiều đội trẻ Hà Lan trước khi chuyển sang câu lạc bộ Hà Lan khác AZ Alkmaar vào mùa giải 2017−18. Anh sau đó được cho RKC Waalwijk mượn đến hết mùa giải 2019−20, rồi trở lại AZ và trở thành trụ cột. Anh ký hợp đồng với AC Milan vào mùa hè 2023 và giành Supercoppa Italiana 2024–25. Sau hai năm thi đấu tại Ý, anh gia nhập Manchester City vào năm 2025 trước khi gia nhập Al-Qadsiah vào năm 2026.
Reijnders là cầu thủ quốc tế Hà Lan, từng thi đấu từ cấp đội trẻ U-20 trở lên. Anh ra mắt đội tuyển quốc gia vào tháng 9 năm 2023. Tijjani Reijnders có mẹ là người Indonesia và có em trai là Eliano Reijnders đang thi đấu cho đội tuyển bóng đá quốc gia Indonesia.
Sự nghiệp câu lạc bộ
Những năm đầu tiên
Reijnders bắt đầu sự nghiệp cầu thủ từ khi còn nhỏ khi gia nhập đội trẻ FC Twente. Anh thi đấu tại FC Twente đến đội U-17 trước khi chuyển sang CSV '28 và thi đấu trong một năm từ 2015 đến 2016.
Năm 2016, Reijnders gia nhập đội U-19 PEC Zwolle và sau đó được đôn lên đội một của câu lạc bộ tại Eredivisie. Ngày 13 tháng 8 năm 2017, anh chơi trận ra mắt chuyên nghiệp trong màu áo của PEC Zwolle trong trận thắng 4–2 trên sân nhà trước Roda JC tại Eredivisie khi vào sân ở phút thứ 91 thay cho Erik Bakker.
Reijnders chỉ thi đấu một mùa giải tại PEC Zwolle và chính thức rời câu lạc bộ vào năm 2017, ra sân tổng cộng 1 lần và không ghi bàn thắng nào.
AZ Alkmaar
Tháng 8 năm 2017, Reijnders gia nhập câu lạc bộ AZ tại Eredivisie và ký hợp đồng có thời hạn đến giữa năm 2020 kèm theo điều khoản gia hạn thêm hai mùa giải nữa. Ban đầu, anh chơi cho đội dự bị trẻ Jong AZ. Ngày 1 tháng 9, anh chơi trận ra mắt cho Jong AZ trong trận đấu gặp Jong Utrecht. Ngày 22 tháng 9, anh ghi bàn thắng đầu tiên trong sự nghiệp vào lưới Fortuna Sittard. Anh khởi đầu tốt với 5 pha kiến tạo trong 7 trận đầu tiên mặc dù Jong AZ hiếm khi giành chiến thắng. Tháng 12 năm 2017, anh được đôn lên đội một. Bên cạnh sự nghiệp chuyên nghiệp của mình, anh đã giành thời gian làm việc tại một siêu thị Aldi địa phuơng. Ngày 6 tháng 5 năm 2018, anh đã lập một pha kiến tạo quan trọng cho bàn thắng thứ 6 của AZ bởi Alireza Jahanbakhsh trong trận thắng 6–0 trước PEC Zwolle sau khi vào sân từ băng ghế dự bị. Tháng 7 năm 2019, anh đã gia hạn hợp đồng đến giữa năm 2023.
Reijnders trở lại AZ và trở thành cầu thủ trụ cột của câu lạc bộ khi được đá chính thường xuyên. Tháng 5 năm 2021, anh gia hạn hợp đồng đến giữa năm 2025. Ngày 19 tháng 9 năm 2021, Reijnders ghi bàn thắng cho AZ trong trận thua 2–3 trước Heracles Almelo. Anh hầu hết vào sân từ băng ghế dự bị, ra sân tổng cộng 47 lần và ghi tổng cộng 6 bàn thắng, và chỉ vắng mặt 5 trận trong mùa giải 2021–22.
Mùa hè năm 2022, Fredrik Midtsjø chuyển đến Galatasaray tại Süper Lig. Do vậy, Reijnders đã giành được một suất đá chính ở hàng tiền vệ bên cạnh Jordy Clasie và Dani de Wit. Ngày 11 tháng 8, anh ghi hai bàn thắng trong trận thắng đấu 7–0 trước Dundee United tại vòng loại UEFA Conference League. Anh được chọn vào Đội hình Eredivisie tiêu biểu nhất tháng vào tháng 9 năm 2022 và tháng 4 năm 2023. Ngày 24 tháng 1 năm 2023, Reijnders gia hạn hợp đồng đến giữa năm 2027. Anh góp mặt trong hai trận bán kết gặp West Ham tại UEFA Europa Conference League 2022–23.
