Martin Ødegaard
Số áo #8Midfielder
Norway
Câu lạc bộ hiện tại
Arsenal
Clubhouse
Thông tin chi tiết (Wikipedia)
|
Ødegaard trong màu áo đội tuyển Na Uy tại FIFA World Cup 2026 | |||
| Thông tin cá nhân | |||
|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Martin Ødegaard | ||
| Ngày sinh | 17 tháng 12, 1998 | ||
| Nơi sinh | Drammen, Na Uy | ||
| Chiều cao | 1,78 m (5 ft 10 in) | ||
| Vị trí | Tiền vệ | ||
| Thông tin đội | |||
Đội hiện nay | Arsenal | ||
| Số áo | 8 | ||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||
| Năm | Đội | ||
| 2005–2009 | Drammen Strong | ||
| 2009–2014 | Strømsgodset | ||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 2014–2015 | Strømsgodset | 23 | (5) |
| 2015–2017 | Real Madrid Castilla | 58 | (5) |
| 2015–2021 | Real Madrid | 8 | (0) |
| 2017–2018 | → SC Heerenveen (mượn) | 38 | (3) |
| 2018–2019 | → SBV Vitesse (mượn) | 31 | (8) |
| 2019–2020 | → Real Sociedad (mượn) | 31 | (4) |
| 2021 | → Arsenal (mượn) | 14 | (1) |
| 2021– | Arsenal | 162 | (34) |
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia‡ | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 2014 | U-17 Na Uy | 4 | (0) |
| 2014–2018 | U-21 Na Uy | 18 | (5) |
| 2014– | Na Uy | 68 | (5) |
|
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 18 tháng 5 năm 2026 ‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 8 tháng 6 năm 2026 | |||
Martin Ødegaard (sinh ngày 17 tháng 12 năm 1998) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Na Uy hiện đang thi đấu ở vị trí tiền vệ và là đội trưởng của cả câu lạc bộ Arsenal tại Premier League và đội tuyển bóng đá quốc gia Na Uy.
Anh có trận đấu đầu tiên cho Strømsgodset vào ngày 13 tháng 4 năm 2014, trở thành cầu thủ trẻ nhất thi đấu tại Giải vô địch bóng đá Na Uy (Tippeligaen), và sau đó là cầu thủ ghi bàn trẻ nhất vào ngày 16 tháng 5. Tháng 1 năm 2015, anh chuyển đến Tây Ban Nha thi đấu cho Real Madrid và đội dự bị của Real là Real Madrid Castilla. Anh đang nắm giữ kỷ lục là cầu thủ trẻ nhất ra sân cho Real tại La Liga khi mới 16 tuổi và 157 ngày.
Ødegaard có trận đấu đầu tiên cho đội tuyển Na Uy với Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất vào ngày 27 tháng 8 năm 2014, trở thành cầu thủ trẻ nhất khoác áo đội tuyển nước này ở 15 tuổi và 253 ngày. Ngày 13 tháng 10 năm 2014, anh chính thức trở thành cầu thủ trẻ tuổi nhất xuất hiện ở vòng loại Euro.
Sự nghiệp câu lạc bộ
Ødegaard bắt đầu tập luyện cùng đội hình một của Strømsgodset vào năm 2013, khi anh mới 14 tuổi. Anh cũng từng có thời gian tập luyện ngắn tại Bayern Munich và Manchester United. Vào tháng 1 năm 2014, Ødegaard được đưa vào đội hình một của Strømsgodset nhưng không ký hợp đồng. Anh cũng tham gia tập luyện hai buổi tối trong tuần tại Mjøndalen IF, nơi cha anh làm huấn luyện viên.
Anh có trận đấu chính thức đầu tiên cho Strømsgodset trong trận đấu với Aalesunds FK tại sân Marienlyst Stadion vào ngày 13 tháng 4 năm 2014 Ở tuổi 15, anh trở thành cầu thủ trẻ nhất thi đấu tại Giải vô địch bóng đá Na Uy (Tippeligaen). Ngày 5 tháng 5 năm 2014, anh ký hợp đồng chuyên nghiệp với Strømsgodset đến năm 2015. Ngày 16 tháng 5 năm 2014, anh ghi bàn thắng thứ tư trong chiến thắng 4-1 của Strømsgodset trước Sarpsborg 08 FF, và là cầu thủ trẻ nhất ghi bàn tại Giải vô địch bóng đá Na Uy. Vào ngày 16 tháng 7, anh có trận đấu đầu tiên tại đấu trường châu Âu khi vào sân thay cho Lars Christopher Vilsvik trong năm phút cuối trận đấu với Steaua Bucureşti, vòng sơ loại thứ hai của UEFA Champions League.
