Quay lại

Dinh Xuan Tien

Cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp

Quốc tịch Flag Việt Nam / Quốc tế
Tuổi N/A
Chiều cao N/A
Cân nặng N/A

Câu lạc bộ hiện tại

Logo

Đội tuyển / Câu lạc bộ chuyên nghiệp

Giải đấu bóng đá

Thông tin chi tiết (Wikipedia)

Đại học Huế
Hue University
Địa chỉ
Bản đồ
Số 3 Lê Lợi, phường Thuận Hóa
, ,
Thông tin
LoạiĐại học dự kiến phát triển thành Đại học Quốc gia
Đại học vùng
Đại học trọng điểm quốc gia Việt Nam
Khẩu hiệuChất lượng – Hội nhập – Phát triển
Thành lập1957; 69 năm trước (1957)
1994; 32 năm trước (1994)
Số điện thoại+84-54-845658
Giám đốcGS.TS. Nguyễn Vũ Quốc Huy
Số Sinh viên50.357 sinh viên
Khuôn viên1.171.039 m² (tương đương hơn 117 ha)
MàuĐỏ tươi     
Trắng     
Websitewww.hueuni.edu.vn
Thông tin khác
Thuộc tổ chứcBộ Giáo dục và Đào tạo
Thành viênTrường Đại học Sư phạm, Đại học Huế
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
Trường Đại học Nghệ thuật, Đại học Huế
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế
Trường Đại học Luật, Đại học Huế
Trường Du lịch, Đại học Huế
Trường Kỹ thuật và Công nghệ
Phân Viện Đại học Huế tại Quảng Trị
Viện Đào tạo mở và Công nghệ thông tin
Viện Chuyển đổi số và Học liệu
Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội
Viện Khảo thí và Bảo đảm chất lượng giáo dục.
Trường Trung học phổ thông chuyên Khoa học Huế, Đại học Huế
Trường THPT Thuận Hóa, Trường Đại học Sư phạm Huế
Tổ chức và quản lý
Phó giám đốcGS.TS. Trần Đăng Hòa
Thống kê
Xếp hạng
Xếp hạng quốc gia
Times Higher Education(2023)4
QS Asia(2023)6
Xếp hạng châu Á
QS Asia(2023)Nhóm 351-400

Đại học Huế (tiếng Anh: Hue University) là một trong bốn hệ thống đại học vùng của Việt Nam, nằm trong nhóm đại học trọng điểm quốc gia, có trụ sở tại Huế, được đánh giá là một trong 10 trường/nhóm trường đại học tốt nhất tại Việt Nam, là một trụ cột trong hệ thống giáo dục bậc cao của Việt Nam.

Ngoài đào tạo, Đại học Huế đồng thời là trung tâm nghiên cứu của khu vực Miền Trung – Tây Nguyên trên các lĩnh vực: Kinh tế, Khoa học Kỹ thuật, Khoa học Xã hội và Nhân văn,.... Trong đó, các ngành về Y-dược, Sư phạm, Khoa học xã hội, Luật được xem như thế mạnh của Đại học Huế, đã có uy tín trong khu vực Miền Trung – Tây Nguyên và cả nước.

Tiền thân của Đại học Huế là Viện Đại học Huế được thành lập năm 1957, là đại học đầu tiên và lâu đời nhất khu vực Miền Trung - Tây Nguyên. Có quy mô đào tạo và nghiên cứu khoa học lớn nhất Miền Trung và Tây Nguyên Việt Nam. Đang hoàn thành đề án Đại học Quốc gia Huế theo Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 10/12/2019 của Bộ chính trị. Và quyết định mới nhất số 2249/QĐ-BGDĐT về quyết định Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp công lập thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 ngày 31/7/2026. Vì thế, Đại học Huế đang được quan tâm đầu tư để trở thành Đại học Quốc gia Huế, một trong bốn trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học hàng đầu cả nước.

Lịch sử

Giai đoạn 1957-1975

Tháng 3 năm 1957 dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa Tổng thống Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh thành lập Viện Đại học Huế gồm 5 Trường đại học: Sư phạm, Văn khoa, Luật khoa, Hán học, và Khoa học. Trong niên khóa đầu có 358 sinh viên. đến năm 1960 thì sĩ số tăng lên 1431 sinh viên. Năm 1959 mở thêm chương trình dự bị y khoa.

Viện Đại học Huế là một trong 3 cơ sở giáo dục đại học công lập duy nhất của miền Nam trước năm 1975, cùng với Viện Đại học Sài Gòn (1956) và Viện Đại học Cần Thơ (1966). Viện Đại học Huế được thành lập chỉ sau Viện Đại học Sài Gòn đúng 1 năm, từng được biết đến là một cơ sở giáo dục đại học lớn thứ hai của miền Nam; đi tiên phong trong sử dụng tiếng Việt để giảng dạy ngành Y khoa, có một Viện Hán học mạnh nhất trong nghiên cứu và đào tạo về Hán Nôm, nơi đầu tiên xuất bản Tạp chí khoa học.

Giai đoạn 1975-1994

Tháng 10 năm 1976 trên cơ sở các Trường đại học cũ, 3 trường đại học đã được thành lập ở Huế: Trường Đại học Sư phạm Huế, Trường Đại học Tổng hợp Huế (Hiện nay là Trường Đại học Khoa học Huế) và Trường Đại học Y khoa Huế. Năm 1983, ở Huế, Trường Đại học Nông Lâm Huế, nguyên là Trường Đại học Nông nghiệp II từ Hà Bắc chuyển vào. Tháng 4 năm 1994, theo nghị định 30/CP của chính phủ. Về cơ cấu tổ chức, năm 1994, khi mới tái thành lập Đại học Huế có các trường gồm:

Giai đoạn 1994-Nay

Đến nay Đại học Huế đã phát triển thêm các Trường Đại học: Kinh tế, Ngoại ngữ, Luật, Viện Công nghệ sinh học, Phân hiệu Đại học Huế tại Quảng Trị, Trường Du Lịch, Khoa Kỹ thuật và Công nghệ, Khoa Quốc tế và Khoa Giáo dục thể chất; Viện Đào tạo mở và Công nghệ thông tin, Viện Khảo thí và Bảo đảm chất lượng giáo dục, Viện Chuyển đổi số và Học liệu, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội, Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh, Trung tâm Phục vụ sinh viên, Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo, Nhà xuất bản Đại học Huế, Tạp chí Khoa học.

Sau 18 năm hoạt động, để phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể của đất nước trong giai đoạn mới, ngày 4/4/1994, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 30/CP thành lập Đại học Huế trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại các trường đại học, cao đẳng trong khu vực. Một lần nữa Đại học Huế được tổ chức lại theo hướng xây dựng một Đại học đa lĩnh vực – mô hình phổ biến của Đại học Thế giới. Lúc này, Đại học Huế gồm có các đơn vị: Trường Đại học Khoa học, Trường Đại học Sư phạm, Trường Đại học Nông Lâm (tiền thân là Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc được chuyển về Huế, sáp nhập thêm trường Cao đẳng Nông-Lâm-Súc Huế và đổi tên thành Trường Đại học Nông lâm Huế), Trường Đại học Y khoa, Trường Đại học Nghệ thuật cùng các Trung tâm NCKH và đào tạo khác như: Trung tâm Đào tạo Từ xa (1995), Trung tâm Tài nguyên Môi trường và Công nghệ Sinh học (1995).

27 tháng 9 năm 2002 Trường Đại học Kinh tế trực thuộc Đại học Huế được thành lập trên cơ sở là khoa Kinh tế-Đại học Huế.

13 tháng 07 năm 2004 Trường Đại học Ngoại ngữ trực thuộc Đại học Huế được thành lập. Cũng trong thời gian này, các trung tâm khác được thành lập: Trung tâm CNTT, Trung tâm Học liệu, Trung tâm Phục vụ Sinh viên.

Tháng 5 năm 2005 Khoa Giáo dục Thể chất – Đại học Huế được thành lập trên cơ sở chuyển đổi chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Giáo dục Thể chất Đai học Huế. Nhà Xuất bản Đại học Huế được thành lập.

Ngày 03 tháng 5 năm 2006 thành lập Phân hiệu Đại học Huế tại Quảng Trị trên cơ sở Văn phòng đại diện Đại học Huế tại Quảng Trị được thành lập.

Ngày 26 tháng 3 năm 2007 Trường Đại học Y Khoa trực thuộc Đại học Huế thành Trường Đại học Y Dược trực thuộc Đại học Huế.

Ngày 14 tháng 11 năm 2007 Trung tâm Tài nguyên, Môi trường và Công nghệ sinh học đã chính thức chuyển thành Viện Tài nguyên, Môi trường và Công nghệ sinh học.