Reijnders rời AZ vĩnh viễn vào năm 2023, ra sân tổng cộng 128 lần và ghi tổng cộng 13 bàn thắng.
Cho mượn tại RKC Waalwijk
Năm 2020, anh được câu lạc bộ RKC Waalwijk tại Eredivisie cho mượn từ tháng 1 đến tháng 6 để có thêm thời gian thi đấu cho cấp độ cao nhất. Ngày 19 tháng 1 năm 2020, anh chơi trận ra mắt RKC Waalwijk trong trận đấu gặp ADO Den Haag tại Eredivisie. Anh rời RWC Waalwijk sau khi nửa cuối của mùa giải 2019–20 kết thúc, ra sân tổng cộng 8 lần và không ghi bàn thắng nào, và quay trở lại AZ.
AC Milan
Ngày 19 tháng 7 năm 2023, Reijnders gia nhập câu lạc bộ AC Milan tại Serie A với hợp đồng có thời hạn đến tháng 6 năm 2028 sau thương vụ chuyển nhượng vĩnh viễn trị giá ước tính 20 triệu Euro. Anh được trao số áo 14. Ngày 21 tháng 8, anh chính thức ra sân lần đầu tiên cho Rossoneri trong trận thắng 2–0 trước Bologna tại Serie A. Sau những trận đấu đầu tiên trong màu áo AC Milan, giới báo chí đã dành nhiều lời khen ngợi cho anh. Ngày 19 tháng 9, anh chơi trận ra mắt UEFA Champions League trong trận đấu với Newcastle United. Ngày 11 tháng 11, Reijnders ghi bàn thắng đầu tiên cho Milan trong trận hòa 2–2 với Lecce tại Sân vận động Via del Mare. Ngày 7 tháng 3 năm 2024, anh ghi bàn thắng đầu tiên tại UEFA Europa League trong trận thắng 4–2 trên sân nhà trước Slavia Praha ở lượt đi vòng 16 đội.
ngày 22 tháng 10 năm 2024, anh ghi hai bàn thắng đầu tiên của mình tại UEFA Champions League khi lập cú đúp trong chiến thắng 3–1 trước Club Brugge. Ngày 3 tháng 3 năm 2025, AC Milan thông báo Reijnders đã gia hạn hợp đồng đến ngày 30 tháng 6 năm 2030. Tháng 1 năm 2025, anh vô địch Supercoppa Italiana 2024–25 sau khi đánh bại Inter trong trận chung kết, qua đó giành danh hiệu đầu tiên trong màu áo Rossoneri và sự nghiệp của chính mình. Reijnders được bình chọn vào đội hình Serie A xuất sắc nhất mùa giải 2024–25 và được bầu là tiền vệ xuất sắc nhất Serie A mùa giải 2024–25.
Reijnders rời AC Milan vĩnh viễn vào năm 2025, ra sân tổng cộng 104 lần và ghi tổng cộng 19 bàn thắng.
Manchester City
Ngày 11 tháng 6 năm 2025, Reijnders gia nhập câu lạc bộ Manchester City tại Premier League với hợp đồng 5 năm sau thuơng vụ chuyển nhượng trị giá khoảng 80 triệu USD, gồm cả phụ phí. Ngày 16 tháng 8, anh ghi bàn thắng đầu tiên và lập một pha kiến tạo đầu tiên trong trận trận ra mắt cho Manchester City, góp phần trong chiến thắng 4–0 trước Wolverhampton ở sân khách tại Premier League. Ngày 22 tháng 3 năm 2026, Reijnders đã giành được danh hiệu đầu tiên cùng câu lạc bộ, EFL Cup, sau khi Manchester City đánh bại Arsenal 2–0 trong trận chung kết. Anh có khởi đầu khá tích cực tại Manchester City nhưng không thể duy trì tầm ảnh hưởng xuyên suốt mùa giải. Reijnders rời Manchester City vĩnh viễn vào năm 2026, ra sân tổng cộng 50 lần và ghi tổng cộng 7 bàn thắng.
Al-Qadsiah
Ngày 19 tháng 8 năm 2026, Reijnders gia nhập câu lạc bộ Al-Qadsiah tại Saudi Pro League với hợp đồng 4 năm sau thuơng vụ chuyển nhượng trị giá khoảng 52 triệu bảng Anh.
Sự nghiệp quốc tế
Đội tuyển quốc gia
Trước khi được triệu tập lần đầu lên vào đội tuyển quốc gia Hà Lan vào tháng 6 năm 2023 cho vòng chung kết UEFA Nations League 2023, Reijnders cũng có thể thi đấu cho Indonesia vì mẹ của anh là người Indonesia, nhưng anh chọn khoác áo nước quê hương của bố mình là Hà Lan.