Trong trận đấu với Sandnes Ulf vào cuối tháng 7, anh góp công trong cả ba bàn thắng của Strømsgodset, ghi một bàn và kiến tạo một bàn. Anh còn đem về một quả phạt đền nhưng đồng đội anh lại đá hỏng. Sau trận đấu, truyền thông đã thảo luận về khả năng anh sẽ sớm có mặt tại đội tuyển Na Uy.
Ngày 15 tháng 8, anh lại một lần nữa trở thành tâm điểm với ba pha kiến tạo đem về chiến thắng 3-2 trước IK Start khi được bố trí đá ở cánh phải. Anh có cú đúp đầu tiên trong sự nghiệp trong chiến thắng 2-1 trước Lillestrøm SK ngày 19 tháng 10 năm 2014. Strømsgodset kết thúc mùa giải với vị trí thứ tư và giành quyền tham dự vòng sơ loại UEFA Europa League, cá nhân Ødegaard có được 5 bàn thắng và 7 pha kiến tạo sau 23 trận.
Real Madrid
Ngày 21 tháng 1 năm 2015, Real Madrid chính thức đạt được thỏa thuận chiêu mộ Ødegaard từ Strømsgodset với phí chuyển nhượng ước tính khoảng 3 triệu €. Trong buổi họp báo sau khi ký kết hợp đồng, Real Madrid tuyên bố Ødegaard sẽ tham gia tập luyện ở cả đội một và đội dự bị của Real là Real Madrid Castilla, nhưng sẽ thi đấu trước tiên cho đội dự bị, lúc này được dẫn dắt bởi Zinedine Zidane.
Đầu tháng 2 năm 2015, Real đã đưa tên Ødegaard vào danh sách dự vòng đấu loại trực tiếp đầu tiên tại UEFA Champions League 2014-15 với đối thủ Schalke 04.
Ngày 23 tháng 5 năm 2015, anh có trận đấu đầu tiên cho Real Madrid, khi vào sân ở phút thứ 58 thay cho Cristiano Ronaldo trong chiến thắng 7-3 lại La Liga trước Getafe. Anh chính thức trở thành cầu thủ trẻ nhất trong lịch sử của Real Madrid có trận ra mắt tại La Liga khi mới 16 tuổi và 157 ngày, đánh bại kỷ lục cũ đã tồn tại 31 năm của Sebastián Losada.
Vào ngày 25 tháng 1 năm 2020, anh có trận đấu đấu đầu tiên tại Champions League dưới màu áo của Real Marid trong chiến thắng 2–0 trên sân khách trước Inter Milan
2017–2020: Được mang đi cho mượn tại Hà Lan và Tây Ban Nha
Vào ngày 10 tháng 1 năm 2017,Ødegaard chính thức gia nhập câu lạc bộ SC Heerenveen theo dạng cho mượn trong vòng 18 tháng.Anh ra mắt Eredivisie bốn ngày sau đó trong chiến thắng 2–0 trên sân nhà trước ADO Den Haag.Anh ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ vào ngày 18 tháng 5 trong trận thua 3–1 trên sân nhà trước FC Utrecht
Vào ngày 21 tháng 8 năm 2018, Real Madrid thông báo rằng Ødegaard sẽ được cho mượn tại SBV Vitesse.Sau một mùa giải chơi tại đây,anh lại được mang đi cho mượn tại Real Sociedad.Vào ngày 25 tháng 8 năm 2019, anh ghi bàn thắng đầu tiên tại La Liga cho câu lạc bộ trong chiến thắng 1–0 trước Mallorca. Vào tháng 9 năm 2019, Ødegaard được trao danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất tháng của La Liga. Vào tháng 2 năm 2020,anh ghi bàn ở tứ kết Cúp Nhà vua Tây Ban Nha để loại chính Real Marid ,sau đó Real Sociedad lọt vào trận chung kết Cúp Nhà vua Tây Ban Nha nhưng trận đấu lại bị hoãn lại do đại dịch COVID-19 bùng phát ở Tây Ban Nha; họ cũng đủ điều kiện tham dự UEFA Europa League 2020–21 sau khi xếp thứ sáu tại La Liga và mùa giải là một mùa giải thành công đối với Ødegaard ở cấp độ cá nhân. Anh ấy đã bỏ lỡ giai đoạn cuối của mùa giải khi được chẩn đoán vào tháng 6 với bệnh viêm gân , một vấn đề cũng đã xảy ra vài tháng trước đó.