Ngày 19 tháng 8 năm 2009 Khoa Luật trực thuộc Đại học Huế được thành lập

Ngày 29 tháng 4 năm 2014 Viện Công nghệ sinh học, Đại học Huế được thành lập

Ngày 3 tháng 3 năm 2015 Trường Đại học Luật được thành lập trên cơ sở là Khoa luật Đại học Huế

Ngày 14 tháng 2 năm 2019 Khoa Quốc tế - Đại học Huế được thành lập

Ngày 24 tháng 10 năm 2019 Khoa Kỹ thuật và Công nghệ - Đại học Huế được thành lập

Ngày 13 tháng 1 năm 2020 Viện Đào tạo Mở và Công nghệ Thông tin trực thuộc Đại học Huế được thành lập

Ngày 16 tháng 11 năm 2020 Trường Du lịch thuộc Đại học Huế được thành lập.

Ngày 29 tháng 9 năm 2026 Trường Kỹ thuật và Công nghệ được thành lập

Sau gần 65 năm xây dựng và phát triển, hiện nay, Đại học Huế có 09 đơn vị thành viên: Trường Đại học Khoa học, Trường Đại học Sư phạm, Trường Đại học Y Dược, Trường Đại học Nông lâm, Trường Đại học Nghệ thuật, Trường Đại học Kinh tế, Trường Đại học Ngoại ngữ; Trường Đại học Luật, Trường Kỹ thuật và Công nghệ, Viện Công nghệ Sinh học; Trường Du lịch; 03 khoa thuộc: Khoa Giáo dục Thể chất; Phân hiệu tại tỉnh Quảng Trị; các trung tâm, viện đào tạo, nghiên cứu và phục vụ đào tạo và Nhà xuất bản. Đại học Huế luôn tự hào về truyền thống, vị thế và vai trò, tầm vóc của một cơ sở giáo dục quốc gia, mang trong mình những đặc sắc và tinh hoa trong giáo dục và đào tạo. Tính đa ngành, đa lĩnh vực của Đại học Huế được đánh giá là đặc biệt rõ nét với đầy đủ các ngành, nhóm ngành đào tạo.

Nghị Quyết 54 ngày 10/12/2019 của Bộ Chính trị khẳng định “Xây dựng trung tâm giáo dục - đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao trên cơ sở phát triển Đại học Huế trở thành Đại học Quốc gia, phấn đấu nằm trong tốp 300 các trường đại học hàng đầu Châu Á”.

Đại học Huế đã được nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba (1998), Huân chương Độc lập hạng Nhì (2002), Huân Chương Độc lập hạng Nhất (2012) và nhiều danh hiệu khác.

  • Hiện nay Đại học Huế đang tái cấu trúc và hoàn chỉnh đề án chuyển thành Đại học Quốc gia Huế theo hướng tự chủ.

Nhiệm vụ

  • Đại học Huế là thực hiện nhiệm vụ chiến lược quốc gia, nhiệm vụ phát triển vùng của đất nước; phát huy truyền thống đào tạo tinh hoa, chất lượng cao kết hợp với nghiên cứu khoa học đa ngành, đa lĩnh vực tạo ra các sản phẩm khoa học - công nghệ tiên tiến, hiệu quả.
  • Đại học Huế phải tổ chức lại mô hình đào tạo cũng như quản lý của mình để sinh viên thuộc hệ thống đại học Đại học Huế ra trường không phải đi tìm và xin việc mà phải tự tạo công việc hay khởi nghiệp. Vì thế, Đại học Huế phải kết nối với các nhà tuyển dụng trong đào tạo.
  • Đầu năm 2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu hệ thống Đại học Huế phải phấn đấu thành trường quốc gia và ngang tầm quốc tế. Chính phủ sẽ tiếp tục đầu tư vốn ODA thêm khoảng 100 triệu USD xây dựng đô thị đại học ở khu Trường Bia.

Chất lượng đào tạo

Quy mô đào tạo

Hệ thống Đại học Huế là một trong năm trung tâm đại học lớn nhất và đứng thứ hai cả nước về quy mô đào tạo, sau hệ thống đại học quốc gia. Đại học Huế được thành lập cách đây 68 năm với 8 trường Đại học thành viên, gần 4000 giảng viên, nhân viên và đào đạo gần 90 nghìn sinh viên. Tính đa ngành, đa lĩnh vực trong đào tạo của Đại học Huế được đánh giá rõ nét nhất: 147 ngành đào tạo đại học, 102 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ, 55 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ, nhiều ngành đào tạo song ngữ Việt - Anh, 75 chuyên ngành đào tạo chuyên khoa cấp I, cấp II và bác sĩ nội trú với đầy đủ các lĩnh vực và nhóm ngành: sư phạm, y dược, nghệ thuật, nông-lâm-ngư, ngoại ngữ, kinh tế, luật, du lịch, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, luật, kỹ thuật công nghệ... Hàng năm có trên 70.000 người dự thi vào Đại học Huế.. Trong năm 2020, Đại học Huế mở nhiều ngành học mới theo xu thế phát triển của xã hội về kỹ thuật, công nghệ cao, y sinh, kinh tế, ngoại giao, Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng, Kinh tế quốc tế, Quan hệ quốc tế Khoa học dữ liệu và trí tuệ nhân tạo, Quản trị và phân tích dữ liệu, Hộ sinh, Quản trị du lịch và Công nghệ giải trí. Tái cấu trúc ngành nghề đáp ứng nhu cầu xã hội. Hiện nay, có gần 40.000 sinh viên hệ chính quy, khoảng 20.000 sinh viên hệ không chính quy và hàng chục ngàn sinh viên học theo hình thức đào tạo từ xa. Hàng năm có hơn 10.000 sinh viên hệ chính quy tốt nghiệp.

Cơ sở vật chất

Các trường, phân hiệu thành viên của Đại học Huế được xây dựng trên 7 khuôn viên tại thành phố Huế và 1 khuôn viên tại phường Nam Đông Hà (Tỉnh Quảng Trị.) với tổng diện tích mặt bằng hiện nay trên 117,1 ha, trong đó diện tích Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế (77,34 ha) rộng nhất trong các trường đại học trên địa bàn thành phố Huế.

Đại học Huế đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch chung về việc phê duyệt quy hoạch chung Đại học Huế với quy mô sử dụng đất bao gồm: các trường trong nội thành là 26,5 ha và Khu quy hoạch mới tại phường An Cựu thuộc thành phố Huế là 120 ha (nay là Khu đô thị Đại học Huế).

Đại học Huế có 146.639m2 sàn và 135 ha đất, đến nay, Đại học Huế đang quản lý và sử dụng 252 ha đất và hơn 342.222m2 sàn, cơ bản đảm bảo diện tích đất/sinh viên theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chuẩn quốc gia đối với cơ sở giáo dục đại học.

Trong 5 năm qua, các dự án đầu tư bằng nhiều nguồn vốn đã bổ sung thêm cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cho Đại học Huế, trong đó có các dự án trọng điểm như sau: Dự án Đầu tư giai đoạn II xây dựng Đại học Huế (259 tỷ đồng); Dự án nâng cao năng lực đào tạo, nghiên cứu khoa học và khám chữa bệnh tại Trường Đại học Y - Dược và Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế (171 tỷ đồng); Dự án duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa cơ sở vật chất - kỹ thuật và trang thiết bị phục vụ hoạt động khoa học công nghệ tại Viện Công nghệ sinh học (60 tỷ đồng); các Dự án tăng cường năng lực nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cho Đại học Huế và các đơn vị thành viên (90 tỷ đồng).

Đội ngũ cán bộ

Hiện nay, Đại học Huế có hơn 4000 giảng viên và nhân viên. Trong đó 3800 có biên chế và gần 1000 người có hợp đồng lao động; 3000 cán bộ giảng dạy, 328 giáo sư và phó giáo sư, 35 giáo sư danh dự nước ngoài, 900 tiến sĩ, 1.482 thạc sĩ, 1861 giảng viên cao cấp và giảng viên chính, và hơn 75 nhà giáo ưu tú và thầy thuốc ưu tú, 27 chuyên khoa 1,2. Đại học Huế có số lượng giáo sư, phó giáo sư và tiến sĩ hàng đầu khu vực Miền Trung - Tây Nguyên Việt Nam. Trong khi đó Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế có tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ của nhà trường trong năm 2024 đạt 48,2%, tăng 9,1% so với năm 2023, vượt chuẩn cơ sở giáo dục đại học. Tỷ lệ giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động đạt 94,48%. Có 417 giảng viên toàn thời gian; trong đó có 9 giáo sư, 57 phó giáo sư, 201 tiến sĩ/bác sĩ chuyên khoa II, 216 thạc sĩ/bác sĩ chuyên khoa I.

Để tăng cường đội ngũ cán bộ giảng dạy đủ sức đảm đương nhiệm vụ trở thành đại học nghiên cứu trong tương lai, Đại học Huế đã tuyển dụng thêm nhiều giảng viên mới và gửi các trường đại học danh tiếng nước ngoài đào tạo sau đại học bằng các nguồn kinh phí khác nhau.