Ngày 7 tháng 9 năm 2023, Reijnders chơi trận ra mắt đội tuyển Hà Lan trong trận thắng 3–0 trước Hy Lạp tại vòng loại UEFA Euro 2024. Ngày 13 tháng 10, anh lần đầu tiên có mặt trong đội hình xuất phát trong trận thua 1–2 trước Pháp tại vòng loại UEFA Euro 2024.
Reijnders ghi bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển Hà Lan trong chiến thắng 4–0 trước Scotland tại Johan Cruyff Arena vào ngày 22 tháng 3 năm 2024.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, Reijnders chính thức được gọi vào danh sách tuyển thủ đội tuyển Hà Lan tham dự UEFA Euro 2024. Anh đã thi đấu tất cả các trận đấu của Hà Lan tại UEFA Euro 2024, trong đó Hà Lan phải từ giã giải đấu này sau khi thất bại 1–2 trước Anh tại vòng bán kết.
Ngày 27 tháng 5 năm 2026, Reijnders chính thức được gọi vào danh sách tuyển thủ đội tuyển Hà Lan tham dự FIFA World Cup 2026. Tại FIFA World Cup 2026, anh có 3 lần ra sân cho tuyển Hà Lan, đá chính trong các trận gặp Nhật Bản, Thụy Điển và Tunisia tại vòng bảng Bảng F. Anh không thi đấu ở vòng 32 đội, nơi Hà Lan bị Maroc loại sau loạt sút luân lưu.
Phong cách thi đấu
Reijnders là tiền vệ trung tâm cơ động, có xu hướng dâng cao vào khu vực 1/3 cuối sân đối phương và vòng cấm để dứt điểm hoặc gây áp lực lên đối thủ. Sau khi chuyển đến AC Milan, anh ngay lập tức được huấn luyện viên Stefano Pioli đưa vào đội hình xuất phát ở vị trí tiền vệ trung tâm lệch trái (tiếng Ý: mezzala) trong sơ đồ 4–3–3. Anh cũng thi đấu trong vai trò cặp tiền vệ trung tâm đôi trong sơ đồ 4–2–3–1, chủ yếu lệch trái mặc dù thuận chân phải. Theo Reijnders, lý do chiến thuật đóng vai trò quan trọng khi anh chọn AC Milan thay vì Barcelona vì vị trí dự kiến ở Barcelona sẽ hạn chế khả năng di chuyển của anh.
Đời tư
Reijnders là con trai của cựu cầu thủ Martin Reijnders và là anh trai của Eliano Reijnders, một cầu thủ chuyên nghiệp đang thi đấu cho Persib Bandung. Reijnders có một nửa dòng máu Indonesia từ mẹ người Molucca của mình. Anh được đặt tên theo cựu tiền đạo người Nigeria Tijani Babangida. Reijnders kết hôn vào mùa hè năm 2022, và anh có con trai sinh năm 2024.
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
- Tính đến 30 tháng 8 năm 2026
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải đấu | Cúp quốc gia | Cúp Liên đoàn | Châu lục | Khác | Tổng cộng | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | ||
| PEC Zwolle | 2017–18 | Eredivisie | 1 | 0 | — | — | — | — | 1 | 0 | ||||
| Jong AZ | 2017–18 | Eerste Divisie | 32 | 6 | — | — | — | — | 32 | 6 | ||||
| 2018–19 | Eerste Divisie | 36 | 8 | — | — | — | — | 36 | 8 | |||||
| 2019–20 | Eerste Divisie | 16 | 3 | — | — | — | — | 16 | 3 | |||||
| 2020–21 | Eerste Divisie | 8 | 2 | — | — | — | — | 8 | 2 | |||||
| Tổng cộng | 92 | 19 | — | — | — | — | 92 | 19 | ||||||
| AZ | 2017–18 | Eredivisie | 1 | 0 | — | — | — | — | 1 | 0 | ||||
| 2018–19 | Eredivisie | 0 | 0 | 1 | 0 | — | — | — | 1 | 0 | ||||
| 2019–20 | Eredivisie | 3 | 0 | — | — | — | — | 3 | 0 | |||||
| 2020–21 | Eredivisie | 22 | 0 | 0 | 0 | — | — | — | 22 | 0 | ||||
| 2021–22 | Eredivisie | 36 | 6 | 4 | 0 | — | 7 | 0 | — | 47 | 6 | |||