Arsenal
Vào ngày 27 tháng 1 năm 2021, Ødegaard gia nhập câu lạc bộ Premier League Arsenal theo dạng cho mượn đến cuối mùa giải.Ba ngày sau, anh ra mắt Premier League trong trận hòa 0–0 trên sân nhà trước Manchester United F.C. Vào ngày 18 tháng 2, Ødegaard đá trận đầu tiên tại Europa League cho Arsenal trong trận hòa 1-1 trên sân khách trước Benfica. Vào ngày 11 tháng 3, Ødegaard ghi bàn thắng đầu tiên cho Arsenal bằng một cú sút xa 20 mét trong chiến thắng 3–1 trên sân khách trước Olympiacos trong trận lượt đi vòng 16 đội của UEFA Europa League. Bàn thắng sau đó đã được bình chọn là Bàn thắng của tháng vào tháng 3 trên trang web chính thức của Arsenal.Vào ngày 14 tháng 3, Ødegaard ghi bàn thắng đầu tiên tại Premier League trong chiến thắng 2-1 trên sân nhà trước Tottenham. Nhờ màn trình diễn xuất sắc của anh ấy vào tháng 3 năm 2021, anh ấy sau đó đã được bầu chọn là Cầu thủ của tháng trên trang web chính thức của Arsenal.
Vào ngày 20 tháng 8 năm 2021, Arsenal đã thông báo việc ký hợp đồng vĩnh viễn với Ødegaard từ Real Madrid trong một hợp đồng trị giá 35 triệu euro với các tiện ích bổ sung tiềm năng tăng lên khoảng 40 triệu euro. Ødegaard đã ký hợp đồng bốn năm cho đến năm 2025 với câu lạc bộ có tùy chọn gia hạn thêm năm thứ năm. Anh ghi bàn thắng đầu tiên trong mùa giải bằng một quả đá phạt trong chiến thắng 1-0 trên sân khách trước Burnley.

Vào ngày 30 tháng 7 năm 2022, Ødegaard được công bố là đội trưởng mới của Arsenal.
Ngày 21 tháng 8 năm 2022, Ødegaard lập một cú đúp ngay trong 11 phút đầu trận, giúp Arsenal giành chiến thắng trên sân khách trước AFC Bournemouth. Vào ngày 12 tháng 11, trong trận đấu cuối cùng của Arsenal tại Ngoại hạng Anh trước khi giải đấu tạm hoãn để các cầu thủ chuẩn bị cho World Cup 2022, Ødegaard ghi cả hai bàn thắng vào lưới Wolverhampton Wanderers ngay trên sân Molineux, giúp Arsenal củng cố ngôi đầu bảng với khoảng cách 5 điểm so với đội bám đuổi.

Vào ngày 26 tháng 12, trong trận đấu đầu tiên của Arsenal sau World Cup, Ødegaard đóng góp hai đường kiến tạo giúp đội nhà lội ngược dòng thắng West Ham United với tỷ số 3–1. Phong độ xuất sắc này giúp Ødegaard nhận danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất tháng của Ngoại hạng Anh giai đoạn tháng 11/tháng 12 năm 2022. Anh cũng là cầu thủ Arsenal đầu tiên giành được giải thưởng này kể từ tháng 9 năm 2019. Đến ngày 15 tháng 1 năm 2023, cú sút xa thành bàn của anh ngay trong hiệp một đã giúp Pháo thủ hạ gục Tottenham Hotspur với tỷ số 2–0, đánh dấu chiến thắng đầu tiên của Arsenal trên sân khách trước kình địch này kể từ năm 2014. Ngày 13 tháng 3, anh được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Ngoại hạng Anh tại Lễ trao giải Bóng đá London 2023. Ngày 2 tháng 5, Ødegaard tiếp tục lập một cú đúp trong hiệp một vào lưới Chelsea, đưa đội bóng giành chiến thắng áp đảo 3–1. Khi mùa giải khép lại, Ødegaard được người hâm mộ bình chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải của Arsenal. Bên cạnh đó, anh cũng lọt vào danh sách đề cử cho các danh hiệu lớn bao gồm Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải Ngoại hạng Anh, Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất mùa giải Ngoại hạng Anh và Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FWA. Ngoài ra, anh cũng góp mặt trong Đội hình tiêu biểu của PFA.