Bảng xếp hạng đại học

Đại học Huế lần đầu tiên có tên trong bảng xếp hạng đại học thế giới của Times Higher Education năm 2023 với thứ hạng 1501+ Theo bảng xếp hạng khu vực của Quacquarelli Symonds (QS) năm 2023 thì Đại học Huế nằm trong nhóm 351 - 400 đại học tốt nhất châu Á và thứ 6 của Việt Nam. Ở bảng xếp hạng Scimago Institutions Rankings năm 2022, Đại học Huế xếp thứ 727 thế giới và 17 Việt Nam Còn theo bảng xếp hạng Webometrics tháng 7 năm 2022, Đại học Huế đứng thứ 13 tại Việt Nam.. Bảng xếp hạng năm 2023 Đại học Huế đứng thứ 10 tại Việt Nam và năm 2025 Đại học Huế đứng thứ 11 trong bảng xếp hạng VNUR.

Đổi mới công tác đào tạo và giảng dạy

Đại học Huế đã thiết lập được một hệ thống văn bản, quy trình, quy định hoàn chỉnh về quản lý đào tạo có hệ thống từ cấp đại học đến các trường, viện thành viên, khoa trực thuộc. Các đơn vị đào tạo đã hoàn thiện các chương trình đào tạo phù hợp với học chế tín chỉ, tăng cường liên thông, chuyển đổi giữa các chương trình, tăng tính chủ động cho sinh viên. Chương trình đào tạo mới được xây dựng theo hướng tăng tính tự học, khả năng nghiên cứu và khả năng sáng tạo của sinh viên, đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng lấy sinh viên làm trung tâm, kiểm tra - đánh giá theo quá trình.

Đại học Huế đã thống nhất trong toàn hệ thống nguyên tắc liên thông giảng dạy, đang tổ chức thực hiện công nhận các môn chung (lý luận chính trị, giáo dục thể chất, giáo dục quốc phòng…). Việc triển khai chương trình tích hợp, liên thông, đào tạo văn bằng đôi giữa các đơn vị đào tạo cũng đang được áp dụng trong 5 năm gần đây.

Đại học Huế đang triển khai việc xây dựng và phát triển chương trình đào tạo theo phương pháp tiếp cận CDIO (Conceive Design Implement Operate), gắn liền với việc chuẩn hóa đầu ra; hoàn thiện nội dung chương trình, đảm bảo không gian làm việc kỹ thuật CDIO để tăng cường phương pháp học chủ động, học tích cực, học trải nghiệm, tăng cường thời gian tự học của sinh viên.

Nhiều hội thảo về đổi mới phương pháp giảng dạy cấp trường và cấp Đại học Huế đã được tổ chức nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ giảng viên về đổi mới phương pháp giảng dạy. Một số biện pháp cụ thể như ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp giảng dạy, biên soạn giáo trình điện tử, đầu tư tăng cường cơ sở vật chất đã được thực hiện tại Đại học Huế.

Nghiên cứu khoa học & Bài báo quốc tế

Hoạt động khoa học và công nghệ

Từ năm 1994 đến nay, Đại học Huế đã chủ trì thực hiện gần 300 đề tài, nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) cấp Nhà nước, bao gồm các dự án sản xuất thử nghiệm, đề tài độc lập, nhiệm vụ Nghị định thư, nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản; gần 1.000 đề tài, nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ, cấp Tỉnh. Bên cạnh đó, từ năm 2011, hàng năm còn có các đề tài KH&CN cấp Đại học Huế từ nguồn kinh phí cân đối của Đại học Huế (từ năm 2014 được Chính phủ quy định chính thức tại Nghị định số 99/2014/NĐ-CP về đầu tư phát triển tiềm lực và khuyến khích hoạt động KH&CN trong các cơ sở giáo dục đại học) với số lượng 70 - 80 đề tài trong các năm đầu và gần đây tăng lên 100 - 150 đề tài mỗi năm

Số lượng và kinh phí đề tài KH&CN cấp Đại học Huế (2016-2020)

Giai đoạn 2016-2020
Năm 2016 2017 2018 2019 2020
Số đề tài 81 87 100 136 120
Tổng kinh phí (triệu đồng) 6030 5670 6040 11260 15977
Kinh phí khoa học công nghệ của Đại học Huế 5580 5130 5320 10700 15817
Nguồn khác 450 540 720 560 160

Năm 2018, Đại học Huế đã và đang thực hiện 588 đề tài các cấp, trong đó: 04 nhiệm vụ KH&CN cấp Nhà nước, 24 nhiệm vụ cấp Tỉnh, 44 nhiệm vụ cấp Bộ, 25 đề tài Nafosted, 202 nhiệm vụ cấp Đại học Huế, 289 đề tài cấp trường, khoa với tổng kinh phí 35,727 tỉ đồng. - Số lượng công bố khoa học của cán bộ giảng viên Đại học Huế trên các ấn phẩm khoa học quốc tế uy tín thuộc danh mục ISI (hay WoS) và danh mục Scopus tăng nhanh và đều trong vòng 10 năm qua (Hình 1.1). Năm 2019, tính đến ngày 31/7, Đại học Huế đã có 144 công bố thuộc danh mục ISI và 192 công bố thuộc danh mục Scopus. Tốc độ gia tăng ước tính khoảng 24%/năm đối với danh mục ISI và 23%/năm đối với danh mục Scopus. Năm 2018, Đại học Huế đứng thứ hai trong các cơ sở giáo dục đại học trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo về số lượng công bố thuộc danh mục ISI được Bộ khen thưởng

Số lượng công bố khoa học trên các ấn phẩm thuộc danh mục WoS (ISI) và Scopus giai đoạn 2009-2018.

Có 175 sản phẩm công nghệ, trong đó 25 sản phẩm có tiềm năng thương mại, đã chuyên giao và thương mại hoá, 10 sản phẩm có nguồn thu.

Bắt đầu từ năm 2018, Đại học Huế chủ trương thành lập các nhóm nghiên cứu mạnh. Ngay trong đợt đầu tiên năm 2018, đã có 20 nhóm nghiên cứu mạnh được công nhận, trong đó Đại học Huế đã ký hợp đồng đặt hàng với 12 nhóm, hỗ trợ kinh phí và điều kiện để thúc đẩy công bố quốc tế, đào tạo nghiên cứu sinh và phát triển các chương trình, dự án chuyên ngành và liên ngành.

Đăng ký sở hữu trí tuệ và được công nhận 9 giải pháp sáng chế, hữu ích, nhãn hiệu hàng hóa và kiểu dáng công nghiệp, có 5 sản phẩm và quy trình công nghệ đã công báo và đang chờ được công nhận. Có 10 quy trình công nghệ được chuyển giao trong nông lâm ngư nghiệp và 5 sản phẩm được thương mại hóa phục vụ phát triển kinh tế xã hội. Các giải pháp thăm, khám và chăm sóc sức khỏe được ứng dụng trực tiếp thông qua Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế, bệnh viện hạng I với 700 giường bệnh.

Đại học Huế là đơn vị tiên phong thực hiện tái cấu trúc ngành nghề đào tạo; đổi mới căn bản và toàn diện chương trình đào tạo; chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo; Tiên phong trong hoạt động khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo của sinh viên và chuyển đổi số trong các hoạt động đào tạo và đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong đào tạo.

Về hoạt động khoa học và công nghệ, từ năm 1994 đến nay, Đại học Huế đã chủ trì thực hiện hơn 310 đề tài, nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Nhà nước, bao gồm các dự án sản xuất thử nghiệm, đề tài độc lập, nhiệm vụ Nghị định thư, nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản; gần 1.100 đề tài, nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ, cấp tỉnh.

Số lượng công bố khoa học của cán bộ giảng viên Đại học Huế trên các ấn phẩm khoa học quốc tế uy tín thuộc danh mục ISI (hay WoS) và danh mục Scopus tăng nhanh và đều trong 8 năm qua (2015-2023). Liên tiếp trong 5 năm (2018-2022), ĐH Huế đứng thứ hai trong các cơ sở giáo dục đại học trực thuộc Bộ GD&ĐT về số lượng công bố thuộc danh mục ISI được Bộ khen thưởng...

Bắt đầu từ năm 2018, Đại học Huế chủ trương thành lập các nhóm nghiên cứu mạnh. Đã có 80 nhóm nghiên cứu mạnh, nhóm nghiên cứu tiêu biểu được thành lập và công nhận, hỗ trợ kinh phí và điều kiện để thúc đẩy công bố quốc tế, đào tạo nghiên cứu sinh và phát triển các chương trình, dự án chuyên ngành và liên ngành.

Thứ hạng Đại học Huế trên các bảng xếp hạng thế giới có sự chuyển biến mạnh mẽ. Với xếp hạng QS Asia, Đại học Huế liên tục có mặt trong top các trường đại học Châu Á. Năm 2019, ĐH Huế là một trong những ĐH Việt Nam được THE (Time Higher Education) khuyến nghị sinh viên nước ngoài nên theo học...

Trong giai đoạn 2016 - 2023, Đại học Huế có 26 sản phẩm khoa học và công nghệ được chuyển giao cho các địa phương, doanh nghiệp; 5 sản phẩm được thương mại hóa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, hiện đang có 295 sản phẩm công nghệ, trong đó 75 sản phẩm có tiềm năng thương mại hóa cao; có 27 đơn đăng ký sở hữu trí tuệ; trong đó 17 đã được cấp bằng/giấy chứng nhận.