| 2022–23 | Eredivisie | 34 | 3 | 2 | 0 | — | 18 | 4 | — | 54 | 7 | |||
| Tổng cộng | 96 | 9 | 7 | 0 | — | 25 | 4 | — | 128 | 13 | ||||
| RKC Waalwijk (mượn) | 2019–20 | Eredivisie | 8 | 0 | — | — | — | — | 8 | 0 | ||||
| AC Milan | 2023–24 | Serie A | 36 | 3 | 2 | 0 | — | 12 | 1 | — | 50 | 4 | ||
| 2024–25 | Serie A | 37 | 10 | 5 | 2 | — | 10 | 3 | 2 | 0 | 54 | 15 | ||
| Tổng cộng | 73 | 13 | 7 | 2 | — | 22 | 4 | 2 | 0 | 104 | 19 | |||
| Manchester City | 2024–25 | Premier League | — | — | — | — | 3 | 0 | 3 | 0 | ||||
| 2025–26 | Premier League | 28 | 5 | 5 | 1 | 4 | 1 | 10 | 0 | — | 47 | 7 | ||
| Tổng cộng | 28 | 5 | 5 | 1 | 4 | 1 | 10 | 0 | 3 | 0 | 50 | 7 | ||
| Al-Qadsiah | 2026–27 | Saudi Pro League | 3 | 1 | 0 | 0 | — | 0 | 0 | 0 | 0 | 3 | 1 | |
| Tổng cộng sự nghiệp | 301 | 46 | 19 | 3 | 4 | 1 | 57 | 8 | 5 | 0 | 386 | 58 | ||
- ^ Bao gồm KNVB Cup, Coppa Italia và FA Cup
- ^ Bao gồm EFL Cup
- ^ a b Số lần ra sân tại UEFA Europa Conference League
- ^ Sáu lần ra sân tại UEFA Champions League, sáu lần ra sân và một bàn thắng tại UEFA Europa League
- ^ a b Số lần ra sân tại UEFA Champions League
- ^ Số lần ra sân tại Supercoppa Italiana
- ^ Số lần ra sân tại FIFA Club World Cup
- ^ Số lần ra sân tại AFC Champions League Elite
Quốc tế
- Tính đến 25 tháng 6 năm 2026
| Đội tuyển quốc gia | Năm | Trận | Bàn |
|---|---|---|---|
| Hà Lan | 2023 | 6 | 0 |
| 2024 | 14 | 3 | |
| 2025 | 9 | 3 | |
| 2026 | 6 | 1 | |
| Tổng cộng | 35 | 7 | |
- Tỷ số và kết quả liệt kê bàn thắng của Hà Lan được để trước, cột tỷ số cho biết tỷ số sau mỗi bàn thắng của Reijnders.
| # | Ngày | Địa điểm | Trận | Đối thủ | Bàn thắng | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 22 tháng 3 năm 2024 | Johan Cruyff Arena, Amsterdam, Hà Lan | 7 | 1–0 | 4–0 | Giao hữu | |
| 2 | 7 tháng 9 năm 2024 | Sân vận động Phillips, Eindhoven, Hà Lan | 16 | 2–1 | 5–2 | UEFA Nations League 2024–25 (hạng đấu A) | |
| 3 | 10 tháng 9 năm 2024 | Johan Cruyff Arena, Amsterdam, Hà Lan | 16 | 1–0 | 2–2 | ||
| 4 | 20 tháng 3 năm 2025 | De Kuip, Rotterdam, Hà Lan | 21 | 2–1 | 2–2 | ||
| 5 | 9 tháng 10 năm 2025 | Sân vận động Quốc gia, Ta' Qali, Malta | 26 | 3–0 | 4–0 | Vòng loại FIFA World Cup 2026 | |
| 6 | 17 tháng 11 năm 2025 | Johan Cruyff Arena, Amsterdam, Hà Lan | 29 | 1–0 | 4–0 | ||
| 7 | 27 tháng 3 năm 2026 | Johan Cruyff Arena, Amsterdam, Hà Lan | 30 | 2–1 | 2–1 | Giao hữu |
Danh hiệu
Câu lạc bộ
AC Milan
- Vô địch Supercoppa Italiana: 2024–25
- Á quân Coppa Italia: 2024–25
Manchester City
Cá nhân
- Đội hình Serie A xuất sắc nhất mùa giải: 2024–25
- Tiền vệ xuất sắc nhất Serie A: 2024–25
- Đội hình Serie A xuất sắc nhất mùa giải của The Athletic: 2024–25
- Đội hình Serie A xuất sắc nhất năm: 2024–25
Tham khảo
Liên kết ngoài
- Tijjani Reijnders trên trang web Al Qadsiah FC (bằng tiếng Anh)
- Tijjani Reijnders – Thành tích thi đấu tại UEFA (bằng tiếng Anh)
- Tijjani Reijnders tại BDFutbol (bằng tiếng Anh)
- Tijjani Reijnders tại Soccerbase (bằng tiếng Anh)
- Tijjani Reijnders tại Soccerway (bằng tiếng Anh)
- Tijjani Reijnders tại WorldFootball.net (bằng tiếng Anh)
- Tijjani Reijnders trong cơ sở dữ liệu transfermarkt (bằng tiếng Anh)
Thống kê chỉ số