Ngày 21 tháng 8 năm 2023, Ødegaard ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu trên chấm phạt đền giúp Arsenal hạ gục Crystal Palace trong trận sân khách đầu tiên của mùa giải mới. Đây là lần đầu tiên anh thực hiện một quả phạt đền trong một trận đấu thuộc giải quốc nội kể từ tháng 5 năm 2019. Đến ngày 20 tháng 9, anh có pha lập công đầu tiên tại đấu trường Champions League trong chiến thắng 4–0 trước PSV Eindhoven, đánh dấu sự trở lại của Arsenal tại giải đấu này kể từ năm 2017. Ngày 22 tháng 9, Ødegaard chính thức đặt bút ký vào bản hợp đồng dài hạn mới với Arsenal và chia sẻ rằng đây là "một quyết định thực sự dễ dàng" bởi anh "đã tìm được một nơi bản thân có thể hoàn toàn coi là nhà."
Ngày 11 tháng 2 năm 2024, trong chiến thắng hủy diệt 6–0 trên sân của West Ham United, Ødegaard đi vào lịch sử Ngoại hạng Anh khi trở thành cầu thủ đầu tiên kể từ mùa giải 2003–04 đạt thông số hơn 100 đường chuyền (107), tạo ra ít nhất 5 cơ hội (7 cơ hội) và có nhiều hơn 1 đường kiến tạo (2) trong cùng một trận đấu. Vào ngày 12 tháng 3, anh đóng vai trò hạt nhân giúp Arsenal vượt qua Porto với tổng tỷ số 1–1 sau hai lượt trận và thắng 4–2 trên loạt sút luân lưu. Chính anh là người kiến tạo bàn gỡ hòa cho Arsenal, góp công lớn đưa đội bóng lọt vào vòng tứ kết Champions League lần đầu tiên sau 14 năm. Ngày 23 tháng 4, Ødegaard tiếp tục tỏa sáng trong chiến thắng 5–0 trước Chelsea tại Emirates khi kiến tạo bàn thắng thứ ba và thứ năm, đồng thời trở thành cầu thủ Arsenal đầu tiên kể từ Mesut Özil tạo ra tới 8 cơ hội ăn bàn từ các tình huống bóng sống trong một trận đấu tại Ngoại hạng Anh. Anh kết thúc mùa giải với tư cách là cầu thủ tạo ra nhiều cơ hội từ bóng sống nhất tại Ngoại hạng Anh với 88 lần. Sau khi mùa bóng khép lại, Ødegaard có năm thứ hai liên tiếp được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải của Arsenal.