Hợp tác quốc tế và trong nước

Đại học Huế là một trong năm Đại học trọng điểm vùng quốc gia, chính vì thế Đại học Huế đã và đang liên kết đào tạo, bồi dưỡng với nhiều cơ sở đào tạo trong cả nước như: Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Đà Nẵng, Trường Đại học Đông Á, Trường Đại học FPT, Trường Đại học Nha Trang,... . Ngoài ra, Đại học Huế còn liên kết đào tạo với nhiều Đại học lớn trên Quốc tế

  • Liên kết đào tạo Cử nhân Quản trị du lịch và công nghệ giải trí giữa Đại học Huế và Đại học khoa học Ứng dụng IMC, Krems, Áo
  • Liên kết đào tạo đồng cấp bằng trình độ đại học ngành Tài chính - Ngân hàng, Chuyên ngành Tiền tệ - Tài chính - Ngân hàng giữa Đại học Rennes 1, Cộng hòa Pháp và Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế
  • Chương trình tiên tiến ngành Vật lý giữa Đại học Sư phạm - Đại học Huế và Đại học Virginia-Hoa Kỳ
  • Chương trình Đào tạo Liên kết quốc tế giữa Học viện Bắc Hải - Quảng Tây và Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế
  • Chương trình Cử nhân Công nghệ thông tin (An ninh mạng và Khoa học dữ liệu) liên kết giữa Đại học Huế và Đại học Phần Lan
  • Chương trình đào tạo tiến sĩ chuyên ngành Y sinh học giữa Đại học Tartu, Estonia và Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế

Ngoài ra trong chương trình hợp tác quốc tế, Đại học Huế đã và đang đào tạo chương trình đại học và sau đại học cho khoảng 1.000 sinh viên quốc tế của các nước Lào, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Nga, Đức...và số lượng sinh viên quốc tế đến học tại trường ngày càng tăng nhanh.

Cơ cấu tổ chức

Hội đồng Đại học

Chủ tịch Hội đồng Đại học

  • GS.TS. Trần Đăng Hòa-Phó bí thư Đảng ủy, Phó giám đốc Đại học Huế, Chủ tịch Hội đồng Đại học Huế

Ban Giám đốc

Giám đốc:

  • GS.TS. Nguyễn Vũ Quốc Huy- Phó Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược, Quyền Giám đốc Đại học Huế

Phó Giám đốc:

  • GS.TS. Trần Đăng Hòa-Phó Bí thư Phụ trách Đảng bộ, Phó giám đốc Đại học Huế, Chủ tịch Hội đồng Đại học Huế
  • PGS.TS. Đỗ Thị Xuân Dung-Trưởng Ban Tuyên giáo Đảng ủy, Phó Giám đốc Đại học Huế.
  • TS. Bùi Văn Lợi-Phó Bí thư Đảng ủy Đại học Huế

Đảng ủy

  • Phó Bí thư Phụ trách Đảng bộ Đại học Huế: TS. Trần Đăng Hòa
  • Phó Bí thư Đảng ủy Đại học Huế: TS. Bùi Văn Lợi

Giám đốc Đại học Huế qua các thời kỳ

STT Giám đốc Thời gian Ghi chú Nguồn
1 PGS.TS Nguyễn Thế Hữu 1994–1998 (4 năm)
  • Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Huế
  • Giám đốc đầu tiên Đại học Huế
2 PGS.TS Nguyễn Viễn Thọ 1998–2006 (8 năm)
3 PGS.TS Nguyễn Văn Toàn 2006–2016 (10 năm)
  • Giám đốc Đại học Huế giai đoạn 2006–2016,
  • Ủy viên Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ
4 PGS.TS Nguyễn Quang Linh 2016–2021 (5 năm)
  • Phó Bí thư Đảng uỷ, Phó Giám đốc Đại học Huế
  • Thành viên Hội đồng Giáo sư ngành Chăn nuôi - Thú y - Thủy sản.
5 PGS.TS Lê Anh Phương 2021–2026 (4 năm)
6 TS. Bùi Văn Lợi (Tạm Quyền) 2021–2026 (1 năm)
  • Phó bí thư Đảng ủy, Phó giám đốc phụ trách Đại học Huế.
7 GS.TS. Nguyễn Vũ Quốc Huy 2026–Nay (0 năm)
  • Phó Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược, Quyền Giám đốc Đại học Huế

Các đơn vị Đại học thành viên

Trường đại học thành viên

  1. Trường Đại học Sư phạm: tiền thân là Trường Đại học Sư phạm (1957) thuộc Viện Đại học Huế. Là trường đại học đứng đầu về đào tạo và nghiên cứu khối ngành sư phạm tại miền Trung Việt Nam, được Bộ Giáo dục và Đào tạo chọn là 1 trong 3 trường Đại học sư phạm trọng điểm Quốc gia.
  2. Trường Đại học Khoa học: tiền thân là Trường Đại học Khoa học và Trường Đại học Văn khoa (1957) thuộc Viện Đại học Huế. Trường Đại học Khoa học là một trường đại học thuộc hệ thống Đại học Huế, được xếp vào nhóm đại học trọng điểm cấp quốc gia của Việt Nam. Trường có tiền thân là Trường Đại học Tổng hợp Huế, được thành lập trên cơ sở sáp nhập trường Đại học Khoa học và trường Đại học Văn khoa của Viện Đại học Huế được thành lập từ năm 1957. Năm 1994, trường đại học Tổng hợp trở thành trường thành viên của Đại học Huế và được đổi tên thành trường Đại học Khoa học.
  3. Trường Đại học Y Dược: tiền thân là Trường Đại học Y khoa (1961) thuộc Viện Đại học Huế và là trường y dược lớn nhất khu vực Miền trung Tây nguyên. Trường Đại học Y Dược Huế được xây dưới thời tổng thống Ngô Đình Diệm, vốn đầu tư của trường đựoc ra từ tiền lời xổ số trong 8 kì, trường có tiền thân từ Trường Cán sự Y tế và Nữ hộ sinh Quốc gia từ tháng 3 năm 1957. Đến tháng 8 năm 1961 Trường được chính thức thành lập với tên gọi Trường đại học Y khoa Huế. Năm 1976, Trường được tách ra từ Viện Đại học Huế và trực thuộc Bộ Y tế. Năm 1979, Trường hợp nhất với Bệnh viện Trung ương Huế thành Học viện Y Huế kéo dài trong 10 năm. Đến tháng 4 năm 1994, trường trở thành cơ sở trực thuộc Đại học Huế cho đến nay, Trường Đại học Y dược được xem là 1 trong 3 đơn vị đào tạo ngành y xuất sắc nhất cả nước
  4. Trường Đại học Nông Lâm: Tiền thân là Trường Đại học Nông nghiệp II trực thuộc Bộ Nông nghiệp được thành lập vào ngày 14 tháng 8 năm 1967 tại tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang). Là một đơn vị thành viên của Đại học Huế, được xếp vào nhóm các trường Đại học trọng điểm quốc gia Việt Nam. Trường chuyên đào tạo kỹ sư và cử nhân trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp và phát triển nông thôn ở các bậc cao đẳng, đại học và sau đại học. Đồng thời, đây cũng là trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ về nông, lâm, ngư nghiệp và phát triển nông thôn, phục vụ cho các tỉnh miền Trung cũng như cả nước.
  5. Trường Đại học Nghệ thuật: Tiền thân là Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Huế (Tiếng Pháp: Ecole des beaux arts de Hue, tiếng Anh: Institude of Fine Arts of Hue), thành lập năm 1957, Trường được thành lập cùng năm với Viện Đại học Huế, một trong những cái nôi của nghệ thuật Việt Nam sản sinh ra lớp những họa sĩ tài danh như Đinh Cường, Tôn Thất Văn, Phạm Đăng Trí, Tôn Thất Đào, Dương Đình San... và đương đại là những họa sĩ đã và đang khẳng định tên tuổi của mình như cố họa sĩ Võ Xuân Huy, họa sĩ Phan Hải Bằng, anh em song sinh Lê Thanh Hải......, một trong số các trường Mỹ Thuật lâu đời ở Việt Nam. Một trong những trường đại học định hướng nghiên cứu về đào tạo khối ngành Mỹ thuật tại Miền trung và Tây Nguyên Việt Nam. Đồng thời, Trường Đại học Nghệ thuật Huế là một trong 3 trung tâm đào tạo Mỹ thuật lớn của cả nước.
  6. Trường Đại học Kinh tế: Tiền thân là Khoa Kinh tế nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp II Hà Bắc (1969). Trường Trường Đại học Kinh tế: đào tạo khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh tại miền Trung Việt Nam, trực thuộc Đại học Huế, được xếp vào nhóm đại học trọng điểm của quốc gia Việt Nam. Trường được thành lập trên cơ sở Khoa Kinh tế, Đại học Huế.
  7. Trường Đại học Ngoại ngữ: Tiền thân là Ban ngoại ngữ thuộc Viện Đại học Huế (1957), ban đầu chỉ gồm 5 giảng viên tiếng Anh và 5 giảng viên tiếng Pháp. Một trường đại học trực thuộc hệ thống Đại học Huế, được xếp vào nhóm đại học trọng điểm của quốc gia Việt Nam. Trường được thành lập ngày 13 tháng 7 năm 2004 trên cơ sở sáp nhập các khoa và tổ ngoại ngữ từ 6 trường thành viên của Đại học Huế với bề dày truyền thống gần 50 năm kể từ năm 1957.
  8. Trường Đại học Luật: Tiền thân là Luật Khoa (1957) thuộc Viện Đại học Huế và Khoa Luật trực thuộc Đại học Huế. Là một trong ba trường Đại học luật lớn nhất của Việt Nam. Chuyên đào tạo về lĩnh vực pháp luật, nghiên cứu khoa học. Trường còn là trung tâm chuyển giao công nghệ về khoa học xã hội - nhân văn; tổ chức các dịch vụ pháp lý; cung cấp nguồn nhân lực, sản phẩm khoa học, dịch vụ pháp lý đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của khu vực miền Trung và cả nước.
  9. Trường Du lịch: Tiền thân là Khoa Du Lịch thuộc Đại học Huế, chuyên đào tạo về du lịch, lữ hành, văn hóa, kinh tế du lịch. Trong thời gian tới trường sẽ nâng cấp và trở thành Trường Đại học Du lịch.
  10. Trường Kỹ thuật và Công nghệ (School of Engineering and Technology – Hue University), viết tắt là HUET, là một đơn vị thuộc Đại học Huế, được thành lập vào năm 2019. Trụ sở của Trường Kỹ thuật và Công nghệ đặt tại địa chỉ số 01 Đường Điện Biên Phủ, Phường Thuận Hóa, Thành phố Huế.. Ngày 29 tháng 9 năm 2026 Trường Kỹ thuật và Công nghệ - Đại học Huế được thành lập trên cơ sở sáp nhập Khoa Kỹ thuật và Công nghệ, Khoa Quốc tế và Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội thuộc Đại học Huế. Trường có tên tiếng Anh là School of Engineering and Technology - Hue University, viết tắt là HUET. Trụ sở chính đặt tại số 27 Phan Đình Phùng, phường Thuận Hóa.

Các khoa trực thuộc Đại học Huế

Hiện tại, Đại học Huế có 01 khoa trực thuộc:

  1. Khoa Giáo dục thể chất

Viện đào tạo, nghiên cứu và trung tâm trực thuộc

Viện Đào tạo Đại học và sau Đại học

  • Viện Đào tạo mở và Công nghệ thông tin
  • Viện Chuyển đổi số và Học liệu
  • Viện Đào tạo và Bồi dưỡng cán bộ Quản lý y tế
  • Viện Khảo thí và Bảo đảm chất lượng giáo dục.
  • Viện Đào tạo và Bồi dưỡng cán bộ Quản lý y tế

Viện nghiên cứu thành viên

  • Viện Công nghệ sinh học: Viện tập trung nghiên cứu khoa học cơ bản và ứng dụng trong công nghệ sinh học cho Nông Nghiệp, Y Dược; bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường; phát triển các công nghệ nền, công nghệ gen để tạo ra các sản phẩm khoa học có giá trị cho sự sống, cho sự phát triển kinh tế – xã hội; ươm tạo và chuyển giao công nghệ và thương mại hoá các sản phẩm nghiên cứu theo nhu cầu xã hội ở miền Trung, Tây Nguyên và cả nước. Ngoài ra, Viện được Đại học Huế cho phép đào tạo bậc tiến sĩ ngành Sinh học và đào tạo thí điểm trình độ tiến sĩ ngành Nông nghiệp hữu cơ. Nghiên cứu sinh trong quá trình học tập sẽ nhận được học bổng và ưu tiên sử dụng hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, đồng bộ của Viện.
  • Viện Nghiên cứu và Ứng dụng khoa học công nghệ: Chuyên nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ, kết hợp với đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hội nhập quốc tế
  • Viện Nghiên cứu sức khỏe cộng đồng: Thực hiện các nghiên cứu hợp tác chất lượng cao, cung cấp dịch vụ tư vấn kỹ thuật và bằng chứng khoa học cho các hoạt động can thiệp nhằm nâng cao sức khoẻ cộng đồng.
  • Viện Nghiên cứu Y Sinh: Viện nghiên cứu Y Sinh Học được thành lập vào ngày vào 4/6/2012 nhằm mục đích nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học và tăng cường sự kết nối giữa các nhà lâm sàng và cận lâm sàng tại Trường Đại học Y Dược, Huế. Trong gần 10 năm hoạt động, Viện đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc đào tạo Sau Đại Học cho đội ngũ cán bộ khối Y Học Cơ Sở và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế giúp đẩy mạnh các nghiên cứu về Y Sinh học.

Trung tâm phục vụ sinh viên

  • Trung tâm Giáo dục quốc phòng và An ninh
  • Trung tâm Phục vụ sinh viên
  • Trung tâm khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo
  • Trung tâm giáo dục thường xuyên Đại học Huế
  • Trung tâm giáo dục quốc tế Đại học Huế
  • Trung tâm công nghệ thông tin Đại học Huế
  • Trung tâm học liệu Đại học Huế

Trung tâm Nghiên cứu

  • Trung tâm STEAM & AI Đại học Huế
  • Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao công nghệ môi trường miền Trung
  • Trung tâm Y học gia đình
  • Trung tâm phát triển nông thôn Miền Trung
  • Trung tâm Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Nông Lâm nghiệp
  • Trung tâm nghiên cứu biến đổi khí hậu miền Trung
  • Trung tâm Phiên- biên dịch
  • Trung tâm Nghiên cứu - Ứng dụng Ngoại ngữ và Văn học

Các đơn vị tạp chí nghiên cứu Đại học Huế

  • Tạp chí khoa học
  • Nhà xuất bản Đại học Huế
  • Tạp chí Khoa học Đại học Huế

Bệnh viện Đại học

  • Bệnh viện Trường Đại học Y Dược-Đại học Huế: Bệnh viện hiện có đầy đủ các chuyên khoa lâm sàng và cận lâm sàng, thực hiện nhiều kỹ thuật cao cùng trang thiết bị hiện đại, sẵn sàng đáp ứng tất cả nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Thế mạnh của bệnh viện là đội ngũ nhân lực có trình độ cao, giàu kinh nghiệm với 12 Giáo sư và 48 Phó giáo sư, 36 Tiến sĩ, 75 Bác sĩ chuyên khoa I, II, 122 Thạc sĩ. Hằng năm, Bệnh viện tiếp nhận khám chữa bệnh cho trên 250.000 lượt bệnh nhân, trong đó phẫu thuật trên 10.000 người, điều trị gần 25.000 người. Số bệnh nhân có Bảo hiểm y tế đến khám tại Bệnh viện trên 115.000 lượt mỗi năm. Bệnh viện thường xuyên tạo điều kiện cho nhiều cán bộ được đi tu nghiệp nước ngoài cũng như đón các chuyên gia y tế hàng đầu trên thế giới đến làm việc và chia sẻ kinh nghiệm.

Các ban trực thuộc

  • Ban Tổ chức cán bộ
  • Ban Đào tạo và Công tác Sinh viên
  • Ban Khoa học Công nghệ và Quan hệ Quốc tế
  • Ban Kế hoạch, Tài chính và Cơ sở Vật chất
  • Ban Kiểm tra và Pháp chế
  • Ban Khoa học Công nghệ và Quan hệ Quốc tế
  • Ban Khảo thí và đảm bảo chất lượng giáo dục

Bảo tàng

Các đơn vị đào tạo khác

goài các đơn vị đào tạo bậc đại học và sau đại học, Đại học Huế còn có 02 đơn vị đào tạo bậc phổ thông trực thuộc các trường đại học thành viên, bao gồm:

Phân Viện Đại học Huế tại Quảng Trị

  1. Hình thành: Ngày 03/5/2006, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký quyết định số 2155/QĐ-BGD&ĐT thành lập Phân hiệu Đại học Huế tại Quảng Trị trên cơ sở Văn phòng đại diện Đại học Huế tại Quảng Trị được thành lập từ năm 2005 do Giám đốc Đại học Huế ký quyết định.
  2. Địa chỉ: Đường Điện Biên Phủ - Phường Nam Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị.
  3. Cổng thông tin: Phân hiệu Đại học Huế tại Quảng Trị

Khuôn viên Đại học Huế

Khuôn viên các Trường Đại học trực thuộc Đại học Huế

Các trường, phân hiệu thành viên của Đại học Huế được xây dựng trên 7 khuôn viên tại thành phố Huế và 1 khuôn viên tại phường Nam Đông Hà (Tỉnh Quảng Trị.) với tổng diện tích mặt bằng hiện nay trên 117,1 ha, trong đó diện tích Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế (77,34 ha) rộng nhất trong các trường đại học trên địa bàn thành phố Huế.