Vào ngày 28 tháng 9 năm 2025, Ødegaard tạo nên tầm ảnh hưởng lớn sau khi vào sân thay người ở cuối trận đấu gặp Newcastle United, giúp Arsenal giành chiến thắng 2–1 trên sân khách nhờ đường kiến tạo từ quả đá phạt góc cho Gabriel Magalhães ghi bàn quyết định ở phút 96. Ba ngày sau, vào ngày 1 tháng 10, anh in dấu giày vào cả hai bàn thắng giúp Arsenal đánh bại Olympiacos với tỷ số 2–0 tại UEFA Champions League. Ngày 27 tháng 12, Ødegaard tự mình lập công với một cú dứt điểm ngay rìa vòng cấm ở phút thứ 14, giúp Arsenal giành chiến thắng 2–1 trước Brighton trên sân nhà. Đến ngày 30 tháng 12, anh tung đường chọc khe dọn cỗ cho Martín Zubimendi ghi bàn trong chiến thắng đậm 4–1 trước Aston Villa. Ngày 3 tháng 1 năm 2026, anh góp công vào hai trong số ba bàn thắng của Arsenal trong chuyến làm khách tới sân Bournemouth, trong đó có một đường kiến tạo ở bàn thắng thứ hai. Ngày 31 tháng 1, anh tiếp tục có đường kiến tạo giúp ấn định chiến thắng 4–0 trước Leeds trên sân khách. Đến ngày 22 tháng 2, một đường dọn cỗ ở phút 94 của Ødegaard đã giúp Arsenal giành chiến thắng thứ tư liên tiếp trên sân khách trước kình địch Tottenham. Vào ngày hạ màn của mùa giải (24 tháng 5), Arsenal giành chiến thắng 2–1 trên sân của Crystal Palace, qua đó chính thức lên ngôi vô địch Ngoại hạng Anh. Với tư cách đội trưởng, Ødegaard đã nâng cao chiếc cúp vô địch Ngoại hạng Anh thứ tư trong lịch sử Arsenal, đồng thời là chức vô địch quốc gia Anh lần thứ 14 của câu lạc bộ.
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Các đội trẻ
Vào tháng 1 năm 2014, Ødegaard khoác áo đội tuyển U-17 Na Uy tham dự giải đấu giao hữu U-17 với U-17 Scotland, U-17 Mỹ và U-17 Pháp tại Thổ Nhĩ Kỳ.
Đến tháng 9 năm 2014, anh lại được gọi vào đội tuyển U-21 Na Uy cho trận đấu cuối cùng của vòng loại giải vô địch bóng đá U-21 châu Âu 2015. Anh thi đấu cả 90 phút trong trận thua 1-2 trước U-21 Bồ Đào Nha.
Đội tuyển quốc gia
Ngày 19 tháng 8 năm 2014, anh được đội tuyển Na Uy triệu tập cho trận giao hữu với Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất tại Stavanger và được ra sân vào ngày 27 tháng 8, trở thành cầu thủ trẻ nhất khoác áo đội tuyển Na Uy, ở 15 tuổi và 253 ngày. Kỷ lục trước đây thuộc về Tormod Kjellsen lập vào năm 1910 là 15 tuổi 351 ngày.
Ngày 30 tháng 9 năm 2014, Ødegaard được triệu tập tham dự vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2016 cho các trận đấu với Malta và Bulgaria. Anh vào sân ở phút 64 thay cho Mats Møller Dæhli trong trận thắng 2-1 của Na Uy trước Bulgaria, và chính thức trở thành cầu thủ trẻ nhất trong lịch sử tham dự một kỳ vòng loại Euro ở 15 tuổi 300 ngày. Thành tích của Ødegaard vượt xa so với kỷ lục cũ 16 tuổi 251 ngày do Sigurður Jónsson của Iceland lập tại vòng loại Euro 1984.
Vào ngày 29 tháng 3 năm 2015, Ødegaard trở thành cầu thủ trẻ nhất bắt đầu vòng loại Giải vô địch châu Âu khi mới 16 tuổi 101 ngày trong trận thua 5–1 trước Croatia. Vào ngày 8 tháng 6, anh ấy là người của trận đấu trong trận giao hữu 0–0 của Na Uy với đối thủ Thụy Điển ở Scandinavia ở Oslo. Sau khi Na Uy đứng thứ ba trong bảng tiêu chuẩn của họ, Ødegaard được điền tên vào đội hình của họ trong trận play-off với Hungary. Không được sử dụng trong trận lượt đi, anh ấy bị thay ra ở hiệp hai trong trận đấu thứ hai vào ngày 15 tháng 11, khi Na Uy thua 2-1 vào đêm và chung cuộc 3–1.
Sau 18 tháng không khoác áo ĐTQG, phong độ của Ødegaard cho Heerenveen đã giúp anh ấy được gọi lại vào đội tuyển Na Uy của Lars Lagerbäck và anh ấy đã có lần khoác áo thứ 10 trong trận gặp Macedonia vào tháng 11 năm 2017. Vào ngày 7 tháng 6 năm 2019, Ødegaard ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên vào lưới Romania trong một trận đấu vòng loại UEFA Euro 2020, kết thúc với tỷ số hòa 2–2.