- Quy mô sử dụng đất:

           Tổng diện tích đất sử dụng: 1.171.039 m2, trong đó:

           + Đất khu thực hành thực nghiệm: 862.650m2

           + Đất công sở: 22.525m2

           + Phòng học: 270.210m2

- Diện tích nhà làm việc: 97.418m2 sàn

           + Phòng học: 41.809m2

           + Thực hành thí nghiệm: 10.997m2

- Ký túc xá: 10 ký túc xá sinh viên đáp ứng 6.000 chỗ nội trú

- Khu quy hoạch Đại học Huế tại xã Thủy An và phường An Cựu, Thành phố Huế diện tích 147 ha được thiết kế như một đô thị Đại học hiện đại văn minh với đầy đủ tiện nghi, văn phòng làm việc, nhà học,  ký túc xá sinh viên, khu nghỉ ngơi vui chơi giải trí...

Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế

Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế có cơ sở chính tại số 32, 34, 36 Lê Lợi, thành phố Huế; Và cơ sở 2 tại phường An Tây, thành phồ Huế với diện tích hơn 10ha.

Trường có hệ thống giảng đường, phòng học, phòng làm việc khang trang với 05 dãy nhà học 3 tầng, 02 dãy nhà cao học 4 tầng, 01 nhà khách 2 tầng,

Cổng trước Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế

Hiện nay, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế đang được nhà nước quan tâm và đầu tư trang thiết bị nhằm phcụ vụ nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ

  • Nhà làm việc các khoa: 4 tầng
  • Nhà thực hành đa năng: 4 tầng
  • 31 phòng thí nghiệm khoa học
  • 02 phòng học tiếng
  • 05 phòng học vi tính với 240 máy được nối mạng Internet
  • Dãy nhà thư viện với 2 phòng đọc (300 chỗ, trên 30.000 đầu sách và hệ thống tài liệu điện tử)
  • 02 giảng đường và 01 hội trường lớn (1000, 200 và 180 chỗ ngồi).

Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế

Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế có cơ sở tại 77 Nguyễn Huệ, Phường Thuận Hoá, Thành phố Huế. Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế sở hữu hệ thống phòng học thông minh, hiện đại nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học đối với sinh viên và giảng viên

Trường có các phòng nghiên cứu, thư viện, trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ và đào tạo

  • Phòng thực hành doanh nghiệp dành cho sinh viên ngành Công nghệ thông tin và Kỹ thuật phần mềm
  • Phòng học Kiến trúc: Được trang bị tượng mô hình, vật dụng, bàn ghế chuyên dụng và sắc màu mang tính nghệ thuật và thẩm mỹ cao, hỗ trợ tối ưu công tác dạy học và tạo không gian sáng tạo cho sinh viên.
  • Phòng thực hành máy tính: Được đầu tư máy móc hiện đại, kết nối internet cực mạnh, cùng với hệ thống dạy học thông minh
  • Studio Báo chí - Truyền thông: Với công nghệ thu hình thực tế ảo và máy móc hiện đại bậc nhất ở khu vực miền Trung.
  • Hệ thống phòng thí nghiệm, thực hành, nghiên cứu về Hóa học rất đa dạng.
  • Phòng nuôi cấy, lấy mẫu, nghiên cứu Sinh học và Công nghệ sinh học hiện đại.
  • Bảo tàng trưng bày hiện vật và nghiên cứu Lịch sử.

Ngoài ra, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế "Không ngừng đổi mới - nâng cao sáng tạo" là tiêu chí luôn hướng tới. Hệ thống cơ sở vật chất đã, đang và sẽ được nâng cấp để sinh viên không chỉ học tập với đặc quyền tiên tiến mà còn sáng tạo, phát triển trong môi trường hiện đại, tối ưu.

Trường Đại học Y-dược, Đại học Huế

Cùng với hệ thống giảng đường, các phòng thí nghiệm, các cơ sở thực hành của Nhà trường về cơ bản đã đáp ứng yêu cầu cho việc giảng dạy, học tập, NCKH của cán bộ, SV và học viên.

Nhà trường có 85 phòng học với diện tích 8.779m2, trong đó có 01 giảng đường 400 chỗ ngồi (Hội trường A 620m2). Trường có 82 phòng thực hành, phòng thí nghiệm với tổng diện tích là 5.638m2 và một bệnh viện thực hành (Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế đã được Bộ Y tế công nhận Hạng I) với diện tích mặt bằng 4.192m2 và tổng diện tích xây dựng 16.273 m2, trong đó Trung tâm Y học gia đình 7 tầng có diện tích xây dựng là 3.673 m2 mới được đưa vào sử dụng từ Quý II/2015 và được trang cấp các trang thiết bị hiện đại. Hơn nữa, trong tháng 9 năm nay đã đưa vào Khối nhà 7 tầng với tổng diện tích cho các giảng đường 2.582 m2 để đảm bảo và tăng cường số lượng giảng đường đáp ứng với nhiều đối tượng. Bên cạnh đó, tòa nhà Khoa YTCC có hệ thống phòng làm việc với các thiết bị phù hợp để hỗ trợ đào tạo và nghiên cứu, đặc biệt về lĩnh vực YTCC. Cụ thể về giảng dạy lý thuyết tại tòa nhà Y tế công cộng, Khoa đang sử dụng tầng 1, tầng 2 với 7 giảng đường (1.1 đến 1.4; từ 2.1 đến 2.3), về giảng dạy thực tập và nghiên cứu có 2 phòng thí nghiệm (phòng thí nghiệm Sức khỏe môi trường - dịch tễ học và phòng thí nghiệm Dinh dưỡng - an toàn thực phẩm) đáp ứng tối đa 100 SV/phòng/buổi học với đầy đủ trang thiết bị, máy móc chuyên ngành, đặc thù cho YTCC. Khoa còn có 01 phòng vi máy tính, 01 phòng Truyền thông giáo dục sức khỏe để thực hành các kỹ năng chuyên ngành như phân tích số liệu, giao tiếp, đóng vai, giáo dục sức khỏe.... Ngoài ra, sinh viên, học viên còn có thể tham gia thực tập tại các phòng thí nghiệm của các tín chỉ khác ngoài lĩnh vực thuộc chuyên ngành YTCC như Vi sinh, Giải phẫu, Mô phôi, Ký sinh trùng..., phòng máy vi tính tại tầng 4 khu TTTT-TV... trong khuôn viên nhà Trường.

Cơ sở vật chất của trường gồm:

  • Trung tâm Công nghệ Thông tin
  • Trung tâm Thông tin - Thư viện
  • Viện Đào tạo Quốc tế
  • Viện Đào tạo và Bồi dưỡng cán bộ y tế
  • Viện Y Sinh học
  • Bệnh viện Trường ĐH Y - Dược Huế
  • Phòng khám Bác sĩ Gia đình

Khuôn viên khối trường Đại học: Kinh tế, Luật và Ngoại ngữ

Khuôn viên trường Đại học Luật, Đại học Huế

Trường sở hữu cơ sở vật chất khang trang, tọa lạc trên diện tích 109.900 m² tại số 20, đường Võ Văn Kiệt, phường An Cựu, thành phố Huế. Tổng diện tích sàn xây dựng phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học đạt 14.704,8 m². Đây là diện tích lý tưởng để xây dựng mô hình đào tạo hiện đại, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, nhất là trong bối cảnh những năm gần đây Đại học Huế đang có mặt trong những bảng xếp hạng toàn cầu, cùng với 10-20 cơ sở đào tạo đại học của Việt Nam.

Trong 10 năm qua, Trường ĐH Luật, ĐH Huế đã đầu tư xây dựng, cải tạo và nâng cấp các khu giảng đường, thư viện thông minh, hội trường với gần 1.000 chỗ ngồi, khu nhà nón và các khu vực chức năng như phòng học thông minh, phòng diễn án, văn phòng một cửa, sân bóng đá… tạo nên hệ sinh thái đa dạng, thuận lợi cho học tập và nghiên cứu của sinh viên, giảng viên.

Khuôn viên trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế

Trường có 02 cơ sở đào tạo:

  • Số 101 Phùng Hưng, phường Thuận Thành, thành phố Huế: Cơ sở này có 02 tòa nhà 2 tầng, phục vụ chủ yếu cho công tác đào tạo sau đại học.
  • Số 99 Hồ Đắc Di, An Cựu, Thành phố Huế.
  • Tại Khu QH Trường Bia, phường An Tây, thành phố Huế: Hiện nay có khu giảng đường 03 tầng phục vụ học tập, khu hiệu bộ 03 tầng cho công tác quản lý, khu ký túc xá cho sinh viên, thư viện, các công trình phụ trợ; Đặc biệt đang hoàn thành khu Hành chính hiện đại.
  • Trường có diện tích đất đai lên đến 7ha, diện tích sàn xây dựng gần 17.000m2 gồm 49 phòng học lý thuyết, thư viện, ngoại ngữ, xưởng thực hành.
Khuôn viên trường Đại học Ngoại ngữ Đại học Huế

Khuôn viên của Trường có 6.6 ha. Trong đó khu nhà Hiệu bộ 3 tầng và 3 giảng đường có hệ thống thang máy với 75 phòng học, các phòng học được trang bị đầy đủ các thiết bị hiện đại đa chức năng. Thư viện của Trường có hơn 16 ngàn đầu sách và nhiều tài liệu tham khảo ở dạng điện tử. Đề án ngoại ngữ Quốc gia 2020 trang bị hơn 2500 đầu sách có giá trị từ các nhà xuất bản hàng đầu trên thế giới.

Trường hiện có 8 khoa gồm

  • Tiếng Anh
  • Tiếng Pháp - Tiếng Nga
  • Tiếng Trung
  • Ngôn ngữ &Văn hóa Nhật Bản
  • Ngôn &Văn hóa Hàn Quốc
  • Việt Nam học
  • Quốc tế học

Phòng chức năng gồm:

  • Tổ chức - Hành chính
  • Kế hoạch, Tài chính và Cơ sở vật chất
  • Đào tạo; Công tác sinh viên
  • Khoa học Công nghệ và Hợp tác quốc tế
  • Khảo thí và Bảo đảm chất lượng Giáo dục)
  • 01 Trung tâm (Trung tâm Thông tin – Thư viện)

Khuôn viên trường Đại học Nông lâm Đại học Huế

  • Trường Đại học Nông lâm Đại học Huế Qui mô diện tích của Nhà trường vượt chuẩn quy định của Nhà nước với gần 80 hecta đất đai gồm 1 cơ sở đào tạo chính tại 102 Phùng Hưng, TP Huế và 4 cơ sở học tập, thực hành tại các địa bàn khác nhau đóng tại tỉnh Thừa Thiên Huế, đi lại thuận tiện. Môi trường học tập thân thiện, khuôn viên Nhà trường xanh – sạch – đẹp, nhiều cây xanh bóng mát, chi phí đi lại và học tập trong thành phố Huế thấp, nhiều nơi thăm quan, học tập và trải nghiệm thực tế.
  • Địa chỉ: Số 102 Phùng Hưng, Phường Phú Xuân, Thành phố Huế

Trường Đại học Nghệ Thuật, Đại học Huế

Trường Đại học Nghệ thuật, Đại học Huế ngày nay nguyên là trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế được thành lập năm 1957. Năm 1986 sáp nhập với trường Trung học Âm nhạc Huế thành trường Cao đẳng Nghệ thuật. Năm 1994, trường chuyển từ Bộ Văn Hóa - Thông tin sang Bộ Giáo dục - Đào tạo và trờ thành trường Đại học Nghệ thuật - một thành viên của Đại học Huế.

Tháng 11/2007, ngành âm nhạc được tách ra để thành lập Học viện Âm nhạc Huế. Trường Đại học Nghệ thuật có chức năng nhiệm vụ đào tạo giáo viên, cán bộ mỹ thuật, bồi dưỡng nhân tài mỹ thuật và các nhà thiết kế mỹ thuật ứng dụng có trình độ đại học góp phần phát triển sự nghiệp văn hóa nghệ thuật miền Trung, Tây Nguyên, cả nước và có ý nghĩa đặc biệt trong việc tạo nên một sắc thái nghệ thuật vùng miền nói chung và đặc trưng trong công tác đào tạo nghệ thuật của trường nói riêng.

Huế là cái nôi của nền văn hóa Phú Xuân, là nơi hợp thành của nhiều nền văn hóa nghệ thuật bản địa khác nhau, đáng lưu ý nhất là nghệ thuật Chăm và nghệ thuật của các dân tộc Tây Nguyên. Trong lịch sử, Huế còn là cửa ngõ tiếp xúc nhiều luồng văn hóa nghệ thuật từ bên ngoài như Mã lai đa đảo, Đông Bắc Á, lục địa Ấn Độ và cả Tây phương. Chính nhờ sự giao thoa một cách tích cực như vậy, cho nên giữa Thành phố Huế và tỉnh Quảng Nam đã quy tụ 3 di sản văn hóa đặc trưng khác nhau và được UNESCO công nhận là di sản vật thể Cố đô Huế, Phố cổ Hội An và Quần thể di tích Chăm ở Mỹ Sơn. Trường Đại học Nghệ thuật là một trong 3 trung tâm đào tạo Mỹ thuật lớn của cả nước. Đến nay Trường có 6 ngành đào tạo Hội họa, Điêu khắc, Sư phạm Mỹ thuật, Thiết kế Đồ họa, Thiết kế Nội thất, Thiết kế Thời trang.

Địa chỉ Số 10 đường Tô Ngọc Vân, phường Đông Ba, quận Phú Xuân, thành phố Huế, Việt Nam.

Khuôn viên trường Du lịch, Đại học Huế

Định vị tại Huế – thành phố của du lịch của Việt Nam – Trường Du lịch – Đại học Huế là môi trường lý tưởng cho đào tạo du lịch, kết hợp học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn. Với sứ mạng “đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao, nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ trong lĩnh vực du lịch ở khu vực miền Trung – Tây Nguyên và trên cả nước; đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”, Trường Du lịch – Đại học Huế luôn chú trọng đến chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế, đặc biệt luôn nỗ lực cải tiến nội dung và phương pháp giảng dạy, nâng cao kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng ngoại ngữ cho sinh viên thông qua việc xây dựng và phát triển mạng lưới liên kết hợp tác với các tổ chức và doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Khu ký túc xá

Ký túc xá Đại học Huế với không gian rộng rãi, thoáng mát rất phù hợp cho sinh viên từ các tỉnh, thành trong cả nước về lưu trú để học tập; các dịch vụ như căn tin, khu sinh hoạt chung, quầy bách hoá, mạng wifi và các dịch vụ hỗ trợ đời sống, tinh thần cho sinh viên phong phú. Sinh viên nội trú được tham gia nhiều hoạt động phong trào, văn hoá, thể thao do Ký túc xá hoặc Đoàn thanh niên, Hội sinh viên Đại học Huế tổ chức, được giao lưu, học tập và chia sẻ nhiều điều thú vị trong học tập và kinh nghiệm trong cuộc sống. Có thể nói, Ký túc xá đang dần trở thành một không gian học tập và trải nghiệm chứ không chỉ đơn thuần là nơi ở.

Vừa qua, Đại học Huế sửa chữa, nâng cấp được 6 tòa nhà/tổng 17 toàn nhà và làm 2 nhà xe sinh viên, góp phần thay đổi diện mạo, chất lượng chỗ ở cho sinh viên.Nhu cầu ở nội trú của sinh viên ngày càng cao; việc xây dựng thêm một số block nhà ở phục vụ sinh viên nội trú là rất cần thiết. Trong thời gian tới, mục tiêu là tiếp tục đảm bảo chỗ ở ổn định, an toàn và tiện nghi cho sinh viên, đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ tại các khu Ký túc xá Đại học Huế. Trong công tác quản lý sẽ tập trung vào ba hướng chính:

  • (1) tiếp tục tăng cường sửa chữa, cải tạo, chống xuống cấp các hạng mục, nhà ở tại các KTX, nghiên cứu đầu tư, xây dựng, mở rộng Ký túc xá mới
  • (2) tăng cường huy động thêm nguồn lực, khuyến khích thực hiện xã hội hóa, hợp tác công – tư để đầu tư xây dựng, mở rộng KTX và triển khai các hoạt động dịch vụ, phục vụ sinh viên nội trú
  • (3) ứng dụng công nghệ trong quản lý, vận hành để Ký túc xá ngày càng hiện đại, tiện nghi và phát triển các hoạt động hỗ trợ đời sống, tạo môi trường rèn luyện kỹ năng, nâng cao đời sống tinh thần cho sinh viên.

Với mong muốn xây dựng Ký túc xá Đại học Huế không chỉ là nơi ở, mà thực sự trở thành một môi trường học tập, sinh hoạt văn minh, an toàn, tạo điều kiện tốt nhất cho sinh viên phát triển toàn diện, xây dựng KTX “Xanh, Sạch, Đẹp, Văn minh, Hiện đại”, trong quá trình triển khai thực hiện, việc trong tâm là tập trung nguồn lực, trí tuệ và trách nhiệm, đẩy mạnh các giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng phục vụ sinh viên nội trú trong điều kiện và xu thế hiện nay. Thường xuyên thông tin hai chiều, phối hợp chặt chẽ đến các trường Đại học thành viên, đơn vị đào tạo trong Đại học Huế có sinh viên ở KTX để quản lý, giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên phát triển toàn diện; chủ động tìm kiếm đối tác, doanh nghiệp để triển khai, khai thác hiệu quả các dịch vụ phục vụ sinh viên tại các KTX, tăng cường phối hợp với Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên Đại học Huế và các tổ chức, doanh nghiệp để triển khai các hoạt động, sự kiện nhằm tạo sân chơi bổ ích, lành mạnh cho sinh viên nội trú và tăng cường các hình thức nhằm quảng bá hình ảnh của Trung tâm đến với xã hội; tăng cường quảng bá hình ảnh, xây dựng môi trường KTX Đại học Huế xứng đáng là địa chỉ lưu trú, sinh hoạt tin cậy của sinh viên và phụ huynh.