Vào tháng 3 năm 2021, Ødegaard được tân huấn luyện viên Ståle Solbakken bổ nhiệm làm đội trưởng đội tuyển nam quốc gia.
Phong cách thi đấu
Ødegaard có điểm mạnh ở sự nhanh nhẹn trong xử lý bóng và nền tảng kỹ thuật xuất sắc. Huấn luyện viên David Nielsen của Strømsgodset khen ngợi anh "Cách cậu ấy thi đấu giống với những cầu thủ ngôi sao tại các CLB lớn, tương tự Messi hay David Silva." Báo chí Na Uy cũng so sánh anh với Lionel Messi với khả năng đi bóng với tốc độ cao, kỹ thuật cá nhân khéo léo và khả năng dứt điểm rất tốt. Đồng đội của anh tại đội tuyển Na Uy, Morten Gamst Pedersen, khen ngợi Ødegaard về khả năng đọc trận đấu và kỹ thuật cá nhân nhưng cũng nói Ødegaard cần thời gian để rèn luyện thể lực.
Cuộc sống cá nhân
Ødegaard là con trai của cựu cầu thủ Hans Erik Ødegaard, từng thi đấu cho Strømsgodset và Sandefjord Fotball ở vị trí tiền vệ và hiện là trợ lý huấn luyện viên tại Mjøndalen IF. Anh có một người anh là Kristoffer và hai người em gái là Emilie và Mari. Anh vẫn còn đang đi học khi bắt đầu thi đấu chính thức. Thần tượng của anh là Lionel Messi và anh là cổ động viên của đội bóng đá Anh Liverpool.
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
- Tính đến 30 tháng 5 năm 2026
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải đấu | Cúp quốc gia | Cúp liên đoàn | Châu Âu | Khác | Tổng cộng | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | ||
| Strømsgodset 3 | 2013 | Norwegian Fourth Division | 11 | 4 | — | — | — | — | 11 | 4 | ||||
| Strømsgodset 2 | 2013 | Norwegian Second Division | 2 | 0 | — | — | — | — | 2 | 0 | ||||
| 2014 | 3 | 1 | — | — | — | — | 3 | 1 | ||||||
| Tổng cộng | 5 | 1 | — | — | — | — | 5 | 1 | ||||||
| Strømsgodset | 2014 | Tippeligaen | 23 | 5 | 1 | 0 | — | 1 | 0 | — | 25 | 5 | ||
| Real Madrid Castilla | 2014–15 | Segunda División B | 11 | 1 | — | — | — | — | 11 | 1 | ||||
| 2015–16 | 34 | 1 | — | — | — | 4 | 0 | 38 | 1 | |||||
| 2016–17 | 13 | 3 | — | — | — | — | 13 | 3 | ||||||
| Tổng cộng | 58 | 5 | — | — | — | 4 | 0 | 62 | 5 | |||||
| Real Madrid | 2014–15 | La Liga | 1 | 0 | 0 | 0 | — | 0 | 0 | 0 | 0 | 1 | 0 | |
| 2016–17 | 0 | 0 | 1 | 0 | — | 0 | 0 | 0 | 0 | 1 | 0 | |||
| 2020–21 | 7 | 0 | 0 | 0 | — | 2 | 0 | 0 | 0 | 9 | 0 | |||
| Tổng cộng | 8 | 0 | 1 | 0 | — | 2 | 0 | 0 | 0 | 11 | 0 | |||
| Heerenveen (mượn) | 2016–17 | Eredivisie | 14 | 0 | 1 | 0 | — | — | 2 | 1 | 17 | 1 | ||
| 2017–18 | 24 | 2 | 2 | 0 | — | — | 0 | 0 | 26 | 2 | ||||
| Tổng cộng | 38 | 2 | 3 | 0 | — | — | 2 | 1 | 43 | 3 | ||||
| Vitesse (mượn) | 2018–19 | Eredivisie | 31 | 8 | 4 | 2 | — | — | 4 | 1 | 39 | 11 | ||
| Real Sociedad (mượn) | 2019–20 | La Liga | 31 | 4 | 5 | 3 | — | — | — | 36 | 7 | |||
| Arsenal (mượn) | 2020–21 | Premier League | 14 | 1 | — | — | 6 | 1 | — | 20 | 2 | |||
| Arsenal | 2021–22 | 36 | 7 | 1 | 0 | 3 | 0 | — | — | 40 | 7 | |||
| 2022–23 | 37 | 15 | 1 | 0 | 0 | 0 | 7 | 0 | — | 45 | 15 | |||
| 2023–24 | 35 | 8 | 1 | 0 | 2 | 1 | 9 | 2 | 1 | 0 | 48 | 11 | ||
| 2024–25 | 30 | 3 | 1 | 0 | 3 | 0 | 11 | 3 | — | 45 | 6 | |||
| 2025–26 | 24 | 1 | 2 | 0 | 2 | 0 | 8 | 0 | — | 36 | 1 | |||
| Tổng cộng | 176 | 35 | 6 | 0 | 10 | 1 | 41 | 6 | 1 | 0 | 234 | 42 | ||
| Tổng cộng sự nghiệp | 381 | 64 | 20 | 5 | 10 | 1 | 44 | 6 | 11 | 2 | 466 | 78 | ||
- ^ Bao gồm Norwegian Cup, Copa del Rey, KNVB Cup, FA Cup
- ^ Bao gồm EFL Cup
- ^ a b c d e Số lần ra sân tại UEFA Champions League
- ^ Số lần ra sân tại Segunda División B play-offs
- ^ a b Số lần ra sân tại Eredivisie play-offs giành vé dự cúp châu Âu
- ^ a b Số lần ra sân tại UEFA Europa League
- ^ Ra sân tại FA Community Shield
Đội tuyển quốc gia
- Tính đến ngày 8 tháng 6 năm 2026
| Đội tuyển quốc gia | Year | Trận | Bàn |
|---|---|---|---|
| Na Uy | 2014 | 3 | 0 |
| 2015 | 5 | 0 | |
| 2016 | 1 | 0 | |
| 2017 | 1 | 0 | |
| 2018 | 4 | 0 | |
| 2019 | 8 | 1 | |
| 2020 | 3 | 0 | |
| 2021 | 12 | 0 | |
| 2022 | 10 | 1 | |
| 2023 | 8 | 1 | |
| 2024 | 6 | 0 | |
| 2025 | 6 | 1 | |
| 2026 | 1 | 1 | |
| Tổng cộng | 68 | 5 | |
- Tính đến ngày 8 tháng 6 năm 2026
- Tỷ số và kết quả liệt kê số bàn thắng của Na Uy trước tiên, cột bàn thắng cho biết tỷ số sau mỗi bàn thắng của Ødegaard
| # | Ngày | Địa điểm | Trận | Đối thủ | Bàn thắng | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 7 tháng 6 năm 2019 | Sân vận động Ullevaal, Oslo, Na Uy | 17 | 2–0 | 2–2 | Vòng loại UEFA Euro 2020 | |
| 2 | 25 tháng 3 năm 2022 | 38 | 2–0 | 2–0 | Giao hữu | ||
| 3 | 12 tháng 9 năm 2023 | 53 | 2–0 | 2–1 | Vòng loại UEFA Euro 2024 | ||
| 4 | 9 tháng 9 năm 2025 | 67 | 5–0 | 11–1 | Vòng loại FIFA World Cup 2026 | ||
| 5 | 7 tháng 6 năm 2026 | Sân vận động Sports Illustrated, Harrison, Hoa Kỳ | 68 | 1–1 | 1–1 | Giao hữu |
Danh hiệu
Real Sociedad
Arsenal
Cá nhân
- Cầu thủ trẻ của năm Tippeligaen: 2014
- Ngôi sao đột phá của năm Idrettsgallaen: 2014
- Cầu thủ xuất sắc nhất tháng Eredivisie: April 2019
- Tài năng của tháng Eredivisie: May 2019
- Đội hình của năm Eredivisie: 2018–19
- Cầu thủ của năm Vitesse: 2018–19
- Cầu thủ xuất sắc nhất tháng La Liga: September 2019
- Gullballen: 2019
- UEFA La Liga Revelation Team of the Year: 2019–20
- Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải của Arsenal: 2022-23
Chú thích
Liên kết ngoài
Thống kê chỉ số