Tập tin:Cơ sở vật chất khu ký túc xá Đại học Huế.webp
Khu ký túc xá Trường Bia

Khu ký túc xá Đại học Huế tọa lạc tại 4 cơ sở gồm

  • Trường Bia (Cơ sở chính / Cơ sở 1): Số 40 - 42 đường Nguyễn Khánh Toàn, Phường An Cựu, Thành phố Huế. Đây là khu lớn nhất với sức chứa khoảng 3.000 chỗ ở.
  • Tây Lộc: Số 100 Trần Văn Kỷ, Phường Phú Xuân, Thành phố Huế (gần khu vực các trường nông lâm, nghệ thuật).
  • Đống Đa: Phường Vĩnh Ninh (hoặc khu vực Đống Đa), Thành phố Huế.
  • Đội Cung: Phường Đội Cung, Thành phố Huế.

Khu Đô thị Đại học Huế.

Phê duyệt quy hoạch chi tiết Đại học Huế tại Trường Bia thuộc xã Thuỷ An và phường An Cựu, thành phố Huế, với những nội dung chủ yếu sau:

Phạm vi, ranh giới và quy mô quy hoạch

  • Toàn bộ khu vực nghiên cứu quy hoạch tại xã Thuỷ An và phường An Cựu, thành phố Huế, được giới hạn như sau:
  • Phía Bắc giáp Núi Tam Thai và dân cư phường An Cựu.
  • Phía Nam giáp vùng đồi thôn Tứ Tây thuộc xã Thuỷ An.
  • Phía Đông giáp dân cư xã Thuỷ An
  • Phía Tây giáp đường Nguyễn Khoa Chiêm và núi Ngự Bình.
  • Diện tích khu vực nghiên cứu quy hoạch rộng: 113,54 ha.

Qui mô dân số

  • Dân số hiện trạng: 1845 người
  • Dân số trong khu vực quy hoạch: 12.700 sinh viên

Tính chất

Là trung tâm đào tạo nghiên cứu khoa học đa ngành, đa lĩnh vực với hệ thống hoàn chỉnh các trường, các viện nghiên cứu, các đơn vị thực nghiệm; gắn giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học cơ bản và khoa học xã hội nhân văn; phục vụ nhu cầu phát triển cả nước nói chung và của miền Trung nói riêng.

Khu quy hoạch được giới hạn bằng đường vành đai của Đại học Huế, đường Nguyễn Khoa Chiêm, núi Ngự Bình, núi Tam Thai.

  • Tuyến đường vào công viên nước và tuyến đường ngang nối từ đường vào công viên nước và đường Nguyễn Khoa Chiêm là trục không gian chính của khu quy hoạch.
  • Nối các trục kể trên là các trục gần như vuông góc nhằm tạo nên sự liên kết của không gian quy hoạch, cũng như tạo mối quan hệ giao thông gắn bó trong toàn khu vực.
  • Các khu chức năng được tổ chức theo từng địa hình và mạng lưới giao thông cụ thể, đảm bảo việc xây dựng thuận tiện không phá vỡ cảnh quan.
  • Tận dụng dãy cây xanh dưới chân núi Ngự Bình tạo thành vành đai cách ly khu học tập và bố trí tại khu này làm khu hội nghị hội thảo mang đậm bản sắc Huế.
  • Khu quy hoạch nằm trong không gian núi Ngự Bình, kiến trúc các công trình quan tâm đến khối tích và màu sắc hài hoà với khung cảnh chung, các công trình xây dựng chủ yếu là mái dốc, chiều cao trung bình các công trình gần núi Ngự Bình và núi Tam Thai: 5 tầng, các khu khác 7 tầng, đặc biệt một số công trình ở khu trung tâm cao đến 11 tầng.

Kế hoạch mục tiêu và định hướng phát triển

  • Đại học Huế thực hiện nhiệm vụ chiến lược quốc gia, nhiệm vụ phát triển vùng của đất nước; phát huy truyền thống đào tạo tinh hoa, chất lượng cao kết hợp với nghiên cứu khoa học đa ngành, đa lĩnh vực tạo ra các sản phẩm khoa học - công nghệ tiên tiến, hiệu quả.
  • Mục tiêu của Đại học Huế là sớm trở thành Đại học Quốc gia thứ ba của Việt Nam. Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đã thống nhất đưa Đại học Huế trở thành Đại học Quốc gia Huế trong thời gian tới, trong Nghị quyết 54 (54-NQ/TƯ) về xây dựng Thừa Thiên Huế, Bộ chính trị đã nêu rõ
  • Trong Nghị quyết 54 Bộ chính trị đã chỉ đạo Ban Kinh tế Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thường xuyên theo dõi, giám sát, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện Nghị quyết; định kỳ sơ kết, tổng kết, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Chính vì vậy, toàn thể hơn 4000 giảng viên, nhân viên Đại học Huế đang tích cực nghiên cứu, bồi dưỡng, giảng dạy... cùng đoàn kết sớm đưa Đại học Huế thành Đại học Quốc gia Huế.
  • Chính phủ sẽ tập trung đầu tư phát triển 5 cơ sở giáo dục đại học lớn gồm: Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng, Trường Đại học Vinh, Trường Đại học Nha Trang và Trường Đại học Quy Nhơn, nhằm nâng cao năng lực đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ; đồng thời đóng vai trò hạt nhân dẫn dắt hệ sinh thái giáo dục đại học, khởi nghiệp sáng tạo và các đô thị khoa học, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững khu vực miền Trung và Tây Nguyên.
  • Đối với Đại học Huế, Đề án xác định mục tiêu đến năm 2030 phấn đấu phát triển thành đại học quốc gia theo định hướng đại học nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực gắn với chuyển đổi số; giữ vai trò tiên phong trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và nghiên cứu khoa học của vùng và cả nước; trở thành trung tâm học thuật, văn hóa và y tế chuyên sâu chất lượng cao của quốc gia. Đại học Huế sẽ là hạt nhân nòng cốt dẫn dắt hệ sinh thái giáo dục đại học, đổi mới sáng tạo và phát triển mô hình đô thị đại học sinh thái gắn với không gian đô thị di sản đặc thù của thành phố Huế trực thuộc Trung ương.
  • Phát triển Trường đại học Y Dược Huế theo mô hình “Trường - Viện” cấp quốc gia và hướng tới đạt chuẩn quốc tế. Xây dựng Trung tâm Kiểm nghiệm dược phẩm miền Trung và tổ hợp y tế công nghệ cao phục vụ khám, chữa bệnh, đào tạo, nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm y tế và kết hợp với du lịch nghỉ dưỡng, cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe theo tiêu chuẩn quốc tế. Xây dựng trung tâm giáo dục - đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao trên cơ sở phát triển Đại học Huế trở thành Đại học Quốc gia, phấn đấu nằm trong tốp 300 các trường đại học hàng đầu Châu Á.
  • Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Huế tiếp xúc cử tri chuyên đề với Đại học Huế kiến nghị quan tâm chủ trương phát triển Đại học Huế trở thành Đại học Quốc gia; sắp xếp mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn; đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, hoàn thiện Khu đô thị Đại học Huế tại Trường Bia và nâng cấp các công trình trường học xuống cấp. Cùng với đó, kiến nghị xây dựng Trung tâm Công nghệ sinh học miền Trung trên cơ sở Viện Công nghệ sinh học, Đại học Huế.
  • Hiện nay, Đại học Huế đang đứng trước những cơ hội phát triển mới khi thành phố Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương và Đảng, Nhà nước đã xác định chủ trương xây dựng Đại học Huế trở thành Đại học Quốc gia. Trên cơ sở đó, Đại học Huế đặt mục tiêu đến năm 2030 trở thành Đại học Quốc gia theo các nghị quyết, kết luận của Trung ương và Chính phủ.

Thành Tích

Thành tích

  • Huân chương Độc lập hạng Ba (1998)
  • Huân chương Độc lập hạng Nhì (2002)
  • Huân Chương Độc lập hạng Nhất (2012)
  • Huân chương Lao động hạng Nhất (2017)
  • Huân chương Lao động hạng Ba (2025)

Cựu Sinh viên

Xem thêm

Tham khảo

Thống kê chỉ số

Số trận -
Bàn thắng 0
Kiến tạo 0
Cú sút 0
Thẻ vàng 0
Thẻ đỏ 0
NL
✦ Đối Tác Công Nghệ Số
Ngọc Lợi Digital
Kỹ Sư Giải Pháp Số & Marketing Toàn Diện
🏆
500+
Dự án
⚡
<1.5s
Tốc độ web
🏛
100%
BCT duyệt
🔧
24/7
Hỗ trợ KT
🎁 Tư vấn miễn phí còn
09 GIỜ : 08 PHÚT : 15 GIÂY
Tư Vấn Ngay → 0388 810 316
QUẢNG CÁO

0388 810 316 Tư vấn miễn phí
